TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tiếng vọng với những suy tư, trăn trở của người cựu binh Trần Ngọc Phượng

Tiếng vọng với những suy tư, trăn trở của người cựu binh Trần Ngọc Phượng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-01 07:41:42
mail facebook google pos stwis
5070 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc tập thơ Tiếng vọng của Trần Ngọc Phượng, Nxb Hội Nhà văn)

 

Tiếng vọng là tập thơ thứ 4 của nhà thơ Trần Ngọc Phượng. Tập sách được ấp ủ, chắt chiu bằng tất cả tấm lòng của một người từng đi qua cuộc chiến cùng với những thăng trầm, dâu bể của thời cuộc. Tiếng vọng chính là những tiếng lòng trắc ẩn, sự trăn trở thao thức của một con người sống có trách nhiệm, nghĩa tình với đồng chí, đồng đội và cả những ân tình sâu nặng với quê hương, xứ sở.

Tiếng vọng là cách nói đầy ám gợi, để từ đó nhà thơ Trần Ngọc Phượng có dịp thủ thỉ, tâm tình, chuyện trò, giãi bày những nỗi niềm sâu kín của lòng mình, thế hệ mình về một thời đã qua và cả những điều đáng nói hôm nay.

Thành phố sau lưng/ Bom đạn nổ vang trời/ Tiếng sóng vỗ biển khơi/ Tiếng gọi đò nơi mom sông ngày đó/ Tiếng em, nhẹ như hơi thở/ Khắp nẻo đường cứ thủ thỉ bên anh/ Tiếng vọng dội lên/ Từ những vinh quang/ Tiếng vọng chìm sâu/ Trong đau buồn thương nhớ/ Tiếng gần, tiếng xa/ Tiếng to tiếng nhỏ/ Tiếng lòng ta trong tiếng vọng quê hương (Tiếng vọng Thành Nam).

Là một người lính từng từng tham gia chiến đấu vào những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên những ký ức về người lính, về đồng đội trở thành mạch ngầm xuyên suốt trong thơ Trần Ngọc Phượng.

79 bài thơ trong tập sách thể hiện rõ các cung bậc cảm xúc của chính anh về quê hương, đất nước, về gia đình, về những năm tháng gian lao mà hào hùng của cả dân tộc. Ở đó, còn là tiếng nói trữ tình da diết với những trăn trở, chiêm nghiệm, suy tư về những điều đã qua, những cái của hiện thời và cả những dự cảm về tương lai.

Giờ đây, sau gần 50 năm đất nước hòa bình, những người may mắn như Trần Ngọc Phượng vẫn còn sống đó là điều vô cùng hạnh phúc. Ngày gặp mặt, bao ký ức thuở nào lại ùa về, nhà thơ Trần Ngọc Phượng hồi tưởng: Hồi ấy lính tụi mình trẻ lắm/ Vượt Trường Sơn sốt rét xanh rờn/ Vào sư đoàn mang tên lạ lẫm/ Công trường 5, đất đỏ miền Đông// Núi Mây Tàu lá reo suối hát/ Buổi xuất quân đánh Võ Đắc, Ông Đồn/ Đêm rừng Lá nghe chân voi rậm rịch/ Tiếng pháo bầy, bom tọa độ nổ dồn// Ngày giặc càn đói quay đói quắt/ Hái măng le, đào củ chụp thay cơm/ Bên miệng hầm võng mắc chung một cọc/ Điếu thuốc rê chia nhau hút xoay vòng// Rồi đến trận Long Tân, Núi Đất/ Đường trượt trơn úp lật bàn chân/ Tiểu đoàn mình vơi đi gần hết/ Xác đến nay đồng đội vẫn đang tìm (Họp mặt Sư đoàn).

Những năm tháng gian lao mà hào hùng ấy đã trở thành niềm tin yêu bất diệt cho những người may mắn còn sống đến hôm nay. Các địa danh, tên núi, tên đất, tên làng, tên các trận đánh... và cả những mất mát hy sinh đã hằn sâu trong tâm khảm của người cựu binh Trần Ngọc Phượng. Anh trân trọng, kính phục và dành tình yêu thương vô hạn với những người đã khuất.

Trần Ngọc Phượng không giấu nổi những cảm xúc nghẹn ngào khi nghĩ về những người đồng chí, đồng đội của mình đã ngã xuống ở khắp các chiến trường. Sau mấy mươi năm đất nước hòa bình nhưng có người đến hiện tại vẫn chưa tìm được hài cốt. Đó cũng chính là nỗi đau đến khôn cùng của những ruột thịt và cả những người đồng chí, đồng đội như anh. Dịp họp mặt hay các chuyến đi về những nghĩa trang nơi quy tụ các liệt sĩ, lòng anh lại quặn thắt.

Chiều Trường Sơn/ Lặng ngắt/ Các anh nằm/ ngay hàng thẳng tắp/ nghe tắc kè kêu khắc khoải/ Sắp về// Về đây/ Những đội hình/ Xếp theo tỉnh, theo thành/ theo làng, theo xã/ Như buổi giao quân/ Trống reo rộn rã/ Mẹ và em đẫm lệ nhìn theo// Anh nằm đây/ Heo hút núi đèo/ Vài nén nhang không đủ ấm ngàn ngôi mộ/ Mẹ cha ta đã thành thiên cổ/ Em ta tất bật mưu sinh/ Còn mấy lính già/ Chống gậy ngồi bên (Chiều Nghĩa trang Trường Sơn).

Những câu thơ tạo nên sức gợi hình, gợi cảm. Ở đó không chỉ là tình cảm thương nhớ mà còn là nỗi ám ảnh day dứt của những người đã từng đi qua chiến tranh.

Bên mộ em những lính già đứng lặng/ Nhớ một thời trai trẻ mê say/ Ta tặng nhau mảnh khăn dù pháo sáng/ Chiếc lược nhôm làm bằng xác máy bay (Mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc).

Những năm tháng tham gia kháng chiến nơi rừng sâu, núi xa, biết bao gian khó hiểm nguy, cái chết luôn cận kề nhưng chưa bao giờ làm cho anh nản chí. Chỉ có nỗi nhớ quê, nhớ mẹ cha, gia đình... luôn canh cánh đêm ngày. Vì thế người chiến sĩ Trần Ngọc Phượng đã nhiều đêm “mất ngủ”.

Đêm không ngủ đếm từng hạt mưa rơi/ Lòng bâng khuâng xao xuyến bồi hồi/ Ta tự hỏi đã bao đêm không ngủ/ Thả tâm hồn thương nhớ không nguôi// Về đây mắt người thân mong đợi/ Ta in hình trong xứ sở quê hương/ Những đường phố chạy dài sôi nổi/ Những dòng sông lặng lẽ tắm hoàng hôn// Mẹ ơi mẹ! Con ra đi buổi ấy/ Súng vác vai không hẹn ngày về/ Mẹ ôm con, đứa con trai của Mẹ/ Giữa mùa hoa bưởi trắng làng quê// Con đi qua bao núi bao sông/ Đã bốn mùa mưa đã năm mùa nắng/ Đón hoàng hôn về giữa buổi hành quân// Đêm Trường Sơn ấm tình đồng đội/ Bên bếp lửa hồng kể chuyện quê hương/ Rừng miền Đông những ngày giặc bố/ Chia nhau từng củ chuối thay cơm// Con đi như những dòng sông chảy/ Quen vượt thác ghềnh chẳng ngại gian nan/ Chỉ thương mẹ ngày cày sâu cuốc bẫm/ Đêm thương con thức suốt những canh tàn... (Đêm không ngủ).

Chính những năm tháng ấy đã trui rèn nên một Trần Ngọc Phượng giàu đức tin, luôn vượt qua bao gian khó của cuộc sống. Ở đó, luôn có bóng dáng của mẹ, của cha, của em, của quê hương và của đồng chí, đồng đội... Thế giới hoài niệm được Trần Ngọc Phượng vẽ nên qua những bài thơ với những cảm xúc sâu lắng, chạm đến tận cùng cái tôi bản thể... Góc quê, Tiếng vọng thời gian, Bên mộ Cha, Cái ba lô con cóc, Nam Định những phố xưa, Giao mùa, Con sông tuổi thơ, Vay mượn cuộc đời, Hoa tím lục bình, Viếng mộ cụ Tú, Em là Sài Gòn đấy anh ơi!, Gặp bạn lính Mậu Thân, Họp mặt Sư đoàn, Mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc, Hoa bằng lăng tháng Tư, Những mùa thu đã qua...

Đất nước hòa bình, trở về cuộc sống bình yên nhưng tận trong sâu thẳm tâm can người cựu binh Trần Ngọc Phượng vẫn còn nhiều nỗi lo lắng, bất an. Tinh thần trách nhiệm và ý thức công dân của người luôn quan tâm, dõi theo những gì đang diễn ra quanh mình, thời đại mình đang sống; nhà thơ trăn trở, day dứt không yên trước những thực trạng đáng buồn của hôm nay:

Đất nước hòa bình/ Nhưng nào đã bình yên/ Giặc ngoại xâm, nội xâm đe dọa/ Biển trước mặt/ Phơi đầy xác cá/ Rừng sau lưng/ Trơ trọi gốc cây/ Trẻ đến trường/ Phải lội suối, đu dây.

Trần Ngọc Phượng cảm nhận rất rõ những mất mát và tổn thương. Khát vọng đan xen với nỗi buồn, hoài niệm đồng hiện với thực tại khi có những sự thật không hay đang diễn ra từng ngày từng giờ. Nạn tham nhũng, những bất công ngang trái, bao bất cập của đời sống vẫn ngày một nhiều; giặc ngoại xâm luôn lăm le và có ý đồ xâm lấn biển đảo...

Thuyền ngư dân/ Bị đâm từ “tàu lạ”/ Anh nằm đây/ Có lúc nào yên ả/ Sóng biển Đông/ Rung động chỗ anh nằm!// Hương khói bay/ lồng lộng gió ngàn/ Đang bật dậy/ Những linh hồn/ Bất tử (Chiều Nghĩa trang Trường Sơn).

Thơ Trần Ngọc Phượng cô đọng cảm xúc và ý tưởng, dễ đi vào lòng người đọc.  Nhất là anh viết về những người đồng đội, những chiến sĩ đã hy sinh. Điều đặc biệt trong tập thơ Tiếng vọng, Trần Ngọc Phượng có nhiều bài thơ viết về người lính, về tháng Tưtháng Bảy. Bởi khi nhắc đến đề tài người lính và những tháng ngày đó, nhà thơ có nhiều hoài niệm, lòng dậy lên bao khắc khoải thương nhớ, đau đáu, tiếc nuối, xót xa... Đâu đó còn là tiếng thở dài, tiếng khóc nấc nghẹn của một người cựu binh đa cảm như anh. Kỷ niệm xưa như phù sa đọng lắng/ Nước cứ trôi cỏ vẫn mọc xanh đồng/ Anh vẫn là anh của bão giông/ Mũ tai bèo băng qua lửa khói/ Em vẫn là em tóc tỏa hương bồ kết/ Lao mình trong chớp lửa bom rơi/ Thời gian nhuộm trắng tóc ta rồi/ Bao nhiêu điều để quên để nhớ/ Anh với em một quãng đời cất giữ/ Có lẽ nào ta lại quên nhau (Có lẽ nào).

Năm tháng cứ trôi đi, năm tháng khác lại về; những ngày tháng cũ và cả những tháng năm của hiện tại, của tương lai... có điều gì đó giăng mắc, có điều gì đó rưng rưng:

Tháng Bảy/ Tri ân/ Những người đã mất/ Nhớ bạn xưa/ Đói rừng quay quắt/ Mâm cỗ cao đầy/ Gọi nhau về họp mặt/ Những linh hồn/ Uẩn khuất bốn phương/ Hãy về đây/ Phán xét/ Bao dung (Tháng Bảy).

Sự đối lập rõ nét giữa quá khứ với hiện tại: Đói rừng quay quắt - Mâm cỗ cao đầy. Những người còn sống tề tựu về họp mặt còn người mất là: Những linh hồn - Uẩn khuất muôn phương... Và lời khẩn cầu: Hãy về đây/ Phán xét/ Bao dung. Có lẽ những  linh hồn kia đã hòa mình trong cỏ cây, hoa lá, hòa vào hồn thiêng sông núi, họ đã bất tử hóa.

Tháng Tư này/ Có họp mặt được không? Bốn mươi nhăm năm/ Có năm nào vắng mặt/ Từ tóc xanh nay thành đầu bạc/ Bước chân xưa, thần tốc xung phong/ Ngày thống nhất non sông/ Vỡ òa hạnh phúc (Tháng Tư này).

Tháng Tư lịch sử, tháng Tư của hạnh phúc và niềm đau. Điều ấy, những người trong cuộc sẽ thấu rõ hơn hết. Trong bài Những bài thơ tháng Tư, Trần Ngọc Phượng sẻ chia bằng những lời ngậm ngùi, đắng chát, cả sự vỡ òa hạnh phúc khi biết cố nén vết thương lòng. Những bài thơ tháng Tư/ Viết làm sao cho hết/ Như nước nguồn chẳng cạn/ Như tình đời da diết// Tháng Tư đánh Long Khánh/ Cánh cửa thép mở toang/ Nơi bạn tôi nằm lại/ Nở tím hoa bằng lăng// Ngày thống nhất non sông/ Vỡ òa trong hạnh phúc/ Nén vết đau trong lòng/ Khóc, cười trong nước mắt// Sài Gòn ơi! Sài Gòn/ Nơi chôn nhau cắt rốn/ Tháng Tư xóa hận thù/ để nối vòng tay lớn...

Bài thơ Tháng Tư về, Trần Ngọc Phượng viết tặng anh Nguyễn Xuân Khảm và các bạn đồng đội Đoàn 814 Long Khánh – Bà Rịa, biểu hiện của một tấm lòng nhân hậu, mỗi câu chữ đều ứ động cảm xúc, chạm đến đáy sâu tâm hồn. Bởi đó không chỉ là tâm sự riêng mà trở thành nỗi niềm chung của tất cả mọi người.  Tháng Tư về/ Rừng cao su thay lá/ Đất trời oi ả/ Đang khát khao/ Cơn mưa mát đầu mùa/ Để nơi bạn tôi nằm/ Nở tím cánh hoa mua// Tháng Tư về/ Gọi nhau họp mặt/ Lính già ơi!/ Tóc bạc trắng hết rồi/ Năm nay có đứa nào vắng mặt?/ Có đứa nào phải chống gậy đến không?// Tháng Tư về/ Áo lính bạc màu/ Ngồi bên nhau không kể chuyện chiến công/ Hương khói bay/ Con heo quay cúng bạn/ Chỉ thương nó/ Một thời bom đạn/ Ngày ra đi chưa được bữa ăn no// Tháng Tư này/ Khác tháng Tư xưa/ Vẫn cờ hoa, sắc màu rực rỡ/ Đốt cháy niềm tin/ Khơi lên ngọn lửa/ Để tháng Tư về/ Trọn vẹn ước mong.

Nhà thơ nhận ra cái chân lý sâu xa trong những điều giản đơn, bình dị, gần gũi từ cuộc sống bằng cảm quan riêng của người nghệ sĩ giàu trải nghiệm. Ta có là cát bụi/ Cuốn bay theo lốc đời/ Hay là con sóng dội/ Bạc đầu giữa biển khơi// Chiếc lá cũng rơi nghiêng/ Xoay tròn trong cơn gió/ Hạt mưa cũng bay xiên/ Như dốc chiều, bóng đổ// Bến bờ neo cuối đời/ Cũng bên bồi bên lở/ Đắng cay và ngọt bùi/ Là tình đời muôn thủa (Tự cảm).

Trần Ngọc Phượng sống thật với chính mình, nên thơ anh cũng vô cùng chân thật, không cầu kỳ, không màu mè hoa lá. Từ những điều thực tế ấy, nhà thơ đã tự lựa chọn và xác định cho chính bản thân mình cách sống: Bây giờ tuổi xế hoàng hôn/ Người xưa cảnh cũ, ta còn với ai/ Hít thật sâu, thở thật dài/ Xòe tay buông bỏ tháng ngày xót xa// Tưởng gần mà lại hóa xa/ Tưởng sâu đậm lắm hóa ra nhạt phèo/ Đời cho ta có bấy nhiêu/ Chuông chùa thức tỉnh những điều hư vô (Chơi vơi).

Trước bao ấm lạnh của cõi người, đôi lúc nhà thơ Trần Ngọc Phượng muốn tìm cho mình một lối sống, hướng đến sự thanh thản trong tâm hồn, buông bỏ những chuyện không đâu, hướng đến cuộc sống vô tư của một người có tuổi. Bảy mươi tuổi thời a còng là bài thơ tự thuật về mình với lời thơ dí dỏm, rất đỗi chân thành của nhà thơ. Rồi chợt giật mình nhận ra mình đã bảy mươi... khi nghe có tiếng ai chào: “Cụ ơi!”

Cần gì suy nghĩ đăm chiêu/ Lý sự tranh cãi những điều linh tinh/ Trong tay điện thoại thông minh/ Một giờ lướt mạng, ngàn tin trên đời// Sáng đi bộ, chiều đi bơi/ Vui đùa Nắng Gió thảnh thơi tinh thần/ Đường đời còn mấy bước chân/ Cái gì mình thích cứ “mần” tới nơi// Phận mình như thế xong rồi/ Giàu nghèo xấu tốt số trời đã cho/ Ngổn ngang cuộc sống xô bồ/ Thương con cũng chẳng biết lo thế nào// Sống thì khỏe, chết thì mau/ Đỡ phiền con cháu, cơm hầu nước bưng/ Thôi mà! Đừng nghĩ lung tung/ Để mười năm nữa chúc mừng tám mươi.

Tiếng vọng của Trần Ngọc Phượng đã cắt nghĩa được hiện thực cuộc sống thời đạn bom và hòa bình qua những trải nghiệm, ngẫm ngợi, suy tư của một trái tim nhạy cảm, rất đỗi chân thành, hồn hậu. Ở đó, nhà thơ luôn hướng về những điều bình dị, gần gũi với tất cả niềm tin yêu và cả những trăn trở, tiếc nuối, day dứt, khắc khoải...

Đất nước hòa bình, một thời đại mới lại đặt ra những thách thức mới. Cuộc đấu tranh trong thời bình cũng không kém phần cam go, quyết liệt, thậm chí còn phức tạp hơn nhiều so với súng đạn. Bởi kẻ thù không hiện hình mà trá hình dưới nhiều hình thức. Hơn nữa, giá trị đạo đức, giá trị người, giá trị sống đang có những biểu hiện xói mòn, chao đảo trước những cám dỗ của vật chất...

Bây giờ lắm của, nhiều tiền/ Lương tâm đổi chác, chức quyền bán mua/ Nên nhớ, còn nợ ngày xưa?/ Cốt xương liệt sĩ vẫn chưa tìm về (Ngày xưa).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm