TIN TỨC

Ngôn ngữ văn xuôi của nhà văn Nguyên Ngọc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-02-17 22:37:34
mail facebook google pos stwis
3079 lượt xem

 

Nguyễn Văn Ngọc

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Ngôn ngữ văn xuôi của nhà văn Nguyên Ngọc mang đậm hơi thở cuộc sống, con người. Những điểm nút của lịch sử, bước ngoặt của lịch sử, Nguyên Ngọc nói được bằng sự rung cảm mãnh liệt của mình về sự thần diệu đó. Văn mạch Nguyên Ngọc cuốn hút hấp dẫn, bằng sức trẻ trung của tâm hồn dân tộc, truyền cảm và lắng lại dư vị của những lời văn thấm đượm chất hịch, thôi thúc giục giã – một thứ văn hịch hiện đại hào sảng.


Nhà văn Nguyên Ngọc

Lời văn của Nguyên Ngọc là lời văn trang trọng, hào hùng. Nhà văn đã dùng từ ngữ trang trọng nhất để miêu tả người anh hùng. Ngược về thuở xưa trong sử thi cổ điển, phần lớn câu chuyện được thể hiện thông qua lời kể của nghệ nhân sử thi. Ngôn ngữ của người kể chuyện trong văn xuôi Nguyên Ngọc viết về chiến tranh mang âm hưởng sôi nổi hào hùng. Hình ảnh cụ Mết, anh Thú trong tác phẩm Rừng xà nu: “Anh nhìn cụ Mết ánh lửa chập chờn soi hình ông cụ làm cho thân hình vạm vỡ trông kỳ ảo như một người anh hùng trong các bài hát thâu đêm”. Hào hùng, trang trọng trong các cử chỉ lời nói: “Cụ Mết chống giáo xuống sân nhà, tiếng nói vang ra: Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, đàn bà mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dao, một cây rựa. Ai không có thì vót chông năm trăm cây chông. Đốt lửa lên! Tiếng chiêng nổi lên… Đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn suốt đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động. Và lan cháy khắp rừng…”. ( Rừng xà nu)

Giọng kể hào hùng của cụ Mết: “Tiếng cụ Mết vang vọng, như dội lại từ cái đêm xa xôi ấy. Cũng như đêm nay đây. Cũng trong nhà này đây, quanh cái bếp này đây, trời cũng mưa nhỏ lấm tấm như thế này. Tôi ngồi chỗ này, đúng chỗ này. Thằng Thú chỗ này còn con Mai thì ngồi đây, chỗ con Dít ngồi bây giờ… Phải không, Thú? Phải rồi! tất cả y hệt như thế này. Cũng mưa lấm tấm đều trên lá vả, cũng lửa xà nu cháy dần dậ , cũng máng nước đầu làng lách tách trong đêm khuya. Dân làng tụ tập tất cả ở đây để mừng Thú thoát từ Kon Tum trở về. Mai cũng ngồi trước mặt Thú như vậy đấy, cũng đôi mắt có hai hàng lông mày rậm đến che tới tròng đen long lanh, và đôi mắt đó ít trang điểm hơn, chất chứa nhiều yêu thương hơn, nhưng cũng thơm như vậy. Cững rắn như vậy đó. Và lúc đó cụ Mết không kể chuyện như bây giờ. Cụ chỉ nói: “Mai, đưa cái giấy của anh Quyết đây – Thú đọc lên cho cả làng nghe”.

Khi viết tác phẩm đầu tay Đất nước đứng lên, Nguyên Ngọc đã sử dụng rất thành công ngôn ngữ sử thi thông qua nhiều yếu tố, trong đó nổi bật ngôn ngữ hào hùng của người kể chuyện: “Boksung chậm rãi nói: Có nghe rõ không?… Đó là tiếng nước suối Thi-om chảy về nước con sông Ba. Nước sông Ba chảy qua làng ông Tú, rồi còn chảy xa nữa. Chảy miết xuống đến chõ rẫy của người Kinh, rồi chảy ra một con sông rất lớn, không có bờ, người Kinh gọi là biển…

Lũ thanh niên ngồi nghe Boksung kể chuyện, tưởng như thấy rõ ràng ông Tú trước mắt rồi. Ông Tú người to lớn, râu lưa thưa, con mắt ướt át mà ngó thẳng, trên khố dắt một cây gươm dài. Đất nước mình, Ba- na, Ê- đê, Kinh, Sê đông… Không có cái gươm như ông Tú. Cái gươm đó không phải là gượm thường, dó là một cái gươm giàng. Có cái gươm đó, không ai dám tới đất nước, bắt người mình đi xâu, nộp thuế. Tự do đi làm rẫy, tự do đi bắt cá dưới suối, đi săn con thú trên rừng, ăn no, mặc đẹp, đánh chiêng, thổi kèn, bao nhiêu tre lồ ồ trong núi dồn về làm đàn Tơ rưng, mùa lúa mới đánh đờn vui chơi cho hết một ông trăng… Cũng có một lần Pháp tới kêu người Ba –na đi xâu. Ông Tú đem gươm ra đánh, Pháp thua chạy hết cả… Nhưng có một bữa, trời mưa to gió lớn, sấm sét. Nước sông Ba to lên, chút nữa ngập hết rẫy làng. Ông Tú đem gươm ra múa, đánh mưa gió, cứu dân. Mưa gió phải chịu thua. Nhưng ông Tú múa mạnh quá, rớt mất cái rữa xuống sông Ba, chỉ còn cái cán cầm trong tay. Nước sông Ba chảy, trôi lưỡi gươm về dưới xuôi, người Kinh lấy được. Người Kinh giữ cái lưỡi, người Thượng giữ cái cán, hai người ở xa nhau, Pháp tới không có cái gì đánh nên thua. Pháp lấy được đất nước mình, bắt mình phải đi xâu, nộp thuế”.

Cảm hứng sử thi của Nguyên Ngọc là cảm hứng rất hoành tráng, vì vậy lời văn giàu âm hưởng khi vang vọng, khi thiết tha, thiên nhiên và con người đậm đà vóc dáng sử thi. Âm hưởng chủ đạo của sử thi Tây Nguyên hướng về nhân vật anh hùng. Không phải anh hùng cá nhân, mà nhân vật đó đại diện cho khát vọng cộng đồng trong giai đoạn lịch sử đó. Với Nguyên Ngọc dấu ấn đầu tiên trong cuộc đời và cũng là trang văn xuôi đầu tiên của đời chiến sĩ – đời văn Nguyên Ngọc bắt đầu từ Tây Nguyên. Tây Nguyên là mảng hiện thực đã góp phần làm nên phần hay nhất trong văn xuôi Nguyên Ngọc. Nhà văn Nguyên Ngọc tâm sự về ảnh hưởng sâu đậm của hệ thống ngôn ngữ trong văn hóa Tây Nguyên khi viết Đất nước đứng lên:

“… Tôi nghĩ rằng chính nền văn hóa mà tôi có hạnh phúc được thấm đẫm đã tạo cho tôi hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật ấy, gần như là một cách tự nhiên trực giác vậy (….). Sự hòa quyện may mắn ấy đã tạo thành một hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật riêng vừa cũ vừa mới, vừa có thể thô sơ tự nhiên mà không đến nỗi cách xa với cái hiện đại. Tôi nghĩ rằng sở dĩ câu chuyện về anh Núp của tôi đến được với tâm hồn người đọc là vì nó đã được kể, hay dung hơn nó vận động trong hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật đó”. (Đôi điều nói thêm về Đất nước đứng lên).

Lời văn của Nguyên Ngọc giàu yếu tố so sánh, liên tưởng. So sánh trong văn xuôi Nguyên Ngọc thường hướng tới sự kỳ vĩ, hoành tráng, đậm đà tính sử thi. Trong tiểu thuyết Đất nước đứng lên, nhà văn miêu tả quá trình cách mạng của đồng bào Tây Nguyên: “Cách mạnh như một cơn gió lớn, thổi tới tấp tràn lan khắp cả Tây Nguyên bao la. Qua bao nhiêu ngọn núi, qua bao nhiêu con sông, hàng chục dân tộc đang không có con đường đi, đứng dậy một loạt, tưng bừng chào đón cách mạng như chào đón mặt trời”. Khi miêu tả sự vật, Nguyên Ngọc so sánh: “Núi Tơ-Ngo, cách làng Koong Hoa một buổi đường. Sương buổi sáng không chịu tan, giống như một con gấu trắng rất lớn, cứ bò qua, bò lại trên núi”. So sánh với con người, Nguyên Ngọc viết: “Nhưng Ghíp đã qua, như con sóc nhảy trên cây, Ghíp chạy vùn vụt trong rừng, đầu tóc quăn thoáng qua thoáng lại trong lá cây như cái đuôi một con sóc”. Đến vùng rẻo cao Hà Giang, Nguyên Ngọc viết về những con người ở đó với một vẻ đẹp bình dị: “Cái lưng nó đã rộng bè và hơi cong lại như một con thú rừng sắp vồ mồi. Tóc nó đen và dài. Và cắp mắt nó thì đích thực là cặp mắt của một người mù thật sự, xếch lên một chút, sáng như hai đốm lửa trong rừng khuya và sâu đến nao lòng những cô gái nào vô tình nhìn vào đấy”. (Rẻo cao)

Trùng điệp, một đặc điểm quan trọng trong nghệ thuật kể chuyện của sử thi xưa. Người kể chuyện phải thường xuyên lặp lại những chi tiết quan trọng. Yếu tố trùng điệp trong văn xuôi Nguyên Ngọc góp phần làm nên âm hưởng hùng tráng, tạo ấn tượng mạnh mẽ. Đặc điểm trùng điệp biểu hiện dưới nhiều dạng thức. Có khi lặp lại một hình ảnh đặc sắc của thiên nhiên. Và lúc đó thiên nhiên trở thành một dụng ý nghệ thuật, mang ý tượng trưng. Có khi là sự lặp lại những chi tiết của một câu chuyện huyền thoại. Ngòi bút của Nguyên Ngọc có sự chắt lọc, chọn lựa trong quá trình mô tả hiện thực. Sớm phát hiện ra vấn đề, bản chất của hiện thực được trình bày qua những nghệ thuật độc đáo. Thường thì sự trùng lặp trong chi tiết, tựu trung vẫn là cảnh thiên nhiên. Thiên nhiên trong đặc tính trùng điệp của sử thi xưa kia. Kể cả những trang kí viết sau này như Cát cháy, Nguyên Ngọc vẫn vẫn tiếp tục văn mạch có hàm chứa yếu tố trùng điệp đậm đà sử thi.

Câu văn Nguyên Ngọc nhiều mệnh đề, thường dài, thỉnh thoảng lại xuất hiện những câu rất ngắn. Men theo mạch tự sự, sự cuốn hút ma lực của cảm xúc, câu văn kéo dài, cứ như dồn nén cảm xúc đến tận cùng: “Điện Bàn đã nói với tôi những gì? Những đau thương đã cày xé đất và người ở đây ư? Không đâu, Điện Bàn nói với tôi những điều lớn sâu hơn nhiều: Trên mảnh đất ấy đang tích tụ lại với tốc độ và một khối lượng còn khẩn trương và to lớn hơn gấp nhiều lần tốc độ và khối lượng tội ác chồng chất của kẻ thù, đang ráo riết tích tụ lại những nhân tố ghê gớm và trẻ trung của một cơn bão mới. Một cánh chim báo bão đã lượn vòng ngày càng siết lại trên bầu trời tích đầy điện ấy”. Có những truyện, bút ký, Nguyên Ngọc viết đến hai lần về một nhân vật có thật là Thào Thị Mỹ (tên trong truyện là Vàng Thị Mỹ). Lần đầu là truyện Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng, lần sau là ký Trở lại Mèo Vạc. Cái mạch nguồn tình cảm ấy, thủy chung son sắt, lần sau son sắt, lần sau mạnh mẽ, đằm thắm hơn, câu văn dàn trải khi miêu tả nhân vật: “Tôi chưa thấy người đàn bà nào có thể đi qua 30 năm dằng dặc đau khổ trầm luân tưởng chừng nhẹ tênh đến vậy. Vẫn đôi mắt xanh nâu đắm đuối ấy, có bình tĩnh và chín chắn hơn, đương nhiên, những ngọn lửa khát khao chừng không thể, không hề tắt. Vẫn gọn gàng nhanh nhẹn rắn chắc, có lẽ vẫn hệt ngày xưa, những ngày leo lên công tác Thào Trứ Lũng, Cán Trứ Phìn chót vót, Thào Mỹ đi trước, tôi theo sau, thấy chiếc váy lanh óng ánh của chị đong đưa theo nhịp bước và đôi bắp chân Mỹ nõn nà như hai cái ức trắng của đôi chỉm rừng lướt đi trong có đá”.

Ngoài yếu tố cảm xúc, trong văn xuôi Nguyên Ngọc có những yếu tố khác góp phần làm cho tư duy nghệ thuật nhà văn phong phú hơn, có nét độc đáo hơn trở thành một nét phong phú trong văn xuôi Nguyên Ngọc. Đó là sự nhận thức nói năng, sự suy nghĩ sâu sắc ở những góc cạnh hiện thực, con người. Vì vậy, câu văn vừa có sức mạnh truyền cảm vừa có chiều sâu: “Từ xưa đến nay, bao giờ cũng vậy, con người tự nhận thức ra mình trong quá trình chiến đấu với kẻ thù và với thiên nhiên. Mười năm đánh nhau với kẻ thù tàn bạo nhất của loài người, chúng ta đã học được rất nhiều. Song, điều lớn lao và đẹp đẽ nhất là chúng ta đã học hiểu chính bản thân chúng ta”. (Đường chúng ta đi)

Ngôn ngữ trong văn xuôi Nguyên Ngọc đậm đà ngôn ngữ sử thi. Nét nổi trội trong ngôn ngữ đó là thứ ngôn ngữ trang trọng, hào hùng, giàu yếu tố so sánh liên tưởng trùng điệp. Vốn ngôn ngữ phong phú, đậm hơi thở cuộc sống, giàu chiều sâu suy nghĩ, triết lý tạo sức dư vị lâu bền trong tâm hồn người đọc.

N.V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm