TIN TỨC

Tình đầu thơ dại - Bút ký Lại Văn Long

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-07-16 23:15:43
mail facebook google pos stwis
1965 lượt xem

Tôi phá phách, lì lợm, ngày nào cũng đánh nhau với bạn, với cả các anh lớp trên, ngày nào cũng bầm dập, đau nhức mình mẩy.

Nhà văn Lại Văn Long

Tôi 11 tuổi, đang học lớp 5 Trường tiểu học Cộng đồng Đa Nghĩa (nay là Trường tiểu học Lê Lợi, P6, TP.Đà Lạt) thì Đà Lạt được giải phóng (ngày 03-4-1975). Nhà tôi từ đường Hai Bà Trưng chuyển về đường Nguyễn Công Trứ nên mỗi trưa tan học, tôi thường ôm cặp đi bộ về cùng các bạn nữ như: Hằng, Hải, Hạnh và bạn nam là Trí (nhân vật này đã được đổi tên). Trường ở trên đồi, chúng tôi xuống cầu thang cổng phụ băng qua đường Hai Bà Trưng vào con hẻm đất gồ ghề trước nhà cô Huệ bán bánh kẹo, sách vở…, qua một cây cầu gỗ không có lan can bắc qua con suối, rồi đi bộ một đoạn qua những vườn dâu, rau củ lúc nào cũng bốc mùi phân cá với thuốc sâu, để ra đường Phan Đình Phùng. Ở ngã ba đó chúng tôi chia tay nhau, Hằng với Trí rẽ phải, tôi với Hải, Hạnh rẽ trái… Ngày nào cũng vậy nên 5 đứa dần dần thân nhau.

Sau khi nghỉ học khoảng 2 tuần, trường đón học sinh trở lại. Chúng tôi được thầy cô dạy những bài hát cách mạng… Cứ tới giờ học hát, tôi lại nhớ những bài hát đã thuộc lòng trước đó ở trường, hay những bài tôi nghe trên radio, máy hát dĩa: Xuân này con không về, Em nghe gì không hỡi em, Em ước mơ gì tuổi 12 tuổi 13… Giờ nghe, học hát nhạc cách mạng với giai điệu, nội dung hoàn toàn mới, tôi thấy bị kích thích dữ dội, từ ngỡ ngàng sang rung động mãnh liệt với những câu hằn in vào tâm não, như: “Bác chúng em thề cương quyết trả thù nhà…” hay “… Anh Kim Đồng ơi… khi anh xa rồi, gương anh sáng ngời đàn em cố noi theo…” hoặc “… Lòng mở cờ, tim gióng trống quyết trả thù nhà, đền nợ nước… ta đi lên chiến đấu đến cùng”!

Tôi yêu nhạc mới qua hình ảnh người cán bộ cách mạng cùng hai du kích mang súng đến khu nhà trọ tuyên bố: “Những người ở nhà thuê không phải trả tiền nhà nữa. Cách mạng cấm chủ nhà bóc lột dân nghèo!”. Bà chủ nhà hay chửi mắng đám con nít thuê trọ vì chúng ồn ào và bị bà nghi hái trộm bơ với đào, giờ run rẩy, không còn chống nạnh xỉ vả bố mẹ chúng nó mỗi đợt thu tiền nhà. Điều này làm đứa trẻ nghèo ở nhà thuê như tôi hả dạ và xúc động mỗi khi hát những câu ca cách mạng thúc giục “lên đường”. Tôi ước mình lớn hơn tuổi 11 để… “đi lên chiến đấu đến cùng!” như lời bài hát đã thuộc.

Tôi với Hằng học giỏi nên được cử thi “Đố vui để học” trong khối lớp 5. 47 năm rồi tôi vẫn nhớ những câu hỏi mà mình đã trả lời được, như “Đi từ Bắc vô Nam bằng đường bộ, ngoài Quốc lộ 1, còn đường nào?” – đáp án là đường mòn Hồ Chí Minh. “Con cá lặn xuống, trồi lên nhờ cái gì” – đáp án: bong bóng trong bụng cá. “1 tạ bông gòn với 1 tạ sắt, cái nào nặng hơn?” – đáp án: bằng nhau…

Tôi ấm ức, còn Hằng đã khóc vì hai đứa cùng được 25 điểm bằng đôi bạn mà vẫn bị loại, không hiểu tại sao? Lần đầu thấy Hằng khóc, tôi thương bạn vô cùng. Cũng từ đó tôi bỗng phát hiện Hằng xinh đẹp nhất lớp. Tôi thích được nói chuyện với Hằng và ước ao con đường tan trường quen thuộc cứ dài mãi để tôi được sánh bước cùng Hằng. Nhưng sự thật đáng ghét hơn ước mơ. Hằng chỉ đi với tôi hai trăm mét trên đoạn đường tắt, khi ra tới ngã ba Phan Đình Phùng thì nàng rẻ phải theo thằng Trí, bỏ lại tôi hụt hẫng trên từng bước nặng trĩu trở về nhà.

Hải với Hạnh thong thả đi sau, thỉnh thoảng lại cười ré lên như trêu chọc làm tôi càng bực bội. Tôi bỗng ghét thằng Trí – ngày nào nó cũng được đi chung đường với Hằng nhiều hơn, được Hằng tỏ ra thân thiết hơn. Tại sao bất công như vậy khi tôi cao lớn hơn Trí, học giỏi hơn Trí, bắn bi hay nhất lớp, đánh nhau xếp hạng ba và lúc nào cũng muốn nói chuyện, giúp đỡ Hằng!

Càng nghĩ càng ấm ức nên tôi càng ghét Trí. Hai đứa ngồi cùng bàn, tôi tìm cách thúc cùi chỏ, đá chân, giật tập vở, làm tòe ngòi bút lá tre của nó. Giờ ra chơi thì tôi gây sự để gạt chân cho nó té dơ quần áo, cốc trên đầu hay đấm nó thật đau. Trí tức và đau, nhưng hiền lành nên không phản kháng. Tôi được thể leo thang, hôm nào tan trường về cũng cố tình đập rơi cặp của Trí, đá đít, nhéo tai nó. Mỗi khi Trí nhăn nhó vì đau hoặc năn nỉ xin đừng giỡn vậy nữa, tôi càng đắc ý vì nghĩ chắc ba bạn nữ, nhất là Hằng đang “nể” tôi như thằng Trí vậy. Thế là ngày nào tôi cùng diễn trò đó với Trí…

Nhưng hôm đó, tự nhiên Trí phản ứng, chửi và đánh lại tôi. Tôi kinh ngạc và không muốn “mất mặt” với ba bạn nữ nên vất cặp, lao vào vật, đè Trí xuống sàn cầu bắc qua suối. Ba bạn nữ lâu nay rất ác cảm vì tôi cầm đầu nhóm bạn trai quậy phá và hay ức hiếp các bạn khác. Mỗi ngày họ lại chứng kiến tôi hành hạ Trí nên… “tức nước vỡ bờ”. Cả ba cùng buông cặp lao vào phụ Trí lật ngược tình thế rồi giữ tay chân tôi cho Trí “trả thù”. Tôi đã khóc vì trận đòn hội đồng đó. Không phải vì thua, vì đau, vì nhục mà vì… Hằng đã bênh Trí, đánh tôi!

Tôi phá phách, lì lợm, ngày nào cũng đánh nhau với bạn, với cả các anh lớp trên, ngày nào cũng bầm dập, đau nhức mình mẩy. Nhưng chưa bao giờ đau kiểu lạ lùng, tan rã hết ý chí như lần nhận ra Hằng thù ghét, khinh khi tôi. Tôi đứng lên lau nước mắt, phủi bụi, tìm lại cặp rồi thất thiểu, cô đơn, ê chề lê bước trở về. Bốn “kẻ thù” của tôi đi trước một đoạn và vui vẻ bàn tán về chiến thắng toàn diện họ vừa thực hiện với tôi!

Tôi trở lại lớp vào hôm sau với nỗi buồn sâu xa, thấy mình lẻ loi, xấu hổ với cả lớp. Tôi rời nhóm nghịch phá, Trí cũng xin cô đổi chỗ ngồi. Hôm đó cô Thủy chủ nhiệm (nhà cô trên đường Thi Sách gần trường) tập cho cả lớp hát bài “Mùa xuân đến rồi, bản làng ơi…”. Các bạn sôi nổi hát theo cô, chỉ mình tôi ngồi gục đầu, câm lặng. Khi cả lớp đã về, cô giữ tôi lại để tập riêng, nhưng cổ họng tôi cứng đơ không hát nổi như những giờ tập hát trước. Cô dọa mãi không được, đành cho tôi về…

Mùa hè năm đó tôi rời Đà Lạt theo gia đình đi kinh tế mới ở RChai – cách Đà Lạt khoảng 40 cây số. Trên vùng đất mới, tôi và bạn bè hàng ngày vào rừng chặt củi, bắt tổ chim, hái trái dại hoặc đi câu, tát cá. Cuộc sống sôi động như vậy không hiểu sao tôi vẫn không quên được Hằng. Cứ mỗi lần nghe tiếng chim hót, tôi lại nhớ lúc Hằng khóc vì không được vào chung kết “Đố vui để học”. Nếu gặp một con chim màu sắc thật đẹp, không hiểu sao tôi lại tưởng tượng đó là Hằng hóa thân bay đi tìm tôi. Thường thì tôi buồn và thương Hằng khi nghĩ như vậy!

Năm 20 tuổi, tôi quay lại Đà Lạt tìm Hằng. Tôi leo con dốc nhỏ là nhánh hẻm của đường Phan Đình Phùng. Tôi đã từng tới nhà Hằng để mượn tập chép bài và lần ấy Hằng đã cho tôi một củ khoai còn nóng ấm. Căn nhà giản dị vẫn vậy, tôi đứng ở hàng rào gỗ thấp gọi cửa. Một phụ nữ trẻ bước ra và chị ta hoàn toàn không biết Phạm Thị Tuyết Hằng là ai. Chị an ủi tôi rằng: “Chắc nhà ấy về Sài Gòn…”. Tôi đi theo hướng dẫn ấy, lại làm báo nên cơ hội tìm kiếm rộng hơn. Tôi đã gặp vô số cô Hằng ở Sài Gòn và nhiều tỉnh, thành khác, nhưng Hằng làm tôi đau, nhớ và thay đổi năm 11 tuổi vẫn biền biệt. Tôi cũng mong gặp lại các bạn chung lớp, chung đường hồi đó như: Hạnh, Hải, Trí… Giờ này chắc họ cũng đã thành ông, bà ở tuổi xấp xỉ 60 rồi. Có ai nhớ câu chuyện này không nhỉ?

01-7-2022

Theo Lại Văn Long/Công an TPHCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm