TIN TỨC

Trường ca hiện đại cần những gì?

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-04 05:58:58
mail facebook google pos stwis
2508 lượt xem

NGUYỄN TRƯỜNG
(Đọc trường ca MẸ của Trần Thế Tuyển- Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân 2022)

Khác với trào lưu trường ca hiện đại đang thịnh hành, trường ca MẸ của Trần Thế Tuyển vẫn phát huy thế mạnh của tính hiện đại, dạt dào cảm xúc… nhưng trường ca của ông lại có cốt truyện, được xây dựng trên vật liệu của các sự kiện có chọn lọc, mô tả sinh động một thời hào hùng của dân tộc, bởi vậy nó còn mang hồn của sử thi truyền thống. Cốt truyện trong trường ca vô cùng quan trọng, nó như bản kiến trúc hoàn chỉnh, chi tiết để người thợ xây dựng nên tòa nhà. Tòa nhà to, đẹp, hay nhỏ bé, xấu xí, trước hết nằm ở bản vẽ của  kiến trúc sư. Trong trường ca MẸ của Trần Thế Tuyển được tác giả chia làm 5 chương và phần kết Vĩ thanh.

Chương 1: Là nỗi nhớ, nỗi chờ đợi mòn mõi mong con trở về của người mẹ có hai đứa con vào chiến trường miền Nam chống Mỹ:

Mẹ không tin vào đôi mắt

Cuối đường làng có người lính bước nhanh

Từ khi kết thúc chiến tranh

Đã có bao nhiêu hình ảnh ấy

Hình ảnh thân thương

Người bận quân phục màu cỏ cháy

Thời trẻ, hồi kháng chiến chống Pháp, mẹ đã từng đào hầm nuôi giấu cán bộ, anh tên Yên, quê Bắc Ninh:

Đánh bót Văn Đàn, Đông Biên

Mẹ đã đào hầm giấu anh cán bộ tên Yên

Quê hương anh nơi miền Quan họ

Những đêm trăng giặc không ruồng bố

Anh hát dân ca dọc bờ sông

Anh chẳng hát riêng cho mẹ đâu

Mà từng lời vành vạnh, đêm đông

Cứa vào lòng mẹ…”

Mẹ chứng kiến cảnh giặc càn, anh Yên và bao nhiêu đồng đội các miền khác nhau hy sinh. Bây giờ mẹ tiễn hai con ra đi mà lòng thương nhớ, vẫn biết rằng, con mẹ ra đi vì đất nước. Hòa bình, thằng con lớn của mẹ trở về, thằng thứ hai đã nằm lại ở chiến trường xa.

Chương 2:

“Mẹ về thăm quê

Sau hai mươi năm xa cách

Sông Hỗ Đông, vẫn đôi bờ lau lách

Thuyền nan như chiếc lá chơi vơi…”

Thời thiếu nữ mẹ chạy vào Thanh Hóa lánh nạn chiến tranh do quân Pháp càn quét. Mẹ sinh ra trong gia đình quan lại, “bát ngát đất cày” nhưng do cha từ quan, mẹ chưa một ngày được “đóng vai ái nữ”. Mẹ vào Thanh Hóa, làm con nuôi nhà người, chẳng nói cũng biết mẹ phải vượt qua cuộc đời vất vã như thế nào.

Chương 3: Mẹ nhận làm dâu dù chẳng biết người đó mặt mũi ra sao, giàu hay nghèo, sang hay hèn. Chỉ biết đó là một du kích, được nhiều người quý mến, nghe thế mẹ bằng lòng, vì anh cùng lý tưởng với mình. Thân phận mẹ khi làm dâu:

“Túp lều vách đất gió thênh

Lá chuối khô, gối nệm rơm

Thêm đứa con riêng của người chồng ba tuổi…”

Mẹ có đến 6 đứa con, tảo tần nuôi con ăn học, mẹ như thân cò lặn lội sớm khuya.

Hòa bình lập lại, rồi đến chiến tranh chống Mỹ. Máy bay Mỹ kéo đến ném bom bắn phá. Quê hương mẹ trai gái lại lên đường. Thằng Ớt, đứa con đầu lòng học hết lớp 10, đang ôn thi đại học làm đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ, rồi vào chiến trường miền Nam. Thằng con thứ hai là Cay lại theo anh lên đường ra trận.

Chương 4: Cảnh quê hương mẹ với gốc đa bến nước sân đình, những biểu tượng văn hóa làng quê gắn bó. Mẹ nhớ bến sông, nơi anh Yên đã hát dân ca quan họ, đã anh dũng hy sinh, nới in dấu chân các con mẹ đi mò cua bắt ốc, nơi cánh đồng lúa bát ngát mênh mông la lã cánh cò. Nơi làng quê gắn bó với nhau khi:

Một nhà có thư, suốt cả canh thâu

Mọi người đến hỏi thăm, chia sẻ

Một nhà nhận tin xót đau

Cả làng khăn tang, dâu bể..”

Đất nước có hậu phương như thế, kẻ thù nào có thể đè bẹp được?

Chương 5: Thằng Cay con của mẹ nằm xuống nơi chiến trường phía Nam, nhưng mộ nơi đâu? Mẹ lại lăn lội vào chiến trường tìm con. Miền Đông, miền Tây, nơi nào là mồ con của mẹ? Mẹ gặp bà má miền Nam cũng có con hy sinh nơi địa đầu Tổ quốc, chống quân Trung Quốc xâm lược:

“Không chỉ thế, bao bà mẹ héo hon

Gửi những đứa con

Từ miền Nam ra, gửi thân nơi đất Bắc

Trên mảnh đất thân thương hình chữ S

Nơi nào cũng có liệt sĩ như chú Yên, thằng Cay...”

Đất nước mấy nghìn năm, chưa bao giờ nguôi tắt ngọn lửa chiến tranh, quân dân vẫn kiên cường chống ngoại xâm giữ gìn bờ cõi. Nơi nào  không có xương máu những người như con mẹ, ngã xuống để giữ gìn sự bình yên và toàn vẹn lãnh thổ.

Sở dĩ tôi phải tóm tắt từng chương của trường ca MẸ để  minh chứng rằng, trường ca này có cốt truyện, có sự kiện, có số phận nhân vật của một anh hùng ca. Còn trường ca theo trào lưu thời thượng hiếm có cốt truyện, tác giả chỉ đưa ra sự kiện rồi phổ vào đó những cảm xúc, những suy tư về thời thế, thậm chí chẳng có triết lý gì. Bởi thế rất nhiều trường ca xuất hiện ồn ào một dạo rồi rơi vào quên lãng. Trường ca của Trần Thế Tuyển viết về mẹ, về số phận của một người mẹ chịu nhiều gian khổ từ thơ bé đến tuổi già. Mẹ tần tảo nuôi con, giúp bộ đội đánh giặc, lại tiễn con vào chiến trường bảo vệ đất nước. Qua người mẹ cụ thể ấy hiện lên bao bà mẹ của quê hương đất nước. Thấy cả hậu phương bao hùng vĩ. Mẹ không bi lụy, dù con mẹ đã ngã xuống nơi trận tiền. Khi gặp bà mẹ miền Nam cũng có con hy sinh nơi biên giới phía Bắc, mẹ càng hiểu về tầm vóc dân tộc ta. Trái tim mẹ trở nên vĩ đại hơn. Mẹ trong trường ca Trần Thế Tuyển đã trở thành biểu tượng của lòng hy sinh vì đất nước.

Nếu cốt truyện như khung sườn của ngôi nhà thì những câu thơ hay được ví như vật liệu cất lên ngôi nhà ấy. Một trường ca hay phải kết dính bởi nhiều câu thơ hay, nó xây đắp nên mỹ cảm vạm vỡ trong tâm trí người  thưởng thức. Truyện Kiều của Nguyễn Du kì vĩ ở đâu? Phải chăng đó là bởi trùng điệp những câu thơ hay:

“Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng…”

Trường ca thường có dung lượng lớn, bởi vậy các tác giả dễ nhiều lời, mà thơ hay yêu cầu phải kiệm lời, phải đa nghĩa, sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật như ẩn dụ, so sánh, “vẽ mây nẩy trăng”... bởi thế, lẩy ra những câu thơ hay trong trường ca càng khó. May thay trong trường ca MẸ của Trần Thế Tuyển  có nhiều câu thơ hay. Anh Yên hay hát dân ca cho dân làng nghe; chắc là mẹ cũng rất cảm tình và thương nhớ anh: Câu thơ da diết trong làn điệu quan họ:

Câu dân ca bay theo ngọn gió

Người ở đừng về, người ơi có nhớ...”

Những người con đã ngã xuống quê mẹ, nơi miền chân sóng:

“Để dòng sông quê mãi mãi ngân nga

Những con sóng như nỗi lòng nhức nhối”…

Và những câu thơ hay khác:

“Tiếng còi tàu thổn thức mỗi đêm

Bao câu hỏi như con thuyền rời bến

Chở mẹ đi trong hạnh phúc, khổ đau”…

“Người thiên hạ uống nước sông nào đây

Mà vồng ngực như trái chín”…

“Các anh không về

Hoa gạo như máu người nhuộm đất”…

“Mảnh vườn và ánh trăng như trời và đất

Như con trai, con gái làng ta”…

Đôi khi cũng cần có những câu thơ nghe trái ngược, như “phi lý hình thức trong hợp lý nội dung:

“Tiếng khóc trẻ thơ như báo hiệu xuân về…”

Trường ca cần lắm nhưng câu thơ có tính khái quát, khái quát từng đoạn, từng chương, thậm chí khái quát cả trường ca để đúc kết nên một vấn đề, một triết lý thời đại. Những kiểu khái quát sâu sắc như:

“Đất nước là nơi ta hò hẹn

Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm…”

(Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm).

“Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn...”

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? - Chế Lan Viên)

Trong trường ca MẸ của Trần Thế Tuyển cũng có những câu thơ khái quát hay như:

“Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc

Hồn bay lên hóa linh khí quốc gia

“Bao người vợ đêm đêm trông ngóng

Nỗi đợi chờ thành cổ tích, dân ca”...

Trường ca MẸ của Trần Thế Tuyển lôi cuốn người đọc bởi cảm xúc dạt dào của tác giả trước người mẹ hy sinh trọn đời cho quê hương đất nước. Cảm tưởng như tác giả xuất thần bật lên những câu thơ hay, làm trường ca lung linh, mang hơi thở của cuộc sống, của thời đại. Những khái quát phần cuối của Trường ca MẸ khá sâu sắc, rất ấn tượng, nâng tầm cho toàn bộ tác phẩm vượt lên. 

Nguồn: Văn nghệ số 32 (ngày 6/8/22)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm