TIN TỨC

Beijing lá phong vàng (10) - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-10-03 08:41:42
mail facebook google pos stwis
1022 lượt xem

Nguyễn An sinh năm Tân Dậu ở vùng Hà Đông trấn Sơn Tây. Mười sáu tuổi đã có biệt tài kiến trúc và tham gia hiệp thợ xây dựng các cung điện kinh thành Thăng Long.

Nhà văn Nguyễn Linh Khiếu

 

Nguyễn An

 

Người dẫn đường giới thiệu trong những Tổng công trình sư xây dựng Tử Cấm Thành có một người Việt tên là A Lưu. Tìm hiểu mới biết A Lưu là tên Tàu. Tên Việt của ông là Nguyễn An (1381-1453). Ông là một hoạn quan nổi tiếng về kiến trúc và trị thủy.

Nguyễn An sinh năm Tân Dậu ở vùng Hà Đông trấn Sơn Tây. Mười sáu tuổi đã có biệt tài kiến trúc và tham gia hiệp thợ xây dựng các cung điện kinh thành Thăng Long.

Sau khi đánh bại nhà Hồ nước ta nhà Minh bắt triều đình Hồ đưa về Trung Quốc. Đồng thời tìm bắt những trai tráng tuấn tú tài năng đưa về Tàu làm nô lệ. Nguyễn An nằm trong số ấy và bị thiến làm thái giám hầu hạ trong cung cấm.

Khi đó nhà Minh dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh (đổi là Bắc Kinh) và xây dựng lại toàn bộ kinh đô. Nguyễn An khi đó 30 tuổi là hoạn quan hầu hạ Minh Thành Tổ. Vua biết ông có biệt tài kiến trúc đã tin dùng ông làm Tổng công trình sư xây dựng Tử Cấm thành. Hơn 20 năm sau khi Minh Anh Tông cho tu sửa Tử Cấm thành một lần nữa Nguyễn An lại được giao nhiệm vụ Tổng công trình sư. Theo sử sách sau này mỗi khi mở mang thành Bắc Kinh tu sửa chỉnh đốn bổ khuyết Nguyễn An đều được tín nhiệm giao phó toàn quyền.

Công việc của ông xem ra là phức hợp. Ông gồm cả nhiều nhà. Nhà kiến trúc sư nhà quy hoạch kỹ sư thi công nhà chế tác vật liệu xây dựng nhà quản lý dự án… Ông được tôn vinh kiến trúc sư trưởng thành Bắc Kinh là thế.

Ngoài ra ông còn là một tổng công trình sư trị thủy sông Hoàng Hà sông Tắc Dương sông Trạch Chư sông Trương Thu và nhiều con sông hung hãn khác. Công việc trị thủy chống lụt vô cùng vất vả và ông đã chết tại công trường năm 1453.

Nhìn cung điện lâu đài nguy nga tráng lệ rồng bay phượng múa ở Bắc Kinh do Nguyễn An góp phần xây dựng tự hào thì tự hào thật nhưng sao quá đỗi bùi ngùi. Người Việt mấy ngàn năm bang giao với người Tàu thật lầm than cay đắng đau xót biết bao.

 

Ông Trọng

Nguyễn An không phải là người Việt đầu tiên nổi tiếng ở Trung Hoa. Tương truyền đời Hùng Vương 18 có người tên Lý Thân thường gọi Lý Ông Trọng quê làng Chèm Từ Liêm. Khi đẻ ra đã rất to lớn. Cao đến 2 trượng 3 thước tính tình hung hãn. Hay giết người. Tội đáng chết. Hùng Vương tiếc Trọng phi phàm sức địch muôn người không nỡ giết.

Tần Thủy Hoàng muốn cất binh đánh ta. An Dương Vương bèn đem Trọng cung tiến cho Nhà Tần. Tần Thủy Hoàng mừng lắm bèn phong cho chức Tư lệ hiệu úy. Khi quân Hung nô đánh chiếm phía Bắc. Tần Thủy Hoàng đã cử Trọng cầm quân trừ giặc. Trọng sức địch muôn người nhiều lần đánh tan quân Hung nô. Giặc nghe thấy tên ông đều kinh hồn bạt vía mà không dám xâm phạm bờ cõi nước Tần nữa. Ông Trọng được phong Vạn Tín Hầu.

Khi cao tuổi ông xin về quê dưỡng già. Biết tin ông đã về quê giặc Hung nô lại kéo sang xâm phạm bờ cõi. Nhà Tần sai sứ sang gọi nhưng ông không muốn đi cho người nói đã chết. Vua Tần đành đúc tượng ông khổng lồ mấy chục người chui vào được và để ở cửa Kim Mã thành Hàm Đan. Giặc Hung nô tưởng ông Trọng đã sang nên rút quân không dám xâm phạm nữa.

Nghe nói sau này những pho tượng lớn đều được người Tàu gọi là tượng Ông Trọng. Sau khi hóa ở quê ông được nhân dân xây đền thờ. Đời nào cũng tấn phong. Ông thường hiển linh cầu cúng rất linh ứng.

Oai hùng quyền cao chức trọng như Ông Trọng vẫn bỏ hết để về quê hương. Một người gây dựng công danh sự nghiệp ở xứ người lại được xứ mình tôn vinh thờ cúng ngàn năm. Dân gian thần kỳ biết bao.

 

Chư hầu

Cũng nhân chuyện Nguyễn An mà chợt nhớ hôm đến Vietnam Service china radio - Ban tiếng Việt của đài Quốc tế Trung Quốc. Các bạn Trung Hoa tiếp đón vô cùng nồng nhiệt. Cùng nhau nói tiếng Việt chung một ngôn ngữ nên tình cảm thật thắm thiết thân tình.

Trong những cán bộ của Ban có một Phó Giám đốc là người quê Thanh Hóa. Anh vốn là dân Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. Đồng môn với mình. Mọi chuyện càng trở nên thân thiết.

Chớt nghĩ nếu cùng nói chung một thứ tiếng thì đi lại trò chuyên giao hảo dễ dàng gắn bó thân thiết với nhau hơn. Không chung tiếng thì có quý nhau mấy cũng đành xa lánh nhau.

Mấy nghìn năm mình và Trung Hoa chung một thứ chữ Hán. Vì vậy từ Lý Ông Trọng/ Nguyễn An/ Tuệ Tĩnh/ Mạc Đĩnh Chi… đến Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn đi lại thông thương hai nước như một. Khi làm tướng nước người khi làm tướng nước mình chả phân biệt gì. Các nhà cách mạng hiện đại Việt Nam đều lấy phía Nam Trung quốc làm địa bàn hoạt động. Thoắt ẩn thoắt hiện khi ở Tàu khi ở ta nào có giấy má thông hành ngoại giao gì đâu.

Nhìn lại hàng nghìn năm đều thế. Chỉ có mấy chục năm nay nước mình mới thật sự từng bước thoát ra khỏi quỹ đạo chư hầu phiên thuộc nước Tàu. Đó một phần cũng là nhờ ở cái chữ quốc ngữ. Nhờ chủ kiến của nhà lãnh đạo. Nhờ tinh thần tự chủ ngàn năm của dân tộc. Nếu cứ Ní hảo mãi thì đến bao giờ mới độc lập tự do được.

Cơ hội ngàn năm có một này liệu dân tộc Việt có hoàn thành sứ mệnh lịch sử trở thành một quốc gia độc lập tự chủ được không. Mấy ngàn năm rồi dù có tên nước nhưng thực ra cũng chỉ là quận huyện phiên thuộc chư hầu của cái anh đại Hán. Thời đại này có chấm dứt được kiếp chư hầu của Bắc quốc được không./.

Nguyễn Linh Khiếu

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm
Xuân tha hương..
Bao năm sống nơi xứ người, tóc đã thay màu, đôi chân mòn mõi theo từng bước đường lập nghiệp, trái tim kẻ tha hương vẫn quay quắt hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Giữa nhịp sống ồn ã của trời Tây, nhiều lúc tôi thấy lòng mình chùng xuống, như ai đó vừa gọi khẽ tên mình từ bờ sông tuổi thơ xa lắc.
Xem thêm
Vó ngựa vùng quê - Bút ký Nguyễn Sự
Cù lao Thới Sơn, phường Thới Sơn (tỉnh Đồng Tháp) được khai thác du lịch từ năm 1988. Do đặc thù vùng sông nước, miệt vườn cho nên doanh nghiệp đã liên kết hộ nhà vườn để đầu tư khai thác du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với nhiều sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, du khách đến đây được đi xe ngựa len lỏi vào các tuyến đường nông thôn, vườn cây ăn trái.
Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm