TIN TỨC

Trần Duy Phương - Người con gái kiên cường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-25 09:44:18
mail facebook google pos stwis
2297 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

QUẾ HÀ

Nhà văn Trung Trung Đỉnh nhận xét về cuốn tự truyện “Tôi nghe tôi hát”: “Toàn bộ tuổi trẻ của Trần Duy Phương - Trần Thị Mai là chiến đấu và chiến thắng. Chị đã và đang chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, cũng như chiến đấu và chiến thắng thương tật, bệnh tật. Sức sống kỳ lạ của một con người kỳ lạ. Đó là sự bất tử của tinh thần kiêu hãnh và kiên trung mà chỉ có tuổi trẻ và lý tưởng của tuổi trẻ Việt Nam mới có được”. 

QUÊ HƯƠNG VÀ GIA ĐÌNH

Ký ức đong đầy về làng quê nghèo khổ và anh dũng “Xã Sơn Bình là xã có truyền thống cách mạng mạnh mẽ nhất lúc đó”, bởi những chiến sĩ cách mạng như ông Kiều, ông Cao Đình Trung, ông Đặng Xuân Sinh bị bọn địch bắt bớ, giam cầm, đày đọa và bị giết chết với những kiểu man rợ chỉ có thời trung cổ như “chôn sống”, “cắt đầu cắm cọc”...   


Trần Duy Phương (áo trắng) - người con gái kiên cường

Sinh năm 1950, Trần Duy Phương xuất thân trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở Quảng Nam. Cha chị là ông Trần Duy Tường. Ông tham gia Mặt trận Việt Minh, là Chủ tịch Mặt trận Việt Minh đầu tiên của Tổng Đa Hòa (Điện Bàn). Vài năm sau ngày giành chính quyền, ông được tổ chức điều động lên tỉnh. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, Hiệp định Genève được ký kết, ông được nhân dân tín nhiệm bầu Chủ tịch kháng chiến hành chính huyện Phước Sơn (Quảng Nam), gồm 7 xã. Đến năm 1955, ông bị bắt, chúng giam ông ở nhà lao quận Hiệp Đức, dù mẹ chị hết lời van xin để gặp chồng, nhưng chỉ có mình cô bé Trần Duy Phương được gặp, lúc ấy chị mới 5 tuổi. Mẹ chị mua 1 tô mì Quảng và 1 nải chuổi để vào gặp ba, nhưng tên lính gác quát to quá, cô bé sợ hãi làm đánh đổ hết tô mì Quảng. Qua cái ô trống nhỏ, cô bé nhìn thấy cha, chỉ qua một đêm thôi, khuôn mặt của cha “sưng vù, tím ngắt, hai con mắt đỏ ngầu đến độ không phân biệt được tròng đen và tròng trắng”.

Sau đó, chúng đưa xuống nhà lao Hội An, rồi ra Đà Nẵng, 2 năm sau, ông bị đày đi Côn Đảo. Bị giam trong hầm đá vì đã chống ly khai, chống xé cờ Đảng trong chiến dịch “khủng bố trắng” của Mai Hữu Xuân - Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát ngụy thời bấy giờ. Và người chiến sĩ Cộng sản kiên cường đã hy sinh ở nhà tù Côn Đảo bởi những đòn tra tấn dã man của kẻ thù, bỏ lại mẹ già, vợ trẻ và 3 đứa con thơ.

Cuộc đời của mẹ chị - bà Phạm Thị Hiền thường gọi bà Tường kêu theo tên chồng, cũng đầy bi tráng, chồng hy sinh khi mới 30 tuổi, một thân một mình nuôi 2 bà mẹ và 3 đứa con. Khi đứa con gái bị thương nặng, địch bắt giam, bà vẫn một lòng trung kiên với cách mạng, năm 1969, bà và người con trai út bị địch bắt giam ở quận Hiệp Đức. Chúng dùng chiêu bài, lôi kéo người con trai đang tham gia du kích để đầu hàng, chúng sẽ thả 2 mẹ con ra, nhưng bà đành chấp nhận chốn lao tù, chúng chuyển bà đến giam cầm ở nhà lao Quảng Tín (Tam Kỳ).

Năm 1957, chị xa gia đình đến trọ học ở Hội An. Tuổi thơ của Duy Phương là những tháng ngày thiếu tình cảm gia đình, nhưng lại thừa đòn roi và những lời mắng nhiếc, cùng những công việc quá nặng nhọc so với những bạn học cùng trang lứa nhưng cô vẫn học giỏi, hát hay rồi trở thành nữ sinh trường Trần Quý Cáp - Hội An.

Ở tuổi trăng tròn, phải từ bỏ những ngày tháng tươi đẹp của tuổi học trò, từ bỏ được ra miền Bắc để được học tập, để đi làm cách mạng. Chị biết con đường mình đang đi là con đường gian khổ, bởi chị đã chứng kiến quê hương, gia đình và mẹ chị một đời lam lũ. Vì chồng, bà đã bỏ quê quán, bồng bế lên non, nơi rừng thiêng nước độc, đảm đang gánh vác việc gia đình, để chồng tận tâm, tận lực với cách mạng. Chị đã chứng kiến tất cả, cha chị bị giam cầm, bị đánh đập, bị đày đi Côn Đảo, hy sinh và mất tích ra sao. Không hiểu lý tưởng cách mạng là gì, chị chỉ biết rằng đi theo con đường cha chị đã chọn. Xem cha là thần tượng, nghĩ những người tù yêu nước, hình ảnh bất khuất của người cha, mối căm thù giặc bắt đầu nhen nhóm đã chỉ dẫn đường chị đi theo cách mạng.

Vất vả, gian lao là thế nhưng chị vẫn giàu nghị lực, luôn vì công việc và mọi người, hăng hái, nhiệt huyết với những công việc như Dạy học, Kinh tài, Tuyên huấn. Nhà văn, liệt sĩ, anh hùng Lực lượng vũ trang Chu Cẩm Phong đã gặp và viết những dòng nhật ký về chị trong những ngày chị làm công tác Tuyên huấn: “… đó là cô gái hay cười, hay hát và nhiệt huyết…”. Với truyền thống gia đình và quê hương đã tạo nên tính cách sau này của một Trần Duy Phương kiên trung bất khuất, không khi nào chịu khuất phục trước kẻ thù, ngay cả khi cả cuộc đời của chị gắn liền với chiếc băng ca, xe lăn mà không thể đứng lên và đi lại được.

TRẦN THỊ MAI 

Tháng 10/1968, khi đang là cán bộ Ban Tuyên huấn Huyện ủy Quế Sơn (Quảng Nam), tổ công tác của chị bị giặc tập kích bất ngờ tại xã Sơn Long (nay là xã Quế Long, Quế Sơn). Chị bị trúng đạn, một viên trúng đùi trái, một viên xuyên ngang cột sống, qua ruột và xuyên ra phía trước bụng. Vết thương quá nặng, làm chị bất tỉnh. Bọn chúng đưa chị lên máy bay, đưa về Đà Nẵng. Một tuần sau, chúng đưa chị đến khoa giam giữ điều trị tù binh Cộng sản ở bệnh viện Duy Tân (Đà Nẵng). Hơn một năm bị giam lỏng ở đây trong điều kiện thiếu thốn, mất vệ sinh, chị cùng hơn 10 nữ tù phải ở trong một căn phòng nhỏ, không đủ chỗ để đặt lưng, mỗi ngày chỉ có một lon nước để dùng, chị bị suy kiệt và bị bệnh thận rất nặng…

Đến tháng 3/1970, từ trại giam tù binh Non Nước (Đà Nẵng) bọn chúng chuyển chị vào giam ở Phú Tài (Quy Nhơn) - nhà tù nữ lớn nhất miền Nam, khi chị tròn 20 tuổi. Thế hệ trẻ hôm nay và chính những người trong cuộc, khi đọc những dòng tự sự của chị sẽ không khỏi giật mình về những chi tiết trung thực về đòn tra tấn của kẻ thù đối với tù binh. “Hắn giơ hai bàn tay hộ pháp lên rồi giáng mạnh xuống cái bụng quấn đầy băng vẫn còn đang rỉ máu của tôi. Tôi kêu lên một tiếng thật to, mày mặt tối sầm lại, sau đó không còn biết gì nữa… Hắn đưa hai bàn tay lên như chực vồ lấy tôi rồi bất ngờ hắn quặp vào cổ tôi bóp chặt khiến tôi nghẹt thở”. “Chúng vừa đánh vừa đá, đạp vào chỗ hiểm, có tên còn nói: “Đánh cho tụi mầy tuyệt đường con cái, tuyệt nòi Cộng sản…”. “Chúng đổ nước vào lỗ tai rồi nhét cả sỏi vào, sau đó chúng dùng kiềm bẽ gãy 3 cái răng cửa cùng lúc. Chị được chị em săn sóc ngày đêm, nhưng cả tuần lễ sau vẫn còn lên cơn co giật”. Và một căn bệnh không có trong từ điển y học “Hơn một nửa chị em bị “lên cơn” tra tấn... Mỗi lần lên cơn các chị rơi vào trạng thái “ảo” và sống lại cảm giác như bị tra tấn”.

Ở tù, chị lấy tên là Trần Thị Mai - một nữ tù đặc biệt - nằm liệt trên băng-ca nhờ chị em tù nhân khiêng cáng. Dù chỉ nặng có 36 kg nhưng ở đâu chị cũng là người tạo nên một phần sức mạnh của tập thể. “Không. Tôi không được phép gục ngã. Hãy cố gắng lên tôi ơi! Đã sống thì phải sống cho ra sống, phải có cách sống của riêng mình…”.  Luôn hòa mình với nhóm tù binh bất khuất, chị và mọi người đã động viên nhau, đùm bọc lẫn nhau để tiếp tục sống và chiến đấu. Chị đấu tranh bằng cách tuyệt thực để được vào buồng giam với những người cộng sản kiên trung. Chị và đồng đội luôn kiên cường vượt qua tất cả những trò chiêu hồi, những màn tra tấn, cái chết luôn rình rập… mà giữ vững niềm tin tuyệt đối vào lý tưởng Cộng sản cho dù địch chuyển từ trại giam này đến nhà tù khác. Sống trong cảnh tù đày, bị hành hạ tra tấn, nhưng chị luôn giữ được niềm lạc quan cách mạng, tin tưởng vào chiến thắng của dân tộc.

Vào tù đem theo “một bụng” bài ca cách mạng, “Trong tù, chúng tôi luôn ca hát, diễn kịch và dạy học để cùng nhau đi qua những khó khăn của những tháng ngày lao tù và đấu tranh. Hát để quên đi đau đớn, hát để lấy lại tinh thần, động viên mình và động viên đồng đội”. Người phụ nữ ấy vẫn hát vang trước sự tra tấn dã man trong ngục tù của bọn Mỹ - Ngụy và hôm nay, trong từng ngày từng giờ lại phải đấu tranh với những vết thương mà chiến tranh để lại trên cơ thể, thế mà chị vẫn hát, hát cho mọi người nghe, hát chính về mình và nghe chính mình hát.

Hiệp định Paris được kí kết, ngày 15/2/1973, chị được trao trả cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở sân bay Lộc Ninh cùng nhiều nữ tù chính trị.

Chị có kỷ vật quý hiếm khi ở tù - bức tranh thêu “Đàn gà” - năm 1971, chị Trần Duy Phương đang bị giam ở nhà tù Phú Tài. Mẹ chị đến thăm, dù gặp nhau trong cảnh tù tội, đứa con gái duy nhất bị tật nguyền, nhưng bà không hề run sợ, động viên con - hãy giữ vững khí tiết của người cách mạng. Gặp được mẹ, chị tràn trề hy vọng có một ngày gia đình sẽ đoàn tụ, đất nước sẽ hòa bình. Và tự tay vẽ mẫu và thêu bức tranh “Đàn gà”. Kiểu thêu này tương đối khó, chị lại mới học thêu, lại nằm trên băng cáng, 10 đầu ngón tay tê cứng, vừa phải tìm cách lẩn tránh tai mắt bọn cai tù, nên chị thêu không đẹp lắm. Bức tranh thêu “Đàn gà” đã nói lên cuộc sống gian khổ, nhưng đầy lạc quan của người tù. Trong bức thêu, có 1 gà mái và 3 chú gà con đi về 3 hướng. Gà mẹ tượng trưng cho mẹ chị. Con gà lông đen tượng trưng cho chị - đang sống xa mẹ nhất vì giam cầm trong nhà tù Mỹ - Ngụy, bị thương 2 chân không đi lại được. Hai gà con còn lại là 2 người em của chị. Bức thêu không có gà cha vì lúc đó cha chị đã hy sinh. Bức tranh thêu ra đời cách đây đúng 50 năm, được chị giữ gìn như là báu vật và hiện nay được trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, được nhiều người xem trân quý.

TÔI NGHE TÔI HÁT

Trong suy nghĩ của rất nhiều bạn bè, với tình trạng chấn thương như thế chỉ có thể sống thêm vài ba năm sau khi ra tù. Thế nhưng, trải qua thêm nhiều đợt chữa trị cả trong và ngoài nước, người thương binh này đã có thể tự phục vụ cho bản thân để không phiền đến mọi người. Nhưng tháng 6/2011, vết thương cũ tái phát, chị phải phẫu thuật, vết mổ làm thủng ruột non, chị đã chết lâm sàng suốt mấy ngày đêm. Nhiều vòng hoa trắng của bạn bè đã được gửi tới. Nhưng một lần nữa chị lại vượt qua cái chết trong sự kinh ngạc của các bác sĩ. “Người chị bây giờ chẳng còn chỗ nào lành lặn, vết mổ chồng lên vết mổ, hình như đến hơn 10 lần chị phải trải qua phẫu thuật”.

Trong những lần đau đớn nhất, ký ức về những ngày tháng lao tù, về những chị em tù với nhau lại hiện lên trong tâm trí của chị. Chị cứ trăn trở lở mình chết đi rồi, thì những câu chuyện của mình, của một thời bi hùng của dân tộc sẽ theo mình xuống suối vàng, được sự động viên của nhiều người, chị đã ghi lại những năm tháng bi hùng của mình và đồng đội. Ban đầu chị dùng bút chì nằm nghiêng trên giường để viết, sau có máy tính thì đỡ hơn, dùng 2 bàn tay đã bị tê liệt đánh máy hơn 200 trang tự truyện “Tôi nghe tôi hát”.

“Đời cho tôi sống và tôi sống với đời. Tôi hiện hữu để sống chứ không phải để tồn tại. Tôi vui vì tất cả những điều đó, với ý nghĩ mình không phải là kẻ sống thừa”. “Tôi mang nặng ơn từ các chị em, các đồng đội đã cưu mang, đùm bọc và che chở cho tôi những tháng ngày trong tù. Nếu không có họ, tôi nghĩ mình đã bỏ mạng trong tù. Tôi muốn tri ân đến với những người bạn của tôi nên đã viết cuốn sách này. Và tôi muốn đền đáp với ba, mẹ. Một người là gương sáng để tôi bước theo con đường cách mạng, mà đến bây giờ, dù mang thương tật suốt đời tôi vẫn không hối hận; một người vì tôi mà khổ cực cả đời nhưng vẫn ủng hộ con đường tôi đi”, chị đã viết như thế.

Cuốn tự truyện “Tôi nghe tôi hát” xuyên suốt những ký ức của chị, với lời văn dung dị, chân thực như con người của chị. Viết về mình nhưng không hề tô vẽ, khoa trương, như lời tâm tình thủ thỉ nhưng lại toát lên từ mỗi trang viết là những triết lý sống cao đẹp. Hình ảnh chị nhắc chúng ta liên tưởng tới nhân vật Arthur bí danh “Ruồi trâu” của Ethel Lilian Voynich, bởi vì bản chất con người luôn đầy tình yêu thương tha thiết, mặc dù biết cái chết đến với mình nhưng vẫn thấy thanh thản vì đã có một cuộc sống hạnh phúc do đã được sống, chiến đấu và chết vì những lý tưởng, hoài bão cao đẹp mà cả cuộc đời chị đã theo đuổi cống hiến.

Năm 2013, “Tôi nghe tôi hát” được giải B của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam. Năm 2014,  đoạt Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật Đất Quảng do UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức. Năm 2015 tiếp tục được vinh danh - Giải Đồng - Sách hay, Sách đẹp của Hội Nhà văn Việt Nam. Chị rất vui, vì không phải là giải thưởng, vui vì đứa con tinh thần ấy được nhiều người biết đến, chị được mời dự giao lưu giới thiệu sách, làm phim với công chúng, với quê hương, với những người bạn tù…

Tháng 4/2014, trong buổi giao lưu với khán giả ở thành phố Tam Kỳ và huyện Hiệp Đức, giọng chị ứ nghẹn khi kể về gia đình chị, người mẹ vĩ đại của chị, bởi bà “Như cây tùng vươn cao giữa ngàn giông bão”. Bằng tất cả sự tôn kính và thương yêu, chị đã dành số tiền từ các giải thưởng của cuốn tự truyện để tạc tượng mẹ, như lời chia sẻ: “Người đã hy sinh cả đời, thủy chung với cách mạng, với chồng để nuôi hai mẹ già và các con khôn lớn. Mặc dù ngày cha tôi bị địch bắt cầm tù, mẹ tôi chỉ mới 30 tuổi”.

Những năm trước chưa có đại dịch, hằng năm chị đều tổ chức những chuyến đi thăm đồng đội, khu di tích lịch sử, đi Côn Đảo viếng mộ cha, trở về chiến trường xưa tri ân đồng đội và đồng bào. Mặc dù, di chuyển bằng nạng và xe lăn, nhưng tự đứng ra tổ chức gặp mặt chị em cựu nữ tù binh Phú Tài ở Quảng Nam và Đà Nẵng, hỗ trợ những nạn nhân chiến tranh gặp khó khăn bằng đồng thương tật… Bởi chị cho rằng “Cuộc đời còn lại của tôi, những gì có thể làm được cho đồng đội mình tôi sẽ làm. Tôi mang ơn đồng đội tôi. Tôi muốn đền đáp cho đồng đội tôi, những người đã nhường cơm sẻ áo, đã hy sinh cho tôi, đã vì tôi mà phải chịu đòn roi của kẻ thù khi tôi bị thương nặng trong các trại giam”.

Trần Duy Phương đúng là “thương binh tàn nhưng không phế”, sống - chiến đấu trọn vẹn nghĩa tình với Quê hương, Gia đình, Đồng đội và Đất nước.

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TPHCM.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm