TIN TỨC

Bên sông, thành phố trẻ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-04-29 13:58:27
mail facebook google pos stwis
2926 lượt xem

Bút ký: NGUYỄN MINH NGỌC

Tôi chào đời bên hữu ngạn dòng Lam. Hơn 40 năm trong quân ngũ, dù ra Bắc hay vào Nam, đi tới đâu tôi cũng mê đắm những dòng sông, từ Hồng Hà đỏ nặng phù sa, sông Mã hùng vĩ ở xứ Thanh, đến Hương giang êm đềm xứ Huế; rong ruổi trẩy xuôi về phương Nam qua sông Tiền, sông Hậu, cho tới sông Ông Đốc ở tận chót cùng đất nước. Mỗi khi có dịp “cận giang”, tôi thường lặng người ngắm miên man dòng chảy. Và giờ đây, nhà tôi ở ngay bờ sông Sài Gòn, có lẽ đó là chút cơ duyên…

Sau nhiều năm là cư dân ở một phường thuộc địa đầu quận Thủ Đức trước kia và nay là thành phố Thủ Đức, dẫu nhà ở cạnh bến sông nhưng thú thực, tôi chưa một lần được di chuyển bằng đường thủy. Thế nên, khi hay tin có chương trình sẽ có một chuyến đưa anh em văn nghệ xuôi ngược sông Sài Gòn thì háo hức lắm. Cả đoàn hối hả tụ về bến Bạch Đằng, ngay phía trước tượng Đức Thánh Trần uy nghiêm. Ngay bờ bên kia đã là địa phận của Thủ Đức rồi...

Đây là nơi mà hơn nửa thế kỷ trước, để trả thù cho chiến sĩ biệt động Trần Văn Đang vừa bị xử tử hình, đêm 23-6-1965, hai chiến đấu viên của Đội biệt động 67 (Đoàn F100) táo bạo dùng mìn ĐH 10 tập kích Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh neo đậu tại bến thuyền, giáng một đòn trừng phạt khiến cho kẻ địch choáng váng. Giờ đây, nhà hàng Mỹ Cảnh không còn nữa, dấu tích chiến trận cũng đã lùi sâu vào dĩ vãng. Bến Bạch Đằng là một bến thuyền thanh bình, yên ả, thu hút du khách thập phương lui tới vãn cảnh trên sông.

Tàu chưa kịp rời bến, trời đã thử lòng người bằng một trận mưa tầm tã. Ngó qua cửa kính, mưa giăng giăng khiến cho cả không gian xám xạm, ướt át, tầm nhìn rất bị hạn chế. Từ trên cao ngắm nhìn sông Sài Gòn uốn lượn nom tựa như chiếc đãy khổng lồ của một vị thương gia, vừa mềm như lụa, lại vừa rất đỗi rủng rỉnh, hào phóng. Những người rành rẽ địa danh liên tục nhòm ra bên ngoài, thi thoảng lại nhắc, đến cửa sông Soài Rạp rồi nhé. Ai đó khe khẽ đọc: “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”, cảm như ngược dòng lịch sử lên tận thời gian mà các bậc tiền nhân bạt lau lách mở cõi phương Nam.

Các cựu đặc công Đoàn 10 từng kể với tôi rằng đứng ở chỗ dòng chảy chia hai này, nơi hợp lưu của các con sông Nhà Bè, Lòng Tàu, Soài Rạp, Sài Gòn, nhìn lên hướng đông bắc là xứ “cọp Biên Hòa”, còn ngoảnh về phía đông nam là xứ “ma rừng Sác”, nơi bạt ngàn cây dừa nước, lá xanh óng hiên ngang. Nhìn từng giề lục bình xanh mướt lững lờ trôi trên sông, chợt nhớ và nghĩ về địa bàn tác chiến của đặc công Rừng Sác anh hùng thời đánh Mỹ. Những người lính mình trần, thân trụi, bơi lặn giỏi như rái cá, đã từng nhấn chìm hàng trăm chiếc tàu vận tải cỡ lớn của địch, chuyên chở trang bị vũ khí, khí tài phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược. Cuộc chiến không cân sức, việc “chặn cổ sông Lòng Tàu” của các chiến sĩ đặc công năm xưa, chặt đứt con đường vận chuyển huyết mạch của kẻ thù, diễn ra đầy bi tráng và lẫm liệt… Tàu lướt qua Tân cảng Cát Lái, dưới lướt thướt làn mưa nặng hạt, vẫn nhìn rõ những con tàu vận tải cỡ lớn xếp lớp dặc dài chờ vào “ăn” hàng, từng khối container san sát rộng dài ngút tầm mắt đem lại cái cảm giác tin cậy, rằng ở một góc độ nào đó thì nền kinh tế đất nước vẫn âm thầm trụ vững qua đại dịch.

Bất giác tôi nhớ trong “Gia Định thành thông chí”, ở quyển II “Sơn xuyên chí” (Chép về núi sông), Trịnh Hoài Đức viết: “Núi non là xương của đất, sông nước là máu của đất, núi sông ấp ủ sinh dưỡng lưu thông, mà tạo nên đất đai một phương vậy. Những bậc anh hùng hào kiệt, trung thần liệt nữ cũng nhân đó mà sản sinh ra”. Đem những dòng trên vận vào vùng đất và con người Thủ Đức từ thưở các bậc tiên hiền đưa lưu dân vào cùng chung lưng đấu cật khai thiên phá thạch mới thấy cái tầm của cụ Cấn Trai thật mênh mông và thẳm sâu đến nhường nào! Uyên thâm, cổ kính mà vẫn rất hiện đại.

Ngó ra bên ngoài, sóng vẫn sóng duềnh lên, nước tràn bờ, ngầu đục. Con tàu nhỏ nhồi lắc, chòng chành, có lúc chồm lên tựa như ô tô vấp ổ gà trên đường đất vậy. Con tàu từ từ quay mũi đưa đoàn văn nghệ sĩ trở lại nơi xuất phát ban đầu. Mưa, vẫn mưa ầm ào như trút nước. Không khí đến là dễ chịu, pha chút lạnh se. Người tài công điệu nghệ đánh vô lăng đưa chiếc tàu nhỏ nhẹ nhàng cập mạn một chiếc tàu lớn hơn đương mở rộng cửa. Từng người lập cập chuyển qua, yên vị để tiếp tục hành trình mới theo nhánh sông phía tây, ngược lên cầu Sài Gòn, lượn vòng qua bán đảo Thanh Đa, luồn dưới cầu Kinh, theo luồng lạch nhẹ lướt qua cầu Bình Triệu. Từ xa, đã thấy nổi bật trên nền trời hoàng hôn cái vòm cong đỏ màu kiêu hãnh của cây cầu vắt ngang sông Sài Gòn, nằm trên đại lộ Phạm Văn Đồng, chạy song song với cầu đường sắt Bình Lợi… Mưa thưa thớt, rồi ngớt dần.

*

Trong một chuyến ngược ra biên ải, tôi có dịp đến tận nơi sông Sài Gòn phát nguyên từ địa phận huyện Lộc Ninh của tỉnh Bình Phước. Mới thấy hết sự biến thiên kỳ vĩ của dòng chảy con sông, qua mỗi chặng ngày trước có những tên gọi khác nhau. Từ đầu nguồn về đến chợ Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương) gọi là sông Ngã Cái. Đoạn từ đất Thủ xuôi về mạn cầu Bình Triệu, cạnh nhà tôi, có tên là sông Thủ Khúc. Quãng từ cư xá Thanh Đa đến chỗ đổ vào sông Đồng Nai (Thạnh Mỹ Lợi, Thủ Đức) là sông Sài Gòn hay còn gọi là sông Bến Nghé (Ngưu Chữ giang), sách “Gia Định thành thông chí” ghi là Tân Bình giang.

Đầu năm 2006, tôi mua lại được căn nhà cấp 4 từ một ông già gốc gác mãi tận Thái Bình, bấy giờ cả gia đình chủ nhân đương định cư ở nước ngoài. Trong mảnh vườn be bé, tôi vẫn thường kê chiếc bàn nhỏ, cùng bạn hữu nhâm nhi ly rượu nếp quê. Cà kê nói chuyện vùng đất nơi mình đương cư ngụ. Hóa ra nó được hình thành từ hơn 300 năm trước. Suốt chiều dài ấy, cùng với những biến thiên của lịch sử, địa giới hành chính cũng nhiều lần đổi thay. Thủ Đức vốn là một huyện của tỉnh Gia Định. Nhưng vậy thì danh xưng Thủ Đức có tự bao giờ? Nghe nhiều, song để xác tín, cánh tôi rủ nhau phóng xe lên khu phố 4, phường Linh Chiểu, tìm đến ngôi mộ cổ có hình “Ngưu miên” (trâu mọp) khu dân cư đông đúc trên đường số 10, thì mới sáng sự lẽ. Ấy là nơi an nghỉ của người có công lớn với vùng đất này buổi từ buổi đầu. Ngài là Tạ Dương Minh (Tạ Huy) hiệu Thủ Đức, một người Minh Hương mang tư tưởng “phản Minh, phục Thanh” đến đất này và được triều đình Nguyễn chấp thuận. Trấn thủ cả vùng đất rộng, ông vỗ về dân chúng, cho lập chợ Thủ Đức, ngôi chợ đầu tiên trên địa bàn, trường tồn và phát triển đến ngày nay. Từ ngôi mộ cổ đến chợ cũng gần, chỉ chừng 500m chứ mấy. Hiện tại, các bài vị và án thờ ông vẫn được hậu thế lưu giữ và khói hương tại đình Linh Đông, Linh Chiểu. Tương truyền, tên hiệu của ông được lấy làm địa danh của một trong bốn huyện thuộc tỉnh Gia Định xưa. Năm 2007, ngôi mộ của bậc tiên hiền này được UBND Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố.

Trước ngày giải phóng, huyện Thủ Đức có 15 xã và 184.989 dân. Ngày 10-5-1975, Thường vụ Thành ủy Sài Gòn - Gia Định họp và quyết định một số vấn đề về tổ chức. Trong đó, khẳng định thành phố Sài Gòn - Gia Định là một cơ cấu thống nhất bao gồm 21 quận, trong đó có 14 quận nội thành và 7 quận ngoại thành. Trước đây, ở nội thành gọi là quận, ngoại thành gọi là huyện; nay thống nhất tên gọi là quận: quận nội thành và quận ngoại thành[1]. Thủ Đức thuộc về quận ngoại thành. Danh xưng đơn vị hành chính là vậy, nhưng về cơ bản, Thủ Đức vẫn là một huyện nông nghiệp, có địa bàn trải rộng, song dân cư hãy còn thưa thớt. Tuy nhiên, sau ngày Quốc hội quyết định đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh (2-7-1976) thì các đơn vị hành chính cũng dần có sự thay đổi theo.

Nhớ thời bao cấp, 10 năm đầu sau ngày giải phóng, đất nước đứng trước muôn vàn gian nan, thử thách, cơ cực nhất vẫn là giải quyết cái ăn, cái mặc của người dân và hàng hóa tiêu dùng cho toàn xã hội. Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh chủ trương làm thí điểm bù giá vào lương, bán gạo theo hệ thống một giá cho cán bộ, công nhân, viên chức và các đối tượng khác được hưởng tiêu chuẩn cung cấp lương thực. Quận 10 và huyện Thủ Đức được chọn làm thí điểm để rút kinh nghiệm. Thủ Đức là huyện ngoại thành có nhiều cơ quan, xí nghiệp, trường học của cả Trung ương và Thành phố, có số lượng cán bộ, công nhân, viên chức và người ăn theo ở mức độ trung bình (trên 65.000 người). Sau một thời gian thực hiện, kết quả nổi bật là tiết kiệm được một phần lương thực, làm cho quỹ lương thực của Nhà nước dôi ra, tạo khả năng tham gia thị trường, góp phần kiềm và giữ giá lương thực, đẩy lùi những tiêu cực vốn có từ chính sách hai giá gây nên. Trong 3 tháng thí điểm, huyện Thủ Đức, cân đối giữa số tiền bù phát ra với số lương thực đã bán còn dư trên 69 tấn. Tình trạng bán gạo cung cấp ra thị trường không còn nữa. Việc bán lương thực một giá thay cho chế độ cung cấp làm giảm nhẹ bộ máy trong ngành lương thực rất đáng kể. Trước đây, Phòng Lương thực huyện Thủ Đức cần hơn 200 người, nay cửa hàng lương thực vừa làm nhiệm vụ cung cấp vừa làm nhiệm vụ kinh doanh chỉ cần 100 người, số biên chế giảm một nửa[2]. Đây là bước bứt phá của Thành phố nói chung, huyện Thủ Đức nói riêng, mạnh dạn sáng tạo tìm lối ra trong đêm trước của công cuộc đổi mới.

Khi nói đến địa danh Thủ Đức thì không thể nào không nhắc tới cây cầu sắt Rạch Chiếc lịch sử, nơi diễn ra trận đánh cuối cùng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, đêm 29 rạng ngày 30-4-1975 của Lữ đoàn 316 đặc công biệt động. Trong trận ác liệt chiến ngay trước cửa ngõ Sài Gòn, 52 cán bộ, chiến sĩ ta đã vĩnh viễn nằm lại nơi vàm sông này. Đầu năm 2006, một tấm bia màu huyết dụ được dựng lên ngay tại bến vượt, cận chân cây cầu cũ. Từ bấy trở đi, đến ngày 27-4 hằng năm, tại đây có lễ giỗ trận, anh em đồng đội và đông đảo người dân quây quần về thắp nén nhang tưởng niệm các liệt sĩ đã dâng hiến cả tuổi thanh xuân để bảo vệ cây cầu cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, để có ngày hôm nay, đất cho ngọt lành cây trái; những cây cầu mới lừng lững, nhiều tòa nhà cao tầng san sát mọc lên mang dáng vẻ của một đô thị mới. Ở một góc nhớ khác, “Làng đại học Thủ Đức” có lẽ là một địa danh độc nhất vô nhị trên toàn quốc. Nó mãi vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức bao thế hệ sinh viên, từng một thời buồn vui gắn bó và chẳng thể nào quên. Từ đây, những cô gái, chàng trai hăm hở tỏa về khắp các tỉnh thành, đem tri thức khoa học và khát vọng tuổi trẻ góp sức xây đời. Trong số họ, không ít người gắn bó với thành phố mang tên Bác Hồ và trở thành công dân của thành phố năng động nhất nước với nhiều đóng góp không nhỏ.

Cùng với sự phát triển chung, đầu năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 03-CP giải thể huyện Thủ Đức để lập ra 3 quận mới, gồm quận Thủ Đức, Quận 2 và Quận 9. Sau 23 năm chia tách, mỗi đơn vị hành chính đều đạt được những thành quả đáng khích lệ. Chính tiềm năng và thế mạnh riêng của từng quận là tiền đề quan trọng để lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất ý tưởng lập thành phố phía Đông, một đô thị sáng tạo. Tuy nhiên, mới đầu không ít người tỏ vẻ lạ lẫm, thậm chí là còn nghi ngại. Ngay cả khi tiến hành bỏ phiếu lập thành phố Thủ Đức, dẫu có rất nhiều tờ bướm truyền thông được in khá đẹp, song không phải ai cũng nhận thức được đầy đủ; có người cho rằng thì trở lại “huyện Thủ Đức” ngày xưa chứ đâu có gì mới mẻ? Vấn đề ở đây không phải là một sự tách, nhập cơ học, mà là một sự “lột xác” toàn diện về chất, nâng tầm không chỉ về diện mạo một thành phố trẻ trong lòng một thành phố lớn vào loại đô hội nhất nước, mà còn là sự vượt trội về cả tầm nhìn cũng như tư duy đầy sáng tạo.

Hội nghị lần thứ 43 Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, khóa X (2015-2020) đã thông qua nghị quyết, trong đó có nội dung lập “Thành phố Thủ Đức” cho khu Đông. Chính phủ cũng đã trình lên Quốc hội Đề án thành lập thành phố Thủ Đức. Ngày 9-12-2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV ban hành Nghị quyết số 111/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và thành lập thành phố Thủ Đức.

Nhìn trên bản đồ, thành phố mới nom tựa chiếc khánh vàng. Địa giới của thành phố Thủ Đức giáp với Quận 1, Quận 4, Quận 7 và quận Bình Thạnh; cũng như tiếp giáp với các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai. Với 34 phường, diện tích tự nhiên 211,56km2 và quy mô dân số hơn 01 triệu người, “thành phố” trong thành phố là mô hình mới mẻ và táo bạo, lần đầu tiên được triển khai trong nước. Tuy nhiên, ở tầm châu lục cũng đã có các hình mẫu thành công tại Gangnam (Seoul - Hàn Quốc), phố Đông (Thượng Hải - Trung Quốc) để tham chiếu, học hỏi những tinh hoa xứ người. Với hai con sông lớn, Sài Gòn và Đồng Nai uốn lượn bao quanh, miệt mài vun đắp sa bồi và khoáng chất, tạo nên những thảm xanh trù phú, có lẽ địa thế của thành phố Thủ Đức ít có nơi nào sánh được!

Với các trụ cột như: Khu công nghệ cao, Đại học Quốc gia TP. HCM, Khu đô thị mới Thủ Thiêm; rồi ga Bình Triệu, bến xe Miền Đông mới; xa lộ Hà Nội, trục giao thông huyết mạch song hành với tuyến Metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên… sẽ tạo nên một diện mạo mới cho thành phố trẻ. Nơi đây sẽ là trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ; trung tâm giáo dục đào tạo nhân lực có trình độ và chất lượng; trung tâm sản xuất kinh doanh các sản phẩm hàng hóa dịch vụ công nghệ cao.

Vạn sự khởi đầu nan!

Thành phố mới được hình thành và đi vào hoạt động, bộ máy còn nhiều bất cập, chưa thể vận hành trơn tru ngay được. Từ mục tiêu tổng quát, xây dựng và phát triển thành phố Thủ Đức “trở thành đô thị thông minh, sáng tạo; có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình; phát triển nhanh, bền vững”, Nghị quyết Đảng bộ thành phố xác định, đến năm 2025, phấn đấu hoàn thiện cơ chế, chính sách chung của thành phố Thủ Đức. Từng bước quy hoạch, chuẩn bị nguồn lực, đất đai đầu tư phát triển 08 khu chức năng, gồm: Trung tâm tài chính gắn với Khu đô thị mới Thủ Thiêm; Trung tâm liên hợp thể dục thể thao Rạch Chiếc; Trung tâm sản xuất ứng dụng công nghệ cao; Trung tâm giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ; Trung tâm khởi nghiệp sáng tạo; Trung tâm công nghệ sinh thái - Khu vực Tam Đa và Long Phước; Trung tâm giao thông kết nối vùng Đông Nam bộ và cảng Cát Lái - Phú Hữu; Khu đô thị sáng tạo Trường Thọ. Đây cũng chính là các khu đô thị trong tương lai. Kỳ vọng thành phố Thủ Đức sẽ trở thành khu vực dẫn dắt kinh tế, trong đó mũi nhọn là kinh tế tri thức, thúc đẩy sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh và cả vùng Đông Nam bộ. Phấn đấu đóng góp từ 1/3 tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của TP. HCM, tương đương khoảng 7% tổng sản phẩm nội địa (GDP) cả nước.

Nhờ có cơ sở hạ tầng giao thông phát triển, thành phố Thủ Đức có tiềm năng rất lớn về du lịch cả đường bộ lẫn đường thủy. Trên địa bàn thành phố có 23 di tích được xếp hạng, gồm các di tích lịch sử - cách mạng, di tích lịch sử - nghệ thuật và di tích kiến trúc nghệ thuật. Đặc biệt, những di tích lịch sử - nghệ thuật cấp Quốc gia nổi tiếng như Đình Phong Phú, Đinh Linh Đông, Chùa Hội Sơn… càng làm cho địa tầng văn hóa của Thủ Đức trở nên rộng dài và sâu thẳm. Trong số di tích các di tích cấp Thành phố, không thể không nhắc đến Căn cứ Vùng Bưng 6 xã nức tiếng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ. Cùng với bót Dây Thép, nếu được tôn tạo và tổ chức kết nối tốt, vùng Bưng 6 xã sẽ trở thành một trong những điểm “về nguồn” hấp dẫn, giúp các thế hệ hôm nay và cả mai sau hiểu thêm về quá khứ đấu tranh hào hùng của dân tộc, như một cách “giữ lửa”. Độc đáo hơn cả là Công viên văn hóa lịch sử dân tộc hoành tráng và bề thế, tọa lạc ở phường Long Bình và một phần thuộc huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Với hơn 400 hecta, được Nhà nước quan tâm, đầu tư quy mô, đây là nơi tôn vinh các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam. Công viên gồm 4 khu vực, tái hiện lại toàn bộ lịch sử đất nước từ khởi thủy đến thời đại Hồ Chí Minh. Trong đó, nổi bật là khu tưởng niệm các Vua Hùng và mới nhất là Đền thờ Đức Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Nơi đây được kỳ vọng là tâm điểm giáo dục truyền thống lịch sử văn hóa cho mọi người dân, đặc biệt là lớp trẻ, thấu hiểu đặng chung sức, chung lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giàu đẹp.

Quyết tâm của lãnh đạo nhận được sự đồng thuận của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Được lòng dân, vì dân thì sẽ có tất cả, bài học rất xưa nhưng chắc chắn sẽ không bao giờ cũ! Bởi lẽ “Đất lành chim đậu!”.

*

Chặng cuối cuộc hành trình, trời ráo hoảnh. Hoàng hôn trên sông trở nên trong veo. Con tàu cập bến thuyền rực rỡ ánh đèn, nhiều người ngỡ ngàng bước lên bờ. Đây là đâu? Thưa, là Vạn Phúc City, một trong những khu đô thị đẳng cấp với quy mô gần 200 hecta, tọa lạc bên sông Sài Gòn thuộc địa bàn thành phố Thủ Đức. Những chiếc xe điện bon nhanh, lướt nhẹ êm đưa các thành viên đi một vòng chiêm ngưỡng khu đô thị sinh thái ven sông kiểu mẫu. Thực mục sở thị các khu nhà ở cao cấp, hiện đại và sang trọng với không gian sống xanh lý tưởng, chỉ nghe những tiếng trầm trồ, ao ước. Có lẽ khó có ngôn từ nào để diễn tả hết tầm vóc của một khu đô thị mang phong cách kiến trúc châu Âu, đẹp mê hồn. Trong một phần tư thế kỷ thiết lập nền tảng, phát triển vững mạnh, Vạn Phúc Group đã khẳng định được đẳng cấp và vị thế của mình. Với việc đầu tư 3.500 tỷ đồng, Vạn Phúc City lọt vào Top 10 khu đô thị đáng sống nhất Việt Nam 2019 (do Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam - Reatimes bình chọn năm 2020) và trở thành một điểm đến lý tưởng tại thành phố Thủ Đức. Suy rộng ra, từ những điểm sáng như vậy, với tiềm năng nhiều mặt và tiềm lực của nền kinh tế tri thức, trong một tương lai gần, thành phố trẻ phía Đông sẽ là một nơi rất đáng sống.

N.M.N

Báo Văn nghệ (Hội Nhà văn VN) số 18+19


[1] Xem để biết rồi bỏ: Thông báo của Thường vụ Thành ủy SG-GĐ, ngày 23-5-1975. (Bản lưu Văn phòng Thành ủy).

[2] Xem rồi bỏ: Văn bản số 244 ngày 8-6-1985 của Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM. (Lưu tại VP. Thành ủy).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm