TIN TỨC

Nhà văn Lê Thanh Huệ: Vũ trụ thi ca của Nguyên Hùng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-03-21 10:06:01
mail facebook google pos stwis
3209 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

(Nguồn: Văn nghệ điện tử)

Nhà thơ, tiến sỹ Nguyên Hùng, tên thật: Nguyễn Nguyên Hùng, sinh năm 1955, tại quê hương: xã Nghi Hải, huyện Nghi Lộc, nay là phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An; trong một gia đình sống chủ yếu dựa vào biển. Cụ thân sinh Nguyễn Văn Kha suốt đời “theo cánh buồm nâu đi khơi đi lộng. Cụ bà Nguyễn Thị Ấm ở nhà chăm vườn, vá lưới, phơi nướng cá tôm do chồng đánh bắt được cho “chuyến chợ chiều; khơi bếp lửa hồng sưởi mái tranh nghèo”.
 


QUÊ HƯƠNG GẮN VỚI CẢM THỨC THỜI GIAN

Nhà có 7 anh em. Nguyên Hùng, con thứ 3, từ bé cậu yêu biển. Nhà ở Cửa Hội, nơi đổ ra biển của sông Lam. Ngoài giờ học, cậu ngồi đan lưới, vẳng trong gió câu dân ca mẹ hát ru em. Những lúc nhặt quả phi lao ở rừng dương đem về đốt thay củi, cậu được tắm gió biển rì rào tiếng sóng xô bờ. Rồi những buổi chiều “chờ thuyền cha trên bếnkhi hoàng hôn Cửa Lò tím tái mầu nhớ nhung...

Những người mưu sinh từ biển thuộc mọi dân tộc, trong mọi thời đại, đều cảm nhận biển là một thực thể. Thần biển không có hình hài rõ ràng bởi ông hiền hòa, rộng rãi ban phát, nhưng khi bỗng dưng nỗi cơn thịnh nộ thì không chừa một ai và không ngại dùng sức mạnh phá phách bất cứ gì. Cụ Kha biết rõ con trai mình mơ mộng, chỉ hợp ở trên bờ vì biển chấp nhận duy tình, còn nơi biển khơi, biển ưu tiên cho người có sức khỏe, có trí tuệ, duy lý, chung sống với thường trực rủi ro. Người kiên quyết không cho con trai mình đi biển, hướng vào học tập để mưu sinh…

Học sinh Nguyễn Nguyên Hùng học giỏi đều các môn. Vào cấp 3, nhà cách trường hơn 10km. Lớp 8, lớp 9 cậu hàng tuần đi bộ đến chỗ ở trọ; sang lớp 10 thì chung với một nhóm bạn cùng dựng lều tranh vách đất; 9 học sinh, chia 2 phòng nam nữ, có cả bếp nấu ăn. Thực phẩm góp vào thuộc hình thái nông nghiệp tự sản xuất, tự tiêu dùng. Hùng mang theo tôm, cua, cá biển và gạo góp chung...

Năm 1972 học lớp 10, trong kỳ thi học sinh giỏi tỉnh Nghệ An, Nguyên Hùng đang ở đội toán, phải chi viện cho đội văn và cậu đoạt giải nhì văn toàn tỉnh. Nếu năm học ấy Bộ Giáo dục tổ chức thi học sinh giỏi toàn quốc như thường lệ thì rất có thể Nguyên Hùng đã có hướng đi hoàn toàn khác. Năm 1973, khi đăng ký thi tuyển vào đại học, dù anh ghi nguyện vọng 1 là Tổng hợp văn, nhưng nhà trường lại xếp thi khối A với số báo danh B57 (chỉ đến khi vào phòng thi mới biết B là Đại học Thủy lợi, vì ngồi cùng một số thí sinh từ Ty Thủy lợi). Không ngờ vương vấn nghiệp cha, anh được phân vào khoa công trình thủy là công việc thiết kế công trình sông biển. Anh làm nghiên cứu sinh tiến sỹ tại Liên Xô, và sau đó là Nga. Do đó, thơ Nguyên Hùng có nét riêng; duy tình nhưng không phản khoa học, không tạo ra những hình ảnh, câu chữ thiếu đi tính logic. Thơ anh, có những định nghĩa ẩn của riêng anh khi sử dụng bút pháp mới lạ…

Thơ của anh không chỉ xuất hiện nhiều trên các báo, tạp chí văn học Việt Nam mà nhiều bài thơ được dịch và in ấn trên các báo tiếng Anh, tiếng Hàn Quốc…


ĐỘ PHỔ QUÁT CỦA “QUÊ HƯƠNG”

Nguyên Hùng có nhiều bài thơ mang dáng dấp quê hương. Anh yêu quê hương đến độ khi viết về quê hương, câu chữ hóa thành thơ. Do hình ảnh luôn là ưu tiên số một trong não bộ con người; những hình ảnh đẹp về quê hương thuở xa xưa được chắt lọc và nâng lên cấp độ gần với mỹ từ khiến bạn đọc say mê. Do đó, có hơn 100 bài thơ của Nguyên Hùng được phổ thành 120 ca khúc.

Ca khúc “Lời hẹn tình quê” nhạc An Tuyên, ca từ Nguyên Hùng, được lấy làm bài hát chủ đề hơn 30 album nhạc, chỉ tính riêng kênh của ca sĩ Phạm Phương Thảo, làm say mê hàng triệu người nghe có phần đóng góp của hình tượng quê hương trong phần ca từ.
 

Lời hẹn tình quê
 

Lời hẹn cùng ai về lại bến sông quê

Dòng sông xanh vẫn dạt dào mong nhớ

Sóng sông quê ngân cung đàn điệu nhạc

Hát ru tình ta năm tháng đợi chờ nhau.

 

Mong được gió mang theo tơ lòng em dệt

Từ trong câu ca ân tình mộc mạc tìm nhau

Gió bay đi lời ca còn mãi

Tha thiết một miền quê mênh mang nỗi nhớ

Trắng hoa cau xanh trầu nhớ mẹ

Nửa câu hò vời vợi bóng hình quê

 

Thời gian có chờ ai đâu

Đừng lỡ hẹn người ơi đừng lỡ hẹn

Về đi thôi về lại miền quê xưa

Bao năm xa quê bấy nhiêu niềm mong nhớ

 

Bao đắng cay vui buồn một thuở

Về lại bên nhau trong khói lam chiều

Vương vấn sáo diều ngân

Nghe câu ví giận thương đang dìu dặt đêm trăng.
 

Chỉ có 145 từ, quê hương đẹp, bình yên, trong sáng, từ mảnh vườn, dòng sông, bến đò, bầu trời, tiếng sáo diều nhuộm trong tình yêu thủy chung cách biệt những biến động của thời hiện đại, xô bồ các lối sống, các mạng xã hội khiến môi trường văn hóa bị ô nhiễm len lỏi vào từng nghỏ ngách xóm làng…

Tuy có câu “nghe câu ví giặm” vốn là dân ca Xứ Nghệ, nhưng ca từ vẫn làm mọi người con đất Việt tìm thấy bóng hình quê hương của mình trong một vài chi tiết. Để có độ phổ quát của tình yêu quê hương trong thơ Nguyên Hùng, có phần ảnh hưởng từ độ mở của quê hương Cửa Lò.

Là nơi hội tụ nhiều núi chạy ra khơi, chìm vào nền phù sa mới, ngoi lên vài đảo làm nơi dừng chân cho các huyền thoại, truyền thuyết từ phía tây tràn xuống và phía Nam lan ra; Cửa Lò từ rất sớm đã là vùng đất mở, tiếp nhận và nâng cao nền văn hóa làng theo hướng cầu yên cho ngư dân được thuận buồm xuôi gió trên biển rộng, đánh bắt được nhiều tôm cá và chống chịu được bảo tố biển Đông.
 


THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYÊN HÙNG

Về mặt toán học, vũ trụ có vô số chiều. Các vật thể đẹp nhất và lung linh nhất trong không gian 4 chiều. Nhưng động vật nhìn không gian quanh mình theo cách để sinh tồn. Loài bò sát sống và bắt mồi trên các mặt phẳng, chúng chỉ nhìn được 2 chiều, giống như bóng các vật phản chiếu trên mặt tường nhà, các mặt phẳng. Con người đứng thẳng và đi xa, nhìn được 3 chiều. Khi bộ não phát triển, con người ý niệm được chiều thời gian theo mũi tên luôn hướng từ quá khứ về hiện tại và đi đến tương lai nhưng mang theo định kiến thời gian giống nhau ở mọi nơi, mọi lúc cho trời đất và cho cả các vì sao xa...

Albert Einstein kết hợp chiều thời gian vào 3 chiều không gian gọi là chiều thứ tư, thành không thời gian và trở thành nhà vật lý lý thuyết vĩ đại nhất thế kỷ XX, cho ra hình ảnh đúng của vũ trụ.

Đi trước khoa học, từ lâu, các nhà văn đã sử dụng thời gian làm công cụ, gọi là bút pháp, như đảo trật tự thời gian, thời gian đồng hiện…

Về đi thôi về lại miền quê xưatác giả Nguyên Hùng đưa người nghe cùng lúc du hành về quê của mình gọi là di chuyển vị trí và về lại thời xưa, gọi là du hành thời gian, vật lý lý thuyết gọi là du hành không thời gian (cùng lúc di chuyển cả vị trí không gian và thời gian)…

Bút pháp mới, cộng với các hình ảnh, âm thanh, tình cảm, tác giả truyền vào đó cho ra hiệu ứng đặc sắc của chất thơ độc đáo như là ký thác thơ Nguyên Hùng mà chúng ta sẽ khảo sát sâu vào địa hạt này.

Thường thì con người trốn bão, nhưng khi bão đến “biển quê hương”, tác giả bỏ lại “phía sau lưng vương vít vệt khói chiều” nơi có sự an bình để “bay về phía - bão - hẹn – nhau”. Đó là vì chữ tín với bạn bè, người thân, và lòng yêu quê:

“Mặc bão dữ đang gầm gừ cửa biển

Khi đã hẹn có thể nào không đến

Bão giông nào cản được sóng - vì - nhau?”

Trong bài thơ:Bay về phía bão”, có khổ thơ thứ 3:

“Ngoái phía nào cũng đau đáu thương yêu

Phía trước mặt mẹ cha nằm dưới cỏ

Phía mờ xa vọng tiếng cười trẻ nhỏ

Phía mong chờ - nơi ấy là em...”

Não bộ con người trong một thời điểm chỉ cho phép xuất hiện một tình cảm yêu thương. Theo khổ thơ, trong thời điểm bảo đến, do nhà thơ lo lắng cho mọi người nên đã xuất hiện một siêu bảo yêu thương, khiến vũ trụ tình cảm của anh bị bẻ cong và nhiều vị trí chập vào nhau theo cách tách bạch các loại tình cảm chứ không hòa trộn trong vũ trụ như cách nhìn của loài người từ trái đất. Nó giống như vũ trụ chúng ta đang sống, bị bẻ cong do lực hấp dẫn.

Cảm thức thời gian

Rất nhiều bài thơ có cảm thức thời gian đậu vào câu chữ.
 

Ước gì níu lại ngày qua

Nửa đời neo đậu bến sông xa

Thuyền phủ xanh rêu, lởm chởm hà[1]

Tết đến càng thương mành lưới mẹ

Xuân về thêm nhớ cánh buồm cha.

Mong đền ơn mẹ, chiều đang nhạt

Muốn đáp nghĩa cha, nắng đã tà

Tóc bạc trắng đầu còn trẻ dại

Ước gì níu lại tháng ngày qua!

Do là không thời gian nên tác giả co không gian về một tọa độ trong nhiều chiều thời gian (một biến thể sáng tạo của thủ pháp thời gian đồng hiện); có nhiều thời điểm đan xen nhau và ngược lại trên một vị trí thời gian tồn tại nhiều không gian kéo lại gần nhau do biểu kiến thời gian tạo ra.

Cảm thức thời gian khiến cho những hình ảnh đôi hòa với nhau làm một: “Thuyền phủ xanh rêu, lởm chởm hà”. Đó là 2 con thuyền, một con thuyền đi biển đã dừng lại sau khi người cầm lái vĩnh viễn ra đi và “đá biển gắn” vào thuyền không ai cậy ra; cũng là hình ảnh 2 nấm mộ đá được con cháu dựng lên nơi cát trắng trông ra ngút ngàn khơi xa như những “con hà” đang muốn ra với biển cả kể cả lúc sóng to biển động để mang về chút quà của biển nuôi sống gia đình do suốt cả đời người đã không ngại sóng to gió lớn, sẵn lòng bám biển quê hương.

“Tóc bạc trắng” là hình ảnh của thực tại lúc đã gần bằng tuổi cha mẹ khi người ra đi. Nhưng khi đi về phía có mẹ cha đang che chở mình “đầu còn trẻ dại” chính là hình ảnh trở lại thời thơ dại bên người cha dãi dầu nắng gió ở khơi xa và rất ít thời gian ở với con và người mẹ ngồi đan lưới chờ cha đi biển mang cá về cho gánh chợ chiều mưu sinh cả gia đình... Ẩn trong bài thơ 56 chữ là nỗi niềm rưng rưng:

“Mong đền ơn mẹ, chiều đang nhạt

Muốn đáp nghĩa cha, nắng đã tà”.

Thủ pháp nghệ thuật của Nguyên Hùng là chiều thời gian “níu lại tháng ngày qua” tức là tác giả kéo chân trời thực tại nơi đang sống về với không thời quá khứ tại quê hương với thời gian nơi tồn tại “mành lưới mẹ”, “cánh buồm cha” đã là quá khứ. Khi quá khứ và hiện tại sát lại gần nhau sẽ làm rõ quy luật: theo thời gian, tuổi người con tiệm cận với tuổi mẹ cha, sự đồng cảm tăng lên và lúc đó nghĩ suy gần lại bất kể trình độ học vấn và thời đại họ trưởng thành, sinh sống khác nhau. Từ đó tình yêu cha mẹ lớn dần lên, làm nảy sinh cảm giác mình đã làm chưa đủ cho mẹ cha để trả hiếu nghĩa trong khi cha mẹ không còn. Cuối cùng là cảm thức về thời gian cho thấy mình cũng đang dần đi ngược về phía mẹ cha và mong gặp lại sau điểm đến cuối cùng.

Chúng ta bắt đầu hình thành khái niệm Vũ trụ thi ca của nhà thơ Nguyên Hùng, nó làm ra khác biệt và hấp dẫn của thơ anh….


CÁC DÒNG THỜI GIAN BIẾN ẢO

Các dòng thời gian cùng trôi đi cạnh nhau và độc lập với nhau

Tuy vận tốc thời gian khác nhau ở các vị trí khác nhau trong Vũ trụ, nhưng đều có chung mũi tên thời gian đi từ quá khứ đến hiện tại… Vấn đề là phải tính toán quy đổi thời gian ở nơi nào đó trong vũ trụ về thời gian trái đất gọi là thời gian thực.

Chúng ta khảo sát bài thơ mới của Nguyên Hùng với góc nhìn thời gian.
 

Tìm em ngược dòng sông nhớ
 

Anh tìm em ngược dòng sông nhớ

Tìm lại chốn xưa nơi gửi nụ hôn đầu

Tìm những ước mơ theo cánh buồm nâu

Tìm dáng em chờ thuyền cha trên bến.

 

Anh đi tìm em lần theo hương biển

Theo vị mặn mòi trong những câu ca

Tiếng sóng thầm thì thao thức bờ xa

Lời hẹn tuổi thơ ủ xanh nhẫn cỏ.

 

Anh đi tìm khi bóng ngày vừa đổ

Em gánh ước mơ theo mẹ chuyến chợ chiều

Khơi bếp lửa hồng sưởi mái tranh nghèo

Em học hát và lớn khôn từ lời ru của mẹ.

 

Mấy mươi năm cuộc đời bao dâu bể

Anh và em trôi dạt mấy góc trời

Nhưng tình quê đâu thể cạn vơi

Như sông quê sóng không thôi dào dạt

 

Ngược sông nhớ tìm lại ngày đã mất

Gặp dáng em ngồi hát phía chân trời

Gió lạnh lùa và tuyết trắng cứ rơi

Má em hồng trở về thời thiếu nữ.


Trong tự nhiên, chỉ có dòng sông xuôi về biển theo chiều thời gian thực trên trái đất. Người con trai đi chính trên dòng sông theo chiều ngược của thời gian nên sự kiện được cô đậm lại trong trí nhớ của mình.

Đầu tiên chúng ta phân tích bài thơ theo cách phổ thông:

“Anh tìm em ngược dòng sông nhớ” mục đích “Tìm lại chốn xưa” nơi gắn với mối tình đầu vốn trong trắng thơ ngây; trong miền sinh thái sông nước miền Trung; nơi có “cánh buồm nâu”. Người yêu lúc đó còn nhỏ, ra đứng bến sông “chờ thuyền cha trên bến”. Chính “dáng em” trong đợi chờ đó làm nên xuyến xao, khiến chàng trai không chút đắn đo lựa chọn đã “gửi nụ hôn đầu”.

Con thuyền có cánh buồm nâu thời ấy nhuộm “hương biển”“vị mặn” hòa trong âm thanh “tiếng sóng” phải là con thuyền đi biển; có thể gặp bảo dông và vĩnh viễn không về. Nỗi lo cho cha trên các chuyến khơi xa vẫn không át nỗi mối tình đầu với chàng trai nghèo chấp nhận lễ cầu hôn bằng “nhẫn cỏ” thứ có sẳn trong tự nhiên nhưng lại hiếm nơi những cồn cát nối nhau về với biển được “ủ xanh” và xanh mãi trong trí nhớ của chàng.

4 câu thơ khổ 3, tái hiện làng chài ấm cúng, người vợ tảo tần trong buổi chợ chiều bán cá do chồng đánh bắt được. “Em gánh ước mơ theo mẹ chuyến chợ chiều”. Ước mơ của một cô gái nghèo giản dị lắm: một mái ấm gia đình với người mình yêu để chung lưng đấu cật, hằng ngày được “Khơi bếp lửa hồng sưởi mái tranh nghèo” để rồi theo vòng tròn tự nhiên, em lại được làm mẹ, hát lại câu dân ca em thuộc từ “lời ru của mẹ” thường hát ru em.

Có vẻ như lúc đó không có điện thoại di động, đường thư… chiến tranh loạn lạc: “Mấy mươi năm cuộc đời bao dâu bể”; làm mỗi người “trôi dạt” đến những “mấy góc trời” và họ bị tách rời với nhau, với miền quê của họ. Chàng trai vẫn thương nhớ cô bé như “tình quê vẫn đầy con nước”. Để đến hôm nay chàng trai lúc này đã không còn trai trẻ nữa “ngược sông nhớ tìm lại” chính mình.

Đến đây, dữ liệu đã đủ đầy để khẳng định con sông nhớ chính là sông Lam; bắt nguồn từ vùng Nậm Căn nước Lào. Đoạn sông chính chảy qua Nghệ An, đoạn cuối hợp lưu với sông La trên đất Hà Tĩnh; tạo thành biên giới hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh và đổ ra biển Đông qua Cửa Hội.

Khổ thơ cuối cho thấy tác giả đang ở phương tây, nơi “gió lạnh lùa và tuyết trắng cứ rơi”. Tác giả “gặp dáng em ngồi hát phía chân trời”, là chân trời biểu tượng: chân trời quê hương tác giả nằm ở phía đông. Ở đó, tác giả hy vọng, tin tưởng người yêu mình được hạnh phúc như thuở “má em hồng trở về thời thiếu nữ”. Một loại hạnh phúc cao cả lấy hạnh phúc của người mình yêu làm hạnh phúc của riêng mình; bởi vì hạnh phúc sẽ dễ dàng đạt được hơn vì người yêu đang ở quê hương nơi bến đợi...

Chúng ta thường nghe gió lào rát bỏng, bão tố ở miền Trung. Bài thơ này chỉ ra quy luật: khi con người sống thân thiện với thiên nhiên, thiên nhiên sẽ bớt đi phần khắc nghiệt.

Bây giờ chúng ta khảo sát chiều thời gian trong bài thơ này.

Chúng ta được tác giả đưa đi cùng lúc theo 4 dòng sông thời gian:

Dòng sông thời gian thực luôn chảy xuôi từ lúc chàng trai lần đầu nhìn thấy dáng em gái chờ cha, nó là bức tranh buồn, cô đơn của một cô gái tuổi xuân thì trông ngóng một cánh buồm mà chỉ cô phân biệt được khi nó bắt đầu nhô lên mặt biển, ở đó có cha mình. Nó cũng là tín hiệu trong tiềm thức về sự tan vỡ và chờ mong như bao người con gái trước cảnh dâu bể; đẩy họ vào cảnh chia xa đến mức vô vọng.

Dòng sông thứ hai là thời gian của tình yêu, từ nụ hôn đầu cho đến ngày biệt ly và chờ đợi đến thì hiện tại vẫn không có ngày gặp mặt, không hiểu những gì đã xảy ra cho nhau, nhưng vẫn son sắt niềm tin như con nước ngày một lần lên xuống.

Bài thơ có nhịp điệu buồn, nhiều hình ảnh đẹp như cánh buồm nâu, như dáng đứng chờ cha, chiếc nhẫn bằng cỏ xanh, gánh chợ chiều, bếp lửa dưới mái tranh... Nó tạo ra dòng sông thứ ba nơi thời gian đứng yên, là miền sinh thái ven cửa biển của những con người hiền hòa, tảo tần và sống trong khung cảnh nghèo ấm cúng, luôn giữ được truyền thống qua cách truyền nghề bằng gánh cá đi chợ cho con gái đi theo, là cách giữ gìn bản sắc văn hóa bằng lời ru của mẹ và khát vọng muôn đời cùng nhau lao động dựng xây cuộc sống nghèo chứa chan tình người...

Dòng sông thứ tư thời gian của hoài niệm. Cũng có vài đoạn sông chảy ngược, nhưng mặc định trong suy nghĩ con người, chiều dòng nước luôn xuôi về biển như sự tự nhiên và luôn sẵn có. Suy nghĩ của người luống tuổi thường hướng về việc đã qua cũng là tự nhiên. Đa số người già không thể tìm tình yêu trong trắng thơ ngây trong hiện tại. Họ không bó tay mà đi tìm lại tình yêu cũ qua năm tháng, bằng cách ngược dòng thời gian về quá khứ rồi vẫn quay trở lại theo con nước về hướng biển như một lẽ tự nhiên, để cảnh tỉnh lại mình; cũng đều thuận theo tự nhiên. Những thứ kể trên khi hoà quyện vào những câu thơ tinh tế và sâu lắng khiến người đọc người nghe đều cảm được tình yêu sâu lắng mênh mang cũng là sự lan tỏa tự nhiên theo dòng sông tâm hồn có thời gian trầm buồn nhiều hơn thời gian lũ...

Từ cách tạo dựng và hòa trộn các dòng thời gian khi ẩn, khi hiện đã tạo ra dư âm. Bài thơ là cuốn phim quay chậm, nối tiếp nhau bằng những phân cảnh hiền hòa, trong nền những nốt nhạc trầm buồn của dư âm quá khứ buồn vang vọng…  khiến độc giả xót xa. Nếu thời gian quay trở lại, nếu tôi là tác giả, tôi sẽ lấy người yêu đầu tiên dù cam chịu khó khăn, vất vả. Và nếu được chọn, tôi chọn miền sinh thái hiền hòa thuở xưa, nơi con người sống thân thiện với nhau, thân thiện với thiên nhiên với tình yêu thủy chung, son sắt…

Chúng ta có đa vũ trụ, mỗi vũ trụ có thời gian riêng và cách vận hành riêng, đem so với cảm nhận thời gian trong bài thơ này cho thấy văn học đôi khi dự cảm về thời gian của đa vũ trụ, là vấn đề khoa học chưa có cách gì nghiên cứu.


CHIỀU CỦA MŨI TÊN THỜI GIAN

“Biển cạn” kể lại một câu chuyện buồn của nhân loại vốn say với tình yêu và sức sáng tạo của mình...

Biển cạn

“Đã có lúc anh làm con thuyền rạn

Chở mùa trăng trên biển tím là em

Mải say trăng gặp sóng bị đánh chìm

Anh sống sót nhờ bất ngờ biển cạn”.

Tôi đếm được trong 32 chữ chỉ có 25 từ, được nhà thơ chọn lọc để ghép vào tạo thanh âm, sắc mầu, hình ảnh, nhịp điệu, với sự duy tình, tôi tìm được một câu chuyện đẹp về tình yêu mang dáng dấp buồn từ câu đầu đến câu cuối…

Trong quá khứ, thi ca là khoa học để truyền lại những hiểu biết, kinh nghiệm nghề nghiệp, nhận thức về tự nhiên xung quanh mình một cách dễ hiểu, dễ nhớ và sau đó sự giao thoa này được một số nhà thơ sử dụng để mang theo thông điệp duy lý trong vỏ bọc duy tình. Để hiểu các câu thơ này, cần quay lại quê hương tác giả.

Cửa Lò là vùng đất cổ ven biển. Cả một vùng cát vàng rộng lớn kéo dài từ Bắc vào Nam, trước đây là biển xanh. Lòng đất còn lưu giữ các mỏ than bùn trên địa phận làng Cẩm Trường. Một chiếc mỏ neo thuyền đi biển rất cổ dưới lòng đất xứ xã Đoài.

Cửa Lò là vùng cát bồi: các giồng cát dài trên bờ biển, xen kẽ các vùng ao trũng,  dòng nước trong chảy vào, tạo ra các thửa ruộng chuyên canh... Các loại hóa thạch chỉ ra mỗi giồng cát là một giai đoạn trong quá trình biển lùi, bắt đầu từ cuối kỷ Đệ Tứ (cách đây khoảng 2,6 tỷ năm). Đó là thời trái đất diễn ra sự tuyệt chủng của nhiều loài động vật lớn, dẫn đến sự sụp đổ về mật độ, sự đa dạng của động vật và sự tuyệt chủng của các tầng lớp sinh thái quan trọng trên toàn cầu...

Chúng ta tìm những thông điệp được dấu trong vẻ đẹp buồn, mộc mạc, đơn sơ với những từ nghiêng về siêu thực đã nhắn gửi thông điệp gì đó từ góc nhìn thời gian vốn hiếm khi đồng điệu với thi ca…

Các định nghĩa có trong bài thơ:

“Con thuyền rạn” – là mạn thuyền có nhiều vết nứt nhỏ nhưng vẫn đi biển an toàn. Con thuyền tình mà chàng trai hóa thân, có vẻ quá cũ trên đường đi của nó và bắt đầu những hư hỏng do thời gian hòa vào mầu tan vỡ từ linh cảm được kể một cách mộc mạc của người đi trên đó: “Đã có lúc anh làm con thuyền rạn”.

Thuyền không chở trăng, thuyền chở “mùa trăng” tức là chở dòng thời gian có chu kỳ khi tròn, khi khuyết, lúc đầy, lúc vơi trên “biển tím” là biển tình yêu và tác giả định nghĩa trong bài thơ này “là em”. Chính do chu kỳ tròn khuyết dễ nảy sinh ảo tưởng lấy đi cái bóng trái đất in trên đó một cách dễ dàng.

Biển tím” là một hiện tượng hiếm gặp trong tự nhiên, nó là mầu của chết chóc do máu của các loại cá tôm hòa vào cộng với những thay đổi hủy diệt môi sinh tạo nên. Chỉ có những người sinh ra vùng ven biển, yêu biển, gắn bó với biển như tác giả mới biết được điều này từ trong truyền thuyết của cha ông để lại. 

Theo quy luật, tàu đi biển khi không chở hàng, phải hút nước vào từng khoang trong hầm tầu để tránh bị sóng đánh chìm. “Thuyền rạn” nước ngấm vào, trong khoang có chút nước sẽ thêm vững vàng. Lý do thuyền bị đánh chìm là do “mải say trăng” và gặp “sóng” đêm nên bị đánh chìm. Ta ngược lại câu thơ thứ hai, tác giả đã định nghĩa rõ ràng: em là “mùa trăng trên biển tím”. Vậy “say trăng” không phải là say mê em quên cả chèo lái đến mức để con thuyền chìm. Trăng ở đây là một nhân tố khác ngoài “em” và “anh” nhưng nó đẹp, nó dịu dàng và quyến rũ đến mức nó đánh chìm con thuyền vốn đang hành trình trong chu kỳ thời gian và vô cùng ổn định trong khoảng thời gian dài gần như trọn cuộc đời. Vậy thì trăng chính là những giấc mơ đẹp của con người, mà hỡi ôi, con người luôn mơ làm chúa tể.

Khi bị chìm, điều kỳ lạ xảy ra “anh sống sót”, không thấy em, lại cũng không thấy cảm xúc gì cả, chỉ có hai nguyên do vừa có lý, vừa vô cùng hiếm gặp trong tự nhiên:

- “biển tím”;

- “bất ngờ biển cạn”;

cùng xảy ra trong thời gian và không gian; lập tức đóng sập lại câu chuyện con thuyền gặp nạn trên biển. Bài thơ để lại cho ta sự phân vân cũng là hy vọng: muốn nhà thơ cho sống sót cả hai người.

Trong tự nhiên không có việc biển cạn bất ngờ nếu nó không là hệ quả của sóng thần, của bom hạt nhân… hoặc là biển vào thời điểm tương lai cách chúng ta 1,5 tỷ năm, lúc mặt trời phình to nuốt chửng trái đất và trái đất rực một mầu lửa, trước đó biển tím ngắt mầu chết chóc rồi mới đến biển cạn khô …

Phải chăng có câu chuyện buồn khác được viết bởi bài thơ.

Tôi sẽ làm ngược quy trình, biến thơ thành văn xuôi qua xâu chuỗi các sự kiện từ bài thơ theo mạch logic hình thức, để viết lại câu chuyện con tầu Tàu Nô-ê (Noah) nhưng ở dạng tự nhiên với Biểntự nhiên.

Biển là nơi của sự sống ban đầu và là nơi trốn tránh trong tương lai khi trái đất quá nóng.

Biển tím là tự nhiên đến lúc suy sụp không thể đảo ngược quá trình và con người đi trên dòng thời gian lúc đó, hối hả, không kịp theo ngày giờ, họ theo mùa trăng với hy vọng đảo chiều thời gian quay về quá khứ để tự cứu mình. Do biết trước mọi việc xảy ra trên dòng thời gian từ quá khứ đến hiện tại, khi về được lại quá khứ, con người sẽ dễ dàng hành động để thay đổi tương lai có lợi cho mình. Đảo chiều thời gian để về lại điểm có thể phục hồi nhằm chặn quá trình trái đất nóng lên vượt qua điểm không thể phục hồi.

Không may, con thuyền quay về quá khứ ở thời điểm cách đây hơn 4 tỷ năm về trước, lúc đó biển cũng cạn trơ đáy và sau đó, nước theo ra từ núi lửa phún trào cộng với nước đóng băng từ các sao chổi va quẹt vào trái đất. Vào thời điểm đó, chọn lựa của tự nhiên có vẻ chỉ giữ lại vài người tốt nhất trong đó mà thôi và không rõ tương lai bắt đầu lại lần thứ hai với việc hình thành lại tự nhiên, có đúng như bây giờ hay không, nhưng chắc chắn sẽ vô vùng khốn khó; buộc con người phải từ bỏ ý niệm chúa tể của mình để chung tay xây dựng thế giới mới đầy yêu thương và tôn trọng một tự nhiên khác đang hình thành...

Ẩn trong bài thơ mang hình hài siêu thực này là thông điệp hãy cứu trái đất bằng tình yêu thiên nhiên, con người. 

Bài cũng dự báo rằng, trong cả những trường hợp bất lợi nhất xảy ra, hủy hoại rất nhiều nhưng vẫn còn đó nhiều thứ không thể vùi lấp... Tự nhiên sẽ lựa chọn vài người đủ trong sáng, đủ tốt đẹp, đủ từng trải; do đó đủ hiểu biết đúng và nhân văn để tồn tại theo quy luật muôn đời: mọi nghịch cảnh dù lớn đến "bất ngờ biển cạn", hủy hoại cả môi trường xung quanh cũng không đủ sức hủy hoại tất cả tự nhiên và các giống loài.

Đó cũng là triết lý dân gian: Cây ngay không bị chết đứng; lửa (chỉ là nhân tố) thử vàng; gian nan (chỉ có giá trị) thử sức, biển cạn chỉ để cảnh tỉnh và làm công việc chọn lọc tự nhiên để làm lại tự nhiên mới khi tự nhiên cũ bị hủy hoại hoặc là lúc khởi đầu một cuộc hành trình khác trên con tàu du hành vũ trụ mang tên gọi tương lai...

Quê hương góp phần tạo nên vũ trụ thi ca của Nguyên Hùng

Có vẻ tác phẩm vừa mang hình hài văn hóa quê hương vừa có tài hoa của tác giả.

Khác với các cửa biển Việt Nam, Cửa Lò do 2 con sông lớn tạo thành: sông Cấm đổ vào biển cùng với Cửa Hội là nơi sông Lam ở phía Nam đổ ra biển, phù sa của hai con sông chung sức bồi đắp qua năm tháng cho Cửa Lò, do đó vùng đất này là tiểu vùng văn hóa nằm trong vùng văn hóa chung “Xứ Nghệ”, một trong những cái nôi văn hóa dân tộc.

Ngay đến tên gọi cũng mang dấu ấn 2 thời:

Có ba mặt sông biển, khiến dân gian cho rằng tên gốc là Cửa lùa (gió) và bị gọi trệch thành Cửa Lò.

Căn cứ vào dấu ấn của cư dân nói ngôn ngữ Malayo – Polynedieng từng nhập cư, khai khẩn vùng đất này; trong ngôn ngữ của các cư dân Malayo – Polynedieng có từ “kuala” để gọi tên nơi con sông đổ ra biển. Dần dần, danh từ kuala được Việt hóa thành danh từ riêng kuala/kualo và cuối cùng là địa danh hóa thành Cửa Lò.

Cửa Lò không phải là cửa biển mà là dải đất ven biển nằm trọn giữa 2 cửa biển: phía bắc có sông Cấm đổ vào biển và là cửa biển không được đặt tên. Phía Nam có cửa Hội nơi sông Lam đổ vào biển đông. Người bản địa quen với cách đặt tên địa danh có nhiều chuẩn mực này.

Cách quản lý Cửa Lò cũng khác xa mọi địa phương trong nước. Là vùng sinh thái ven biển có núi chạy dài ra biển. Ngoài khơi xa có nhiều đảo che chắn bão tố miền Trung. Các vùng cát trắng tinh xen lẫn ốc đảo xanh tươi trù phú. Bãi biển dài, phẳng và thoải, cát mịn sạch, nước trong, độ mặn vừa phải, phong cảnh đẹp, nhiều đường giao thông qua lại nên người Pháp đã ban hành Nghị định ngày 23/01/1901 quy định về phương thức sở hữu đất ở bãi biển Cửa Lò: thời hạn 5 năm. “Bất cứ người nào được nhượng đất sẽ được xây dựng, trong một thời gian là 1 năm, một công trình để ở trên diện tích đất đã được chuyển nhượng”. Do đó, Cửa Lò là nàng công chúa ngủ say trên bờ biển lộng gió, nhờ cách mạng đánh thức, cô tỉnh giấc bước ra khỏi căn phòng để thành mỹ nhân.

Sinh ra và lớn lên từ một vùng địa chất, sinh thái, văn hóa với các tầng trầm tích cổ mới đan xen và dòng phù sa tự nhiên cùng văn hóa hội tụ về và bồi đắp. Lại được đến đất nước xứ bạch dương giầu tình cảm, thủy chung như người Việt; được học tập, tiếp xúc với nền khoa học kỹ thuật tiên tiến, trong đó khoa học cơ bản, khoa học vũ trụ và nghiên cứu vius vốn đứng đầu thế giới, góp phần cùng quê hương tạo cho thơ Nguyên Hùng nét độc đáo: con thuyền thơ của Nguyên Hùng ở trong vũ trụ thi ca là nơi giao hòa giữa duy tình và duy lý, đáng lẽ sẽ triệt tiêu nhau; nhờ dòng sông thời gian đầy biến ảo chở đi muôn phương, đã bổ sung cho nhau; cho độc giả nhiều cảm xúc suy tư với nhiều góc nhìn, ở mọi cấp độ khác nhau.

Ghi chú: Các ký tự viết nghiêng lấy từ thơ của Nhà thơ Nguyên Hùng

[1] Hà là một loài sinh vật biển thường bám vào tầu bè, công trình biển, có vỏ bọc cứng như đá.

Một vài thông tin liên quan:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm
Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng
Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.
Xem thêm