TIN TỨC

Nàng xuân trong thơ Minh Đan

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-02 16:28:13
mail facebook google pos stwis
2041 lượt xem

HÀN QUỐC VŨ

Là một gương mặt thơ nữ có nhiều sáng tác ấn tượng về đề tài thế sự, Minh Đan còn xác lập cho mình một giọng thơ trữ tình cá tính, khó lẫn giữa vườn xuân đa sắc đa hương…


Nhà thơ Minh Đan


1.Nhiều thi ảnh độc đáo hiện lên trong thơ Minh Đan rất thật và đậm chất ái tình khi đối diện với tình yêu và cuộc sống.

Với "Thắp Mặt Trời Xuân", thơ Minh Đan lạ, đặc sắc và cái tựa bài cũng lạ. Nhịp đập mùa xuân chuyển mình từ “đường cong” rồi lại “đầm đìa” trong trạng thái “rêu ngủ”.  

“Đường cong cong đầm đìa rêu ngủ

Phố lạnh

Xé toạc ngày rủi may...”

Cứ ngỡ “phố lạnh” sẽ nhấn chìm mọi rung cảm của thời gian, không gian. Nhưng không, nàng kiêu hãnh “xé toạc rủi may” để thỏa mãn tình yêu chính mình và hưởng thụ sự giao thoa của đất trời; để rồi hiên ngang đi giữa tiết xuân, thềm hoa của nàng tự tin trổ lộc: 

“Hoa mở lối

Sương sương non ngủ quên giấc mơ

Xuân

Những lá cuộn vào nhau

Không thoả hiệp với mùa đông”

Sự mạnh mẽ khiến chúng ta nhận ra cái động cơ mà hoa phải “mở lối”, xuân đã dậy thì và xuân vào kết đôi khiêu vũ bằng hành động “cuộn vào nhau”. Ở đây, chúng ta thấy rằng sự khẳng định em là mùa xuân chứ chẳng phải là đông lạnh lùng tê tái, co ro như thuyền độc mộc tại một dòng sông băng.

Nhưng sang đoạn cuối, tác giả, sự trỗi dậy của một vì sao ái tình, bản thể, hãnh diện trưng ra “con gái – mỹ nữ” của nàng:  

“Đường đường cong 

Em - con gái

Thắp mặt trời

Không hư ảo

Không chông chênh”

Mạch xuân thì tiếp tục được Minh Đan phơi tỏ trong bài thơ "Không Thể Đặt Vòng" mô tả thiên đường - nơi quí đàn ông thực sự mê đắm. Và chính hai báu vật nam - nữ này sinh ra nhân loại, bảo tồn vũ trụ chúng ta.

“Mặt trời đóng lên đỉnh đầu những hạt nắng hạt mưa vô thường vô ngã

Toà nhà trọc tóc giáng xuống phố xinh những bóng chim khi tỏ khi mờ

Mùa xuân in dấu chấm đỏ lên ngực em thẫn thờ

Hành khất lời yêu cháy bỏng

 

Anh đến...

Tia chớp đầu hàng hạ giọng

Sương sớm chưa kịp ngước nhìn

Cây cỏ còn nguyên nét thư sinh

Những môi anh đào bẽn lẽn

Chiếc cúc áo len lén

Bờ đá say sưa con nước rần rần

Chảy đi những lời nguyền từng làm ai bật khóc một lần

Cho ngày gọi tên hạnh phúc

Em đàn bà từ anh – thường trực

Những khát khao không thể đặt vòng”

Từ và tứ như bức tranh thuỷ mặc mà hoạ sĩ đã vẽ nàng tiên ôm hoa đào với chiếc áo dài hồng tha thướt, như hai dòng sông bung lụa. Ô hay, lúc này “anh đến” thì sự kỳ vĩ của “tia chớp”, “sương sớm”, “cây cỏ”… tất cả bỗng yếu mềm, ngẩn ngơ, hạ mình, vì em thực sự rất đẹp, rất đàn bà thục nữ, em có quyền làm điều đó! Bởi thế, “chiếc cúc” của em và anh cũng dần bật ra đắm chìm trong suối tình ca vẫy gọi róc rách, nước là rượu chảy không thôi. Anh đến như muôn vật phải chịu khuất phục trước dáng hình em tuyệt mỹ để rồi tiếng đàn ái ân cứ dợn mênh mông như tứ hải trập trùng.

Và rồi men mùa xuân tiếp diễn trong lời rủ rê ngọt lịm:

“Về đi anh

Đánh thức que diêm đỏ lửa trong em

Đỏng đảnh nằm ngoài mép cửa

 

Về đi anh

Nụ xuân tràn nhựa

Én rợp trời Nam khâu múi nhớ 

 

Về đi anh

Mùi… ủ… chua… mời!”.

(Về Đi Anh)  

Mùa ái ân vẫy gọi. Em sẽ dịu dàng, sẵn sàng, đỏng đảnh, nhõng nhẽo như một con mèo ngoan quanh co ngoài mép cửa, và mùa xuân tràn nhựa từ đây. Anh về, anh về, anh về là chim én, là nụ xuân, là khâu múi nhớ, là men ủ chua của vị đàn bà mời gọi hiến dâng.
 

2. Nhưng sang giọng thơ cũng mùa xuân trong hy vọng sống còn của nhân loại với bài thơ "Thức Tỉnh", Minh Đan dường như nhận ra sự thật trần trụi của lòng người, tình đời khi thế giới trải qua cơn đại dịch Covid-19 gây ra bao đau thương, mất mát, chia lìa. Tác giả thức tỉnh bản thân, nhưng lại cảm thông với thế giới con người. Chị lo lắng, chiến đấu, giục giã lương tri để yêu thương tha nhân nhiều hơn.

Minh Đan viết:

“Thế giới không ngừng lo lắng về Cô vy

Loài người không ngừng chiến đấu vì Cô vy

Tôi không ngừng thức tỉnh chính mình”

Chị cũng nhận ra một chân lý:

“Trong sáng quá!

Không đuổi kịp lưu manh đang chế ngự

Đành ngụp lặn vào... thơ

An nhiên làm một kẻ khờ” 

 

Là một cách buông bỏ những điều xấu xa, bạc ác để tìm chính mình: 

“Ước mình là loài chim chóc

Thư thả chuyền cành, tắm nắng lượn vui

Tự do hát lời tỏ tình bên cánh hoa xinh

Không gợn nỗi niềm nhân thế

Không lo dịch giã, cách ly

Không buồn ai còn ai mất

Cứ sải cánh bay bay bay 

 

Ước mình là viên đá cuội

Thanh thản ngồi tĩnh lặng ngắm trời cao

Mở lòng vào cõi hư vô

Nghe thông reo, suối chảy dỗ yên ánh sáng

Thỏa một đời đá thức 

 

Lại ước thời gian ngừng trôi

Xuân không mang lộc non đếm tuổi

Nếp nhăn chẳng lấy cớ sinh sôi

Tóc chẳng buồn điểm thêm sợi bạc” 

Chị rất tuyệt vời khi là “chim”, cứ sải cánh, quên đau thương, dịch lệ, chết chóc. Ở chỗ khác, chị là “viên đá cuội” để thông cảm với kiếp người, thật sự thư thả, an nhàn, tĩnh lặng và thoả mãn cái kiếp làm “đá thức”, tức là làm một người thanh bạch. Nhưng cái chị không thể ước được dù có ước là “thời gian”, vì nó không bao giờ trở lại, phải nhớ rằng nó như là vó ngựa của hằng nghìn tỉ con ngựa chạy qua! 

Và điều chị chiêm nghiệm sâu sắc lay tỉnh sự thiện lương trong mỗi con người:

“Điều ước bao giờ hóa thật

Khi lòng người đầy túi tham?”  

Về nghệ thuật, thơ của Minh Đan dùng từ sắc bén, có bước chuyển động mạnh mẽ, thách thức và cởi mở. Thơ hay ở chỗ từ-tứ-tư. Và cái đẹp trong thơ Minh Đan như bức tranh mùa xuân nhiều màu sắc, cuốn hút.  

Mùa xuân sẽ ở với những ai có tấm lòng ấm áp, tình yêu sẽ quấn quýt bên ai có sức hút của sự yêu thương. Chính điều đó đã khiến cho những vần thơ Minh Đan quyến rũ và đầy nhân bản.  

 (Theo Tạp chí Sở hữu trí tuệ & Sáng tạo)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm