TIN TỨC

Thơ Huy Tưởng, bay về lối thu không

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-24 10:22:58
mail facebook google pos stwis
1473 lượt xem

          

HUỲNH VĂN HOA

 

Chân dung Huy Tưởng qua nét vẽ Bùi Giáng

Huy Tưởng tên thật Nguyễn Ðức Hiệp, sinh năm 1942, tại Ðức Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Hiện cư ngụ tại Australia. Khởi viết từ những năm 60 của thế kỷ XX. Thơ đăng thơ trên các tạp chí tại Sài Gòn như Bách Khoa, Văn Học, Nghệ Thuật, Văn, Vấn Đề, Khởi Hành, Tuổi Ngọc, Thời Tập, ...

Giữ mục Sách mới - Phim mới và trình bày trên Tuần báo Tuổi Ngọc của nhà văn Duyên Anh.

Tác phẩm đã xuất bản:

1. Mưa trong vườn chiêm bao, thơ

2. Một mùa tóc mộ, thơ

3. Áo nguyệt ca, thơ

4. Hỏi đường cùng mây trắng, thơ

5. Trăng kêu xanh trong đá, thơ

6. Người nuôi lửa tịch mịch, thơ

7. Chàng tuổi trẻ gan dạ trên chiếc đu bay, sách dịch

8. Tuyết trên ngọn Kilimanjaro, sách dịch

 

Huy Tưởng là một khuôn mặt thơ có nhiều sáng tạo về tư duy và ngôn ngữ của thơ ca miền Nam giai đoạn 1954-1975. Thơ vượt ra ngoài các khuôn khổ và là một trong những nhà thơ có thơ hay của xứ Quảng trước 1975. Huy Tưởng luôn đi tìm cảm xúc mới, những cách sử dụng hình ảnh, cấu tứ, diễn đạt khác với các nhà thơ cùng thời. Ngôn ngữ thơ Huy Tưởng đậm chất thiền, thơ luôn phá vỡ logique, đẩy hữu thức sang tiềm thức. Cái thực và cái lãng mạn. Cái phi lý đứng bên cạnh cái hữu lý. Tất cả như bùng vỡ:"Tôi đến bên kệ sách. Tôi châm lửa và đốt sạch những bài thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn. Tôi đốt Nguyễn Du, tôi đốt Lý Bạch, Rimbaud, tôi đốt Tô Đông Pha, Milarepa... Tôi đốt hết và trả tất cả về cho khói, cho mây. Tôi chỉ giữ lại một giấc mộng. Một giấc mộng vĩnh cửu và phong phú hơn cả trái đất, hơn cả mặt trời" (Đêm xuân của đôm đốm, tạp chí Văn, số 198, ngày 15-3-1972).

Huy Tưởng là một giọng thơ đầy ám ảnh. Một chân dung tự họa bằng những sắc màu, thanh âm, hình khối riêng biệt, thăng hoa, gây ngạc nhiên bao người.

Một kiểu viết ẩn dụ, lạ hóa ngôn ngữ. Chữ bên chữ. Bức tường tuyến tính của ngôn ngữ bị phá vỡ, chấp nhận siêu thực, do vậy, chữ nghĩa xuất hiện bất ngờ, mới mẻ. Thơ Huy Tưởng sáng tạo, ngay trong chọn tiêu đề cho bài thơ, tập thơ, không quen thuộc theo lối văn chương cũ, nhòa đi những quan hệ ngữ pháp, vì thế, trường liên tưởng luôn được huy động và phát sáng. Đây là cách chọn tên cho tác phẩm của Huy Tương: Mưa trong vườn chiêm bao - Một mùa tóc mộ - Áo nguyệt ca - Hỏi đường cùng mây trắng - Trăng kêu xanh trong đá - Người nuôi lửa tịch mịch … Người đọc thơ, về mặt ngữ nghĩa có thể chưa hiểu, thậm chí khó hiểu, song, vẫn thấy hay, thấy đẹp, thấy hấp dẫn và lôi cuốn. Vườn chiêm bao đã lạ. Mưa trong vườn chiêm bao lại càng lạ thêm. Trăng kêu xanh trong đá: Ánh sáng của trăng ngập tràn trên cây cỏ, làm nên màu xanh chăng? Nhưng, trăng cất tiếng kêu trong đá, không giải thích được trong thực tiễn, khi đó, đá là một tập hợp tự nhiên của các khoáng vật, rắn, cứng, một thể địa chất có lịch sử hình thành riêng. Lối diễn đạt kết hợp giữa một tinh thể rắn (đá) với vệ tinh mềm mại (trăng), như cách nói của người phương đông: nguyệt, tạo nên ngữ nghĩa mới, đa thanh.

Huy Tưởng thường nói về đồi núi, vách núi, khe lạnh, rừng thu, sương lạnh, sa mù... những hình ảnh ấy luôn ấm tình đời, như một bài thơ viết năm 1966, bài Một phút trên đèo, đăng trên Tuần báo Nghệ thuật, số 35, năm 1966:

Về đây đồi núi Blao

Cây nghiêng quán đợi tay chào lãng du

Biển xưa buồn đổ sa mù

Đèo cao hút gió lưng vù tiếng chim

Tay ôm giấc ngủ đi tìm

Hỏi Tam Kỳ có ưu phiền dáng xa?

Trên đồi núi Blao, nghĩ về quê quán Tam Kỳ của miền trung, giữa đó là cây nghiêng, quán đợi, sa mù, đèo cao, tiếng chim và nỗi ưu phiền, … Những hình ảnh và tâm tình đó có quan hệ gì về một phút nhớ nhung trên đèo với một dáng xa?  

Chỗ khác, một bài thơ lục bát đẹp, một con đường dẫn về "ít nhiều hoang vu", "mù mịt sương", "con đường hư không", thời gian như chậm lại, lặng im, chiếc bóng rơi xuống chân đèo, về ngủ dưới rừng thu, lãng quên phố thị, bài Con đường:

Này em ta dắt nhau về

Vang vang dưới núi

Chiều tê lạnh rồi

Con ong cái kiến

Qua đồi

Và trăng xanh nữa im lời nước mây

Bước chầm chậm dưới hàng cây

Đừng rung em nhé

Sợ ngày rụng theo

Bóng ta rớt dưới chân đèo

Em ơi có thấy ít nhiều hoang vu

Thôi nằm ngủ dưới rừng thu

Mai ta thức dậy thân mù mịt sương ...

 

Mai ta bỏ phố quên phường

Dìu nhau đi suốt con đường hư không… 

Đà Lạt 1971

              (Trăm năm thơ Đất Quảng, NXB Hội Nhà văn, 2005)

Huy Tưởng đã tạo nên một ngôi nhà thơ ca biệt lập, lấp lánh những ánh màu của cảm xúc, hình ảnh, ngôn ngữ, diễn đạt. Huy Tưởng không giống ai và cũng không ai giống mình trong thơ ca xứ Quảng và miền Nam trước 1975. Thế giới nghệ thuật đó, như cách nói của danh họa Dương Bích Liên: “Trong cuộc đời và trong cả hội họa, rất có thể anh bỏ qua không cần Thượng đế, nhưng anh, kẻ khổ đau, anh không thể bỏ qua không cần tới một điều cao xa hơn anh, chính là đời anh: Quyền năng sáng tạo”. Huy Tưởng đã tạo nên một quyền năng cho mình trong sáng tạo thơ ca.

Bài thơ Thủa trăng kêu xanh trong đá, có 171 từ. Tác ghi về địa điểm và thời gian sáng tác, đó là: Núi rừng Trung Việt, những năm sáu mươi. Cấu trúc các dòng thơ, ngắt dòng, chấm câu không theo trật tự ngữ pháp bình thường, đưa lại những cảm xúc riêng: 

Khi tôi nép mình dưới chân tượng

Beethoven. Cha tôi khóc vì một lần

sinh khó của Mẹ. những bông  hoa

vẫn lặng lẽ tím bên đồi chiều. phơi

ngực trần sương muối…

Khi tôi nép

mình dưới chân  tượng  Beethoven,

cả  nhân thế  ngập chìm trong  mầu

trăng thơ dại. Cha tôi khẽ rùng mình

lay động một vì sao khi Mẹ tôi nhoài

người ra khỏi cái chết !…

Khi tôi nép

mình dưới chân tượng  Beethoven. thảo

 mộc trên đồi réo khản lời nhựa  trắng  và

 mưa trâm anh lơi lả hồn cầm thủa rêu mờ

 những nấc thang phố núi ngậm bóng  tình nhân…                            

Khi tôi  nép  mình  dưới chân tượng

Beethoven. tiếng mèo khuya gào rú làm

trầy xước cõi lòng hiu quạnh. và cha tôi

 phóng một mũi dao ngập  sâu vào

vách đêm thăm thẳm… Khai ngộ

 con đường bát ngát trên

cánh đồng

không…

Khi

tôi nép mình

dưới chân tượng Beethoven

Trăng đã kêu xanh nghìn đời trong đá !…

 

Tên bài thơ được chọn cho tên tập thơ Trăng kêu xanh trong đá. Năm lần nép mình dưới chân tượng Beethoven. Tượng Beethoven có quan hệ gì với nhà thơ? Chúng ta biết, Ludwig van Beethoven (17 tháng 12 năm 1770 - 26 tháng 3 năm 1827), nhà soạn nhạc cổ điển Đức, giữ vai trò quan trọng trong giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn, nổi tiếng bởi nhiều bản giao hưởng. Cuộc sống của nhạc sĩ thiên tài không dài, chỉ 57 năm, tật bệnh, buồn đau, tận hiến. Phải chăng, các hình ảnh "cha", "mẹ", sự sống và cái chết, sinh thành và hủy diệt xoắn quyện vào nhau ám ảnh từ thời niên thiếu:

Cha tôi khóc vì mẹ sinh khó / Cha tôi khẽ rùng mình / lay động một vì sao / khi Mẹ tôi nhoài người ra khỏi cái chết!…, / thảo mộc trên đồi réo khản lời nhựa  trắng và mưa trâm anh lơi lả hồn cầm thủa rêu mờ những nấc thang phố núi ngậm bóng tình nhân… / tiếng mèo khuya gào rú làm trầy xước cõi lòng hiu quạnh / và cha tôi phóng một mũi dao ngập  sâu vào vách đêm thăm thẳm… / Khai ngộ con đường bát ngát trên cánh đồng hư không… / Trăng đã kêu xanh nghìn đời trong đá!…

 Cách sắp xếp các dòng thơ. Cách dùng từ ngữ, hình ảnh không theo trật tự bình thường khiến cho người đọc vừa tri giác ngôn ngữ vừa thôi thúc sự hoạt động của trí tưởng tượng. Những ẩn dụ về sự chia cách, tách rời giữa cảm xúc và ngôn từ, giữa tím ngát thời gian với trùng vợi không gian. Trong sự cô đơn của con người, nhiều chỗ, có cảm giác nhà thơ cô độc, trống vắng trong căn nhà ngôn ngữ của mình (unhoused in the language). Điều này hơn một lần ta bắt gặp trong mạch suy tưởng của Franz Kafka.

Trên tạp chí Văn, số 96, 15-12-1967, có ba bài lục bát: Ngã đề - Của vườn khuya và ngọc thoan - Kể từ vạn đại, ở đây, ta gặp Nguyễn Du qua Hồng Lĩnh, Thanh Hiên, gặp "cõi tịch bồi hồi", gặp "Kinh vô cùng đổ ngân nga / Hồn tiên tịch lặng chui qua mộ người / Sầu tan trong nửa cánh dơi / Nghìn bông tuyết rụng đỏ trời chiêm bao", thấy "Rằng trong tột đỉnh càn khôn / Tôi nguyên hình Chúa của hôn phối trùng / Tạc hình mây đựng trung dung / Ca từ Cựu ước đến vùng Kim cang". Và ở đó, ta gặp lại nhiều nguồn tư tưởng, nhiều cảm hứng tôn giáo. Và đây:

Múc hai gàu nước chưa đầy
Tự nhiên trăng sáng mái Tây dội vào
Quay nhìn lại mấy hàng rau
Ô hay ngọn lá ướt màu hư linh.

                        (Múc nước tưới rau)

- nằm trong nghìn ngọn tịch liêu

ồ ta cháy rực mây xiêu mất rồi

- em theo chân biếc non mù

quên con nước lũ hoang vu giữa dòng

- cỏ cây đau yếu trăng tà

nửa đêm bừng nở cụm hoa lạc loài

                    (Trên ngàn, Tuần báo Tuổi Ngọc, số 129, ngày 26-04-1974)

Huy Tưởng với không gian thiêng (espace sacré) và thời gian thiêng (temps sacré), thứ không gian và thời gian có yếu tố tôn giáo, cắt nghĩa không khí, môi trường, biểu tượng, cảm xúc, gợi nên những băn khoăn, khắc khoải về lẽ sống, cõi nhân sinh, "màu hư linh", ứng xử của con người trước cái bao la của vũ trụ. Trong đời sống tâm linh của người Việt, không gian tĩnh mịch của tôn giáo, màu sắc u huyền của chốn thờ cúng, các lễ nghi để bước vào thế giới khác dương thế, luôn đậm chất trầm tư, ... khiến / giúp con người đi về cõi giới khác, thanh sạch hơn, cao đẹp hơn nhưng hoang sơ, hư vô:

- Bỏ thêm cọng cỏ khô này

Hơ cho đỡ lạnh bàn tay sương mù

Ngồi bên ngọn lửa hoang sơ

Hốt nhiên tôi sợ hư vô cháy bùng

                                   (Đốt cỏ trên đồi)

 

- Và đi mãi giữa màu nguyệt lạc

Xô đời xiêu dạt xuống mông mênh

Đêm nằm thơ nhỏ đau từng tiếng

Chép thả đầy trời xanh quá xanh …

 

Cũng hết phải không người yêu dấu

  Chim mùa xuân bay về lối thu không

 Em đâu đó xin đừng bật khóc

 Giọt lệ vàng đủ nhức nhối trăm năm

             (Chim mùa xuân bay về lối thu không)

Giữa mùa xuân mà thấy nẻo về "lối thu không", giống như Basho trong một bài haiku nổi tiếng, bài Nguyên Đán:

Ngày đầu năm

Tư duy về cô tịch

Chiều thu.

Huy Tưởng cũng vậy. Bài thơ viết về mùa xuân nhưng hoài vọng về "cõi bao la", "màu nguyệt lạc", "giọt lệ vàng", "nhân gian điên đảo", "bay về lối thu không" ... bàng bạc trong các dòng thơ. Sự tan hòa giữa nỗi cô đơn của con người và sự tịch liêu của đất trời, thẳm sâu giữa ánh sáng và cát bụi, giữa mênh mông, hùng vĩ của thiên nhiên và giá buốt tâm hồn của một hành giả đi tìm chân lý. Trên tạp chí Ý thức, số 1, ngày 1-10-1970, bài Mưa trên đồi khuya Đà Lạt, viết về cơn mưa đầu Thu mô tả cơn gió muộn, cái chết của nửa chùm trắc bá, của mây cuốn, nhất là những hạt mưa âm u, rơi trên áo người trong một đêm khuya trên những ngọn đồi cô đơn của Đà Lạt, với tôi đi về nát tan, run rẩy:

Mưa nát tan tôi đi về gió muộn

Nửa chùm trắc bá chết đầu Thu

Mưa tan nát tôi đi về mây cuốn

Trong áo người run rẩy hạt âm u ...

Một bài thơ khác, bài Nghe kinh:

Ướt hai tà áo nâu rồi

Bên chùa mục giọng kinh hồi lệnh sang

Giọng chuông rơi thấm cỏ vàng

Nghe kìa sư nữ vừa choàng áo tu

Tôi nằm ấp lá thiên thu

Mai sau nở trái sa mù pháp không.

         

Thơ Huy Tưởng nhuốm màu sắc tôn giáo. Điều này dễ thấy trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh. Xa hơn một chút, với cảm nhận cuộc sống trần thế, Huy Tưởng lấy niềm vui tinh thần làm chính, lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên, đất trời. Cả một thời niên thiếu gắn bó với khung cảnh của cỏ cây, núi đồi vùngTrung Việt, vì thế, không có gì lạ khi thấy những dấu vết của thi ảnh:

- Hỡi bãi cỏ và dấu tịch liêu

Hỡi trái mận hồng tươi ngập dấu răng ngà

Hỡi rừng cao huyền nhiệm như mắt các em

Hỡi biển ngàn quằn quại và bao dung như đời người mẹ

                                 (Trên chuyến tàu niên thiếu, tháng 8/67)

- Cõi không cùng lồng lộng

Trăng mưa xuân đêm này

Anh nằm yên bên cỏ

Mộ đời nghìn nước mây.

                              (Trăng mùa xuân đêm nay)

- Đã nồng hương mây trắng ngát ...

Của đêm nào đồi vắng ngậm hương                                                                         

                           (Tường Vi trăng huyết dụ)

Trong thơ Huy Tưởng, ta thường bắt gặp thời khắc về đêm như: đêm khuya, đêm mưa, nửa đêm, đêm trăng, ánh trăng, đêm xuân, ...Biểu tượng thời gian này, xét về phương diện thẩm mỹ, đó là thời gian nghệ thuật, một thứ thời gian của tịch nhiên, vắng lặng, phản ánh sự thụ cảm riêng của người nghệ sĩ. Nó là cấu trúc bên trong của hình tượng văn học, làm nên nét tư duy của Huy Tưởng:

- Chim vườn cây cây vườn chim

 Nửa đêm đá tảng bỗng chìm theo hoa ...

Dầm dề mộng ướt là sao

Vườn khuya bướm gáy làm sâu vườn người.

                                                  (Của vườn khuya và ngọc thoan)

- Đêm là máu của mặt trời

Theo huyền lâm dẫn xuống đồi thiền môn

                                                  (Kể từ vạn đại)

- Chợt nghe  xuôi ngược là gì

Nửa đêm mùa dậy, xuân đi lên đồi

(Đêm trăng nằm nghe sung rụng ngoài sân)

- Mười năm quằn quại đêm mưa nhỏ

Trút xuống hồn Người vỡ cơn giông

(Mười năm)

- Gió thổi xanh màu trăng đang rơi

Đêm xuân ai giũ mộng bên trời 

 (Chim mùa xuân bay về lối thu không)

- Và đêm nọ cỏ cây hồn tinh khiết

Trên đồi cao em đứng với riêng ta

- Ta viết mãi lên mầu trăng huyết dụ

Của đêm nào đồi vắng ngậm hương mơ

- Em có thấy, chao ôi rừng đêm đó

Ngậm đầy trăng tê buốt ở trong sương

 (Tường Vy trăng huyết dụ)                 

Thời gian nghệ thuật này, ngay từ giữa những năm 60 đã thể hiện rõ. Trên Tuần báo Nghệ thuật, số 52, năm 1966, bài Những đêm, điệp ngữ "một đêm" lặp lại đến 4 lần:

- Một đêm tôi đi thật cô đơn trong thành phố

Nỗi cô đơn diễm tuyệt làm sao

- Một đêm tôi đứng khóc bên hè chợ

nỗi khốn khổ huy hoàng như nước mắt long lanh

- Một đêm tôi ngồi bưng đầu vì bịnh nhức tim

nỗi đau êm đềm như hoa nở

- Một đêm nằm quay quắt trên vết thương

nỗi nhức nhối bổ dưỡng như làn môi ướt ...            

 

Từ đây, có thể nói rằng, đằng sau không gian, thời gian, như nêu trên, ẩn tàng những cách tân, những đổi mới về tư duy, về ngôn ngữ. Một điều làm người ta nhớ thơ Huy Tưởng cũng ở điểm này.

Tạp chí Văn, số 158, ngày 15-7-1970, tại trang 77, giới thiệu MỘT MÙA TÓC MỘ, thơ Huy Tưởng, như sau:

"Tiếng nói biệt mù nhưng sấm dậy của câm lặng, bài tụng ca ngậm ngùi của tâm hồn cóng buốt và cô đơn đến cùng cực, nhưng, cũng là ngọn gió thơ mộng thổi vào nghìn đêm tối mịt mùng của trần gian u hiểm ... "

Chỉ 46 từ, khái quát được thế giới thơ ca của Huy Tưởng. Thế giới đó là tiếng nói biệt mù, là bài tụng ca ngậm ngùi, là ngọn gió thơ mộng thổi qua cõi trần gian u hiểm này.

Trên Giai phẩm Quảng Đà, Xuân Nhâm Tý, 1972, bài Trăng mưa xuân đêm nay, những hình ảnh về một đêm trăng xuân, có âm hưởng thơ thiền của một người về thăm quê, giữa ngày chưa tan nắng xế, ngôi nhà hoang, bóng gãy, lối trăng dầm cỏ ướt, tâm trạng:

Ôm mây và vói mộng

Gọi mãi lời vô thanh

Cõi hồn vừa khuya khoắt

Vắng lặng rền trong anh

 

Cửa hoang sơ hé mở

Anh bước vào cô liêu

Xin cô nương hãy khép

Cho hồn xanh rong rêu ...

Một bài ngũ ngôn khác, bài Một đêm cây cỏ, đăng trên tạp chí Thời Tập, tháng 4-1975 về "cung đàn trăng lạnh", "chiều dang dở sau đồi", "cháy ngút ác tà", "thảng thốt đỏ màu hoa", "trăng kêu lừng đá xanh", "trăng bát ngát ngoài hiên", "rừng ớn lạnh vô biên", ... và kết thúc bài thơ:

... Phải em ngoài gió lớn

Thầm thì rặng vi lô

Chẻ hai tờ lục diệp

Viết đời xuân không ngờ ? ...

Huy Tưởng tạo ra nhịp điệu riêng trong thơ. Yếu tố làm nên nhịp điệu đó không chỉ là chỗ ngừng của tiết tấu, của dòng thơ mà ở đó, chính là cảm xúc, suy tưởng đặt trong sự diễn xuất, sự hài hòa trong chuỗi biểu đạt của thi sĩ. Ví dụ như, bài Một hồn tang hải chon von:

Gió lên

thì

gió cứ lên

đợi

tôi

xuống núi

hái

liềm trăng non

 

Đây là bài thơ lục bát, chỉ hai câu, với ba nhân vật: Gió - Trăng - Tôi (thi si). Gió là sự dịch chuyển của không khí, chỉ cảm nhận qua các giác quan. Trăng lưỡi liềm, tức trăng non, trăng đầu tháng. Núi rừng im ắng, tịch nhiên. Không gian như rộng ra. Tôi - thi sĩ - xuống núi. Ngược phía đó, gió và trăng, đang lên. Cái thơ mộng là thi sĩ xuống núi, "hái liềm trăng non". Đêm lặng nhưng không cô đơn, không lạnh lẽo. Sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên làm nên bức tranh đẹp. Giá như có thêm tiếng chim rừng, vanglên. Cảnh đêm sẽ  huyền ảo hơn ! 

Huy Tưởng có nhiều câu thơ lục bát đẹp, bát ngát của "cỏ sương biêng biếc", của "trăng tàn ngập đỏ": Chợt quên xuôi ngược là gì / Nửa đêm mùa dậy, xuân đi lên đồi / Cỏ sương biêng biếc bên người / Âm vang trái rụng xuống đời ta xưa / Trăng tàn ngập đỏ cơn mơ / Lại qua khe cửa như mưa xô hồng / Ta nằm nghìn  nhánh chia sông / Trôi mù mịt cõi hư không mất rồi … (Đêm nằm nghe sung rụng ngoài sân).

Hay những câu trong Giấc ngủ mây vàng:  

Nằm nghe giấc ngủ mây vàng / Trôi qua ngày xế, vượt ngàn tử sinh / Thăm nhau trong cuộc vong tình / Ngậm ngùi chim hót như kinh triệu hồn / Trăng cầm lệ xuống càn khôn / Ngàn đêm máu chảy vỡ hồn hoa xưa.

Bài thơ Mãn khai, đăng trên tạp chí Vấn Đề, số 29, tháng 12- 1969:

Đâu rồi, áo mộng chưa tan

Em đi bỏ lạnh trăng ngàn dưới khe

Chim chao cánh hiện tôi về

Tâm đầy sắc tượng bên lề nhân gian

Vàng thu bay trắng mênh mang

Lòng xanh để lộ bụi vàng vô minh

 

Chiều trong nắng nhớ lời kinh

Rủ con bướm lạ động tình trên mây...
 

Thơ Huy Tưởng thể hiện dưới nhiều thể loại, có bài ngắn bài dài, nhiều chỗ ngắt dòng bất ngờ, sáng tạo. Ngôn ngữ thơ Huy Tưởng lạ, tạo nên một phong cách, một chân dung rất riêng, không lẫn với bất cứ ai.

Viên Mai (1716-1797) trong Tùy Viên thi thoại, có nói: "Làm người thì không nên có cái tôi nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi". Ở góc độ thi pháp, Huy Tưởng đã tạo nên một cái tôi trong thế giới nghệ thuật của mình. Tiếng nói nghệ thuật của Huy Tưởng mang lại nhiều mới mẻ trong văn chương của miền Nam trước 1975.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cây có cội, nước có nguồn
Nguồn: Báo Văn nghệ số 19/2024
Xem thêm
Khát vọng Dế Mèn
Sự ra đời của Giải thưởng Dế Mèn cùng với phát ngôn của đại diện Hội Nhà văn Việt Nam đã chạm đến khát vọng lâu nay vẫn nằm đâu đấy trong những người yêu và hiểu rõ hiện trạng văn học thiếu nhi nước nhà…
Xem thêm
Tác giả trẻ chinh phục cuộc thi Thơ Hay!
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm
Thấy gì qua một chùm thơ Tết?
Bài viết của nhà văn Lê Thanh Huệ trên Diễn đàn Văn nghệ của Liên hiệp các Hội VHNT Việt nam
Xem thêm
Cảm xúc hoài hương trong thơ Quang Chuyền
Bài viết của nhà thơ Trần Khoái
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh với Dấu thời gian
Dấu thời gian là tập thơ thứ hai của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh. Ông hiện là Trưởng ban biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, kiêm Trưởng Văn phòng đại diện Thời báo VHNT tại Hải Phòng.
Xem thêm
Khúc biến tấu “Mặt nạ hương”
 Đọc thơ, như là phép hóa thân, tan chảy cảm xúc của mình cùng cảm xúc bài thơ. Người đọc lắng lòng theo con chữ, hòa điệu với nhịp điệu của ngôn từ. Tôi may mắn tìm thấy sự đồng điệu đầy hứng thú khi đọc thơ Nguyễn Thánh Ngã.
Xem thêm
Chỉ còn lại tháng Tư thiếu nữ | Thơ và lời bình
Thơ Mai Nam Thắng - Bình thơ: Phạm Đình Ân
Xem thêm
Người trẻ thử sức với phê bình
Được biết “Những phức cảm phận người” (NXB Hội Nhà văn, 2023) là tập phê bình văn học (PBVH) đầu tay của cây bút Lê Hương, nên tôi đọc với một tâm thế trân trọng và chờ đợi.
Xem thêm
Người chiến sĩ Điện Biên Nguyễn Thiện Thuật - Mùa hoa ban đẹp mãi
Đối với mỗi người Việt Nam chúng ta hôm nay, cái tên Điện Biên Phủ đã như một dấu mốc luôn hiện lên sừng sững mỗi khi nhắc đến. Ai cũng rưng rưng xúc động bởi máu xương của cha anh, của nhân dân đã đổ xuống để làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là không thể đo đếm hết được.
Xem thêm
Những trang văn phảng phất mùi thuốc súng
Bài tham luận của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm
Xem thêm
Di cảo thơ Chế Lan Viên: Khi thơ là thuốc, là lời kinh kệ
Chế Lan Viên là người mà sự nghĩ ngợi vận vào thơ như thể thơ cũng là thuốc, thơ chẩn ra được cái bệnh đau của kiếp người, và “Có vào nỗi đau mới có ích cho người”.
Xem thêm
Cảm hứng sinh thái trong thơ Đặng Bá Tiến
 Là một nhà báo, nhà thơ mấy chục năm gắn bó với vùng đất Đắk Lắk, Đặng Bá Tiến đã sáng tác thành công về thiên nhiên, con người và văn hoá Tây Nguyên với nhiều tác phẩm: Lời chân thành với cỏ (Thơ, 2009), Rừng cổ tích (Trường ca, 2012), Hồn cẩm hương (Thơ, 2017), Linh hồn tiếng hú (Thơ, 2020). Anh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Tây Nguyên đương đại, một nhà thơ “thứ thiệt”[1] có bản sắc riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo. Nổi bật trong sáng tác của anh là những tác phẩm viết về rừng, về sinh thái văn hoá và nhân văn.      
Xem thêm
Sức bền của ngòi bút
Nguồn: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 116, ngày 21/3/2024
Xem thêm
Nguyễn Bính ở phương Nam
Nguyễn Bính (1918-1966), tên thật là Nguyễn Trọng Bính (có lúc tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở Nam Định nhưng sống khắp ba miền đất nước. Ông có phong cách một nhà thơ lãng tử, sáng tác về chủ đề tình cảm làng quê và tình yêu, tổ quốc. Thơ tình cảm mộc mạc của ông được rất nhiều người thuộc. Tác phẩm gồm 26 thi tập trong đó có : + 1 kịch thơ : Bóng giai nhân (1942): + 3 truyện thơ : Truyện Tỳ Bà (1942); Trong bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958): + 1 vở chèo : Người lái đò sông Vỹ (1964) và rất nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được nhạc sĩ phổ thành ca khúc : Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, Quốc Hương ca);  Cô hái mơ (Phạm Duy); Ghen (Trọng Khương), Cô lái đò (Nguyễn Đình Phúc); Chân quê (Minh Quang). Hiện nay, nhiều thành phố có những con đường mang tên ông. Nhà thơ Nguyễn Bính nhận được giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (2000) cùng với Hoài Thanh, Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng, …
Xem thêm