TIN TỨC

Muôn nỗi gần xa - dư âm & rung cảm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-08 20:57:14
mail facebook google pos stwis
2142 lượt xem

NGUYỄN VŨ TIỀM

Đây là tập thơ thứ hai của nhà thơ Trần Kim Dung. Tôi vẫn lưu giữ ấn tượng khó quên về tập thơ thứ nhất, đó là có 2 bài thơ được giải nhất trong hai cuộc thi thơ do Trung tâm Văn Hóa thuộc Sở Văn hóa Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Các cuộc thi được tổ chức vào khoảng những năm 2015 - 2018, nội dung theo các chủ đề khác nhau. Chúng tôi tham gia ban Giám khảo, đọc bài mà không biết của ai, đến khi Ban Tổ chức “khớp phách” mới biết người giải nhất kỳ này lại vẫn là “thủ khoa” của cuộc thi trước. Đành tôn trọng tính khách quan. Vậy là nhà thơ Trần Kim Dung nghiễm nhiên là Thủ khoa của hai cuộc thi thơ.

Ở tập thơ trước, “Bầu trời dưới đáy sông” (Tên của bài thơ được giải nhất) có nhiều bài về thời cuộc, xã hội, thì ở tập thơ này “Muôn nỗi gần xa” có nhiều bài về truyền thống, lịch sử, danh lam thắng cảnh, xã hội và gia đình, quê hương, nhà trường và bè bạn…

Về cội nguồn lịch sử tác giả đề cập đến nhiều đề tài rất phong phú. Một số bài có ấn tượng tốt. Trong bài “Yên Tử”, nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông trao ngôi báu cho con khi người còn rất trẻ để lên Yên Tử tu hành, bài thơ có đoạn:

        Đây Chùa Đồng, nơi giao thoa trời đất
        Khói hương hoa ngút ngát quyện mây trời
        Mái cong vén sương, vén mây, bay lên đỉnh núi
        Chuông khánh ngân dài nghiêng ngả khắp trùng khơi.

Không cần nói độ cao của Chùa Đồng mà chỉ viết: “Mái cong vén sương vén mây bay lên đỉnh núi” đủ biết mái chùa đã vượt qua nhiều tầng sương và mây ở lưng chừng núi để ngự ở trên đỉnh núi này, ta đã thấy chùa cao đến khó tưởng tượng. Ở độ cao này, mái chùa là nơi “giao thoa trời đất”. Những câu thơ thật hàm súc, sinh động và rất đẹp.               

Nói về cố đô Hoa Lư:           
        Bông cỏ lau như cờ hội rộn ràng

        náo nức đón dòng người

        thăm Cố Đô lịch sử

        Như những đội lính Vương Hầu, Cấm Quân

        trung thành nghìn năm canh giữ
        Nơi ba triều vua ngự trị sáng non sông

                                             (Hoa Lư)

Bông cỏ lau xưa kia từng làm cờ tập trận của Đinh Bộ Lĩnh thì nay là cờ hội vẫy chào đoàn người đến thăm cố đô Hoa Lư. Sự liên tưởng này cũng rất thơ.

Bài “Tháp Tường Long”, tác giả mở đầu khá bất ngờ:

        Tôi đếnTường Long khi tháp vừa tỉnh dậy

        Bóc tờ lịch Vạn Niên, mười thế kỷ qua rồi!

        Nghe tháp kể :

        - Vua Lý vừa qua đây ngự giá

        Bóng rồng vàng còn lấp lánh ngoài khơi...

Có sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại, vừa thực lại vừa ảo, từ đó bài thơ được triển khai khá sinh động, hấp dẫn.

Về thăm Thành Nhà Hồ, một công trình nổi tiếng được xây dựng bằng những khối đá lớn cách đây hơn sáu thế kỷ tại Vĩnh Lộc- Thanh Hóa, tác giả lại có những liên tưởng và suy nghĩ sâu sắc về những biến cố lớn trong lịch sử nước nhà vào đầu thế kỷ XV :
            Thành xây để giữ giang san
            Những mong cơ nghiệp huy hoàng vạn xuân
            Ngờ đâu xuân mới bẩy lần
            Thành Hồ thất thủ đứng dầm gió mưa !
            Vọng về câu của người xưa:
           “Không sợ đánh giặc, sợ dân hùa không theo”…

                                                  ( Trước Thành Nhà Hồ)

Về đề tài lịch sử, tập thơ còn có những bài thơ khác như: “Bãi cọc Cao Quỳ” (Thủy Nguyên - Hải Phòng);  “Phương Nam giỗ Tổ”, “Thăm Hoàng thành Thăng Long”, “Vân Đồn”,  “Khiêm Lăng”, “Qua cầu Bạch Đằng”… gần đây hơn có “Tấm bản đồ đảo nhỏ”, “Bến tàu Không Số” …Mỗi bài thơ là một sự liên tưởng phong phú, một bức tranh sinh động với những cảm xúc và suy nghĩ sâu xa bằng những câu thơ hay, những hình ảnh thật đẹp.

       

Nhà thơ rất chịu khó đi và chị có nhiều thơ kỷ niệm viết về danh lam thắng cảnh của đất nước với cái nhìn và những cảm xúc mới mẻ trước con người và cảnh vật :

        Cô gái Dao gùi sương xuống chợ

        Mộc nhĩ, nấm hương, hạt dẻ, măng rừng

        Cô gái Nùng gánh cả nương ngô nếp

        Trám chín, “ thịt bò gác bếp”,  mật ong...

                                      (Lên Bản Giốc)

Cô gái Dao thường ở lưng chừng núi cao đầy mây và gió phải “gùi sương xuống chợ”, cô gái Nùng nơi thung xanh thì có  thể “gánh cả nương ngô nếp”, trám rừng.

Và : 

         Cô gái H’Mông gùi mây bước nhanh

         Gùi cả những con đường mấp mô dốc đá

         Nặng trĩu sơn tra, rau đắng, măng rừng…

                                        (Tháng Chín vùng cao)

Những hình ảnh vừa thực, vừa ảo làm cho câu thơ lung linh và đa nghĩa, có tầm khái quát cao. Chất nghệ thuật khá đậm nét.

Đến bờ biển Phú Yên nhà thơ lại có liên tưởng thú vị:

           Tiệc triệu năm đã qua rồi

           Chỉ còn lưu niệm cho trời biển xanh

           Ai đem đĩa xếp nên ghềnh

           Chơi vơi mây gió, dập dềnh sóng xô?

                                              (Gành Đá Đĩa)

Thì ra sau những bữa tiệc linh đình của trời đất, những chồng đĩa được xếp lên thành gành đá. Hiện thực và lãng mạn lồng vào nhau tạo nên những câu thơ rất sinh động và ấn tượng. Nhân đây lại nhớ bài “Bầu trời dưới đáy sông” in ở tập thơ trước của Trần Kim Dung. Bài thơ viết về con đường hầm dìm sâu dưới đáy sông Sài Gòn, nối quận Nhất với Thủ Thiêm - quận Hai của Thành phố Hồ Chí Minh. Đi trong đường hầm mà tác giả tưởng tượng như đi trong bầu trời dưới đáy sông. Dàn đèn trên đỉnh đường hầm giống như dải Ngân Hà mà bên trên kia nữa lại là dòng sông Sài Gòn có cá tôm bơi lượn, tàu thuyền qua lại nhộn nhịp đêm ngày :

              Tôi đi trong dải Ngân Hà

               Lung linh sáng, lại ngân nga cung đàn

               Trên kia sông nước ngập tràn

              Cá tôm bơi lượn, tàu ngàn tấn qua

Và:
                Tôi đi dưới vạn sao mai

                 Ngỡ huyền thoại, ngỡ trăng cài đáy sông… 

Sức tưởng tượng của nhà thơ là vô hạn, đó là đặc điểm quan trọng nhất trong sáng tạo nghệ thuật. Bài thơ đã đoạt giải Nhất với số phiếu tuyệt đối.   

Đến Chùa Trấn Quốc Hà Nội, ngôi chùa được báo chí nước ngoài xếp hạng là một trong những ngôi chùa đẹp nhất thế giới, chị viết:

        Ngày lại ngày
        những dòng người qua nơi đây

        cửa từ bi thì thầm chia sẻ

        Tôi mang về trong hành trang nhỏ bé

        bài thơ thiền “Nghìn mắt – nghìn tay”.

                              (Đọc thơ ở chùa Trấn Quốc)

Đến chùa Trấn Quốc, bất chợt bên lối vào, được đọc trên tấm pano lớn bài thơ “Nghìn mắt – nghìn tay” khiến nhà thơ xúc động viết được bài thơ hay với nhiều câu thơ đẹp và nội dung ý nghĩa rất sâu sắc.

Về danh lam thắng cảnh và xã hội nhà thơ còn có những bài khác:  “Chiếc lá trên sông”, “Đền Angkor”, “Chuồn chuồn”, “Giấc mơ Tiên”, “Về miền biên ải”... cũng giới thiệu được nhiều danh thắng trong và ngoài nước với những cảm xúc, suy nghĩ sâu xa về cuộc sống xã hội, về những thân phận bằng những câu thơ hay và hình ảnh đẹp.

Qua những bài thơ về đề tài lịch sử và thắng cảnh, tôi thấy nhà thơ Trần Kim Dung dẫu chỉ là khách du lịch, dừng chân không lâu nhưng chị không viết theo lối “cưỡi ngựa xem hoa” mà viết rất kỹ càng, nhiều chi tiết có chiều sâu, chứng tỏ khi đến mỗi nơi, chị đều có cách nhìn và suy nghĩ sâu sắc, tham khảo thêm nhiều tài liệu để viết nên những bài thơ rất phong phú về tư liệu, có tầm khái quát và sáng tạo trong nghệ thuật. Đây là ưu điểm lớn khiến cho tập thơ hấp dẫn, cung cấp cho người đọc những nội dung bổ ích, bài thơ nào đọc lên cũng đều có dư âm và rung cảm sâu xa.

Viết về gia đình, người thân, Trần Kim Dung có những bài chân thực và xúc động về cha mẹ, anh chị em, con cháu…

        Nhớ xưa cha mẹ gánh gồng
        Cho con “chạy loạn” ra vùng “ hậu phương”
        Làng Nôm súng nổ mờ sương
        Sông Đáy rực lửa, khói vương Thành Hồ
        Con đường thiên lý xa mờ
        Dấu chân cha mẹ bây giờ còn nguyên...

                                             (Mẹ tôi)

Cha mẹ đã khuất cả rồi, tác giả vẫn cảm thấy “Dấu chân cha mẹ bây giờ còn nguyên” là sự tưởng tượng tưởng như phi lý mà rất hợp lý. Đó là tình cảm của người con nhớ đến công lao vất vả của bậc sinh thành, những kỷ niệm khắc sâu trong lòng con cái không thể phai mờ.

Trong bài “Gửi chị tôi”, nhớ thương anh trai đã khuất, tác giả khéo đưa vào yếu tố thời sự, đó là dịch Covid 19 với biến chủng Delta rất nguy hiểm, bao trùm khắp thế giới:

        Giỗ anh Cả sau ba mùa sen nở
        Em cũng không có mặt một ngày
        Chắc anh không giận, vì biết Delta hung dữ
        Phá điêu tàn cả thế giới Đông Tây

Về việc anh cả ra đi, rất đau buồn, nhưngTrần Kim Dung có cái nhìn minh triết trên cơ sở quy luật cuộc sống:

        Dời cõi tạm, thoát khổ đau bon chen

        Anh thanh thản về miền xanh thẳm

        Gặp lại em trai, cha mẹ, ông bà
                                      (Tiễn Anh Cả)

Đó là quy luật “sinh – lão – bệnh – tử” mà ai cũng phải trải qua. Câu thơ đau xót mà vẫn điềm tĩnh nhẹ nhàng tỉnh táo.

Viết về gia đình và những người thân, Trần Kim Dung còn có những bài tặng riêng cho các con và các cháu rất cảm động :
          Con đã vượt qua những mùa đông
          và tháng ngày rau mắm
          Một hạt cơm cõng chín hạt mạch, mỳ
          Phiếu đường sữa không đủ ăn nửa tháng
          Con cố lớn dần để biết lẫy biết đi…

                                          (Nhớ mùa giáng sinh)

Cảm thông với các cháu đi học vất vả, xa nhà lại gặp thiên tai, dịch bệnh:
            Hai năm con chưa được về
            Hai lần cầm vé, tưởng về, lại không

                                        (Gửi cháu Tú Anh)

 Và:      Đã gặp bão tuyết bờ Đông
             Đã nghe lửa dữ thiêu rừng Úc xanh

                                          (Chúc mừng cháu trai)

Hoặc:
             Theo hai ông mặt trời

             Đêm nào cũng nghe giảng

             Nhiều đêm chưa xong bài

             Đã nghe gà gáy sáng
                                        (Hai ông mặt trời)
Bài nào cũng có những hình ảnh, chi tiết rất thực nhưng rất sinh động, tránh được chung chung khiến cho người trong cuộc chắc sẽ cảm động, còn người ngoài cuộc đọc lên cũng thấy thú vị. Viết về cái riêng mà diễn tả được như thế không phải dễ chút nào. Tập thơ còn mở rộng ra nhiều đề tài khác như tình cảm đối với mái trường, thầy cô, bè bạn… đó là những đề tài gần gũi, thiết thực.

Điều này cũng hợp với lẽ đời, khi người ta đã qua nhiều trải nghiệm, đến tuổi “xưa nay hiếm” thường là hướng về nguồn cội, những nơi, những người thân thương gần gũi nhất. Lẽ đời, lẽ vô thường là điều tâm đắc nhất. Trần Kim Dung chắc cũng vậy. Lại nhớ câu thơ của Lão Tử trong “Đạo đức kinh”: “Người ta thấm thoắt trên đời được bao”. Lúc này mọi chuyện thế cuộc đua chen kể cả nguyên tử, hạt nhân, tên lửa đạn đạo, siêu thanh ở đâu đó cũng trở nên phù phiếm, nhiều khi vô nghĩa. Chỉ có tình yêu thương mới bảo vệ và cứu rỗi cuộc sống được mà thôi.

Ngoài những ưu điểm trên, so với tập thơ trước, tập thơ này tác giả đã thể hiện được sự lao động nghệ thuật nghiêm cẩn hơn. Chân thực nhưng không có nghĩa là “ quá thật thà ”,  mà trong nhiều bài đã có sự kết hợp thực và ảo, lãng mạn và hiện thực lồng với nhau rất sáng tạo. Nhiều kết hợp từ mới mẻ tạo nên vừa giầu chất thơ vừa chân thực, vừa ảo diệu:
Viết về miền biên giới phía Bắc:                        
             Nơi tôi đến

             núi chồng núi

             giữa lưng chừng mây gió

             Rừng bay lên

             theo Thác Bạc , Cổng Trời

             Lúa chồng lúa

             thành bậc thang huyền diệu
             Đào mận rộn ràng tựa chốn Bồng Lai

                                                   (Về miền biên ải )
Viết về những hàng cây phượng vỹ bên hai bờ sông Lấp vào mùa hoa nở rất sống động :

             Làn môi đỏ thắm bên sông
             Tóc xanh em thả nghiêng dòng nước mây…

Và cảnh thiên nhiên nơi biển đảo Cát Bà cũng rất hấp dẫn:
              Thuyền ai thả lưới vây quanh
              Mà Hòn Rùa vẫn ngâm mình ngủ say?
              Ai về Đảo Khỉ chiều nay
              Mà xem đàn voọc đu mây ngắm trời…

                                                       (Cát Bà)
 

Nhiều câu thơ khác trong các bài: “Yên Tử”, “Hoa Lư”, “Chuồn chuồn”, “Lên Bản Giốc”, “Rừng Cúc Phương”… và nhiều bài khác nữa đều đã thể hiện điều đó.

Đọc xong tập thơ “Muôn nỗi gần xa”, gấp sách lại, những dư âm và rung cảm về tính chân thực gần gũi như vẫn còn đâu đây, ngân vang mãi mãi.
 

N.V.T
TP HCM - Tháng 01- 2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm
Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng
Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.
Xem thêm