TIN TỨC

“Lý Sơn yêu dấu” – Bản tình ca về biển đảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-11-27 22:27:52
mail facebook google pos stwis
1948 lượt xem

Phạm Văn Hoanh

 “Lý Sơn yêu dấu” là tuyển tập thơ văn thứ hai, sau tập “Biển gọi ta về” của nhóm biên soạn: Hồ Nghĩa Phương, Lucinda Nguyen, Trần Tín, Nguyễn Khiêm, được Nhà Xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào tháng 10 năm 2024.

Tuyển tập gồm 81 tác giả thuộc nhiều chuyên ngành: Văn học, Mĩ thuật, Nhíp ảnh, Âm nhạc… ở Quảng Ngãi và và một số tác giả ngoài tỉnh, không chỉ là tiếng lòng của những người yêu biển đảo quê hương mà còn mang đến người đọc cái nhìn toàn diện về Lý Sơn, nơi không chỉ nổi tiếng bởi vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, mà còn là nơi chứa đựng những câu chuyện lịch sử hào hùng, lòng yêu nước và tình người nồng ấm.

Đọc các truyện ngắn, bút kí, tạp bút, khảo cứu, thơ, bình thơ… trong “Lý Sơn yêu dấu”, ta thấy mỗi tác giả có cách cảm nhận riêng về vùng đất Lý Sơn qua ngôn từ và hình ảnh sáng tạo đã đem đến những câu chuyện và góc nhìn phong phú về lịch sử và văn hóa của Lý Sơn. Đọc bài khảo cứu “Lý Sơn và Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa” của Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, người đọc như được tận mắt nhìn thấy Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, một nghi lễ truyền thống được tổ chức hàng năm để tưởng nhớ những hùng binh của Hải đội Hoàng Sa kiêm Bắc Hải năm xưa với tinh thần quyết tử để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Bài “Sự tích đảo Lý Sơn và quần đảo Hoàng Sa” của Lê Hồng Khánh kể lại truyền thuyết và những sự kiện lịch sử, gắn liền với tinh thần gìn giữ chủ quyền biển đảo của dân tộc. Bút kí “Lý Sơn nhìn từ biển” mang đến người đọc những góc nhìn sâu sắc về Lý Sơn. “Trong lúc bình minh và hoàng hôn nhìn hai đảo trông thật lung linh huyền ảo. Đâu đó những tàu thuyền đánh cá về neo đậu từng dãy rất sinh động, cánh hải âu và những loài chim biển khác chập chờn chao liệng khung cảnh nên thơ.” (Lý Sơn nhìn từ biển – Hồ Nghĩa Phương). Tác giả  miêu tả rất chi tiết và sống động về cuộc sống, phong tục và con người nơi đây trong buổi sáng rạng ngời khi ngư dân ra khơi và lúc hoàng hôn đỏ rực khi các con thuyền nối đuôi nhau về bến, từng cánh chim hải âu sải rộng đôi cánh trên bầu trời xanh thẳm khiến người đọc như được hòa mình vào cuộc sống thanh bình, đầy tình yêu thương của người dân Lý Sơn. Đọc bút kí “Ngày hè trên đảo Lý Sơn” (Phạm Văn Hoanh), “Vòng quanh Đảo Bé” (Trần Thu Hà) người đọc có thể cảm nhận được vẻ đẹp của biển xanh, cát trắng, những ngọn núi, con sóng vỗ bờ và cả lịch sử hào hùng, đời sống bình dị của người dân đảo Lý Sơn. “Đứng trên núi Thới Lới, chúng tôi đã chiêm ngưỡng một bức tranh Lý Sơn toàn màu xanh - màu xanh của nền trời, nước biển, cánh đồng hành, tỏi, rặng dừa, phi lao, cây bàng… Trên màu xanh ấy được điểm xuyết những chiếc thuyền đánh cá nhấp nhô làm cho bức tranh phong cảnh trên đảo thêm phần thi vị.” (Ngày hè trên đảo Lý Sơn - Phạm Văn Hoanh).  Còn tạp bút “Mùa ruốc về trên quê hương làng biển” của Bùi Văn Tạo lại kể về niềm vui mộc mạc của người dân mỗi khi mùa ruốc đến, là khoảnh khắc giản dị mà gần gũi, chứa đựng niềm vui đời thường của những người sống dựa vào biển với món ăn dân dã đậm đà tình quê “Gỏi ruốc thơm ngọt, hương vị đặc biệt, thực khách tha hồ mà thưởng thức với bánh tráng nướng giòn. Tuy có vẻ dân dã, nhưng món ăn này không thua kém các món biển ngon nổi tiếng khác”. (Mùa ruốc về trên quê hương làng biển - Bùi Văn Tạo)

Trong mảng văn xuôi của tuyển tập này không thể bỏ qua những truyện ngắn. Nó như những lát cắt sinh động về cuộc sống và tâm tư của người dân Lý Sơn. Mỗi câu chuyện đều như mang theo làn gió biển, vừa nhẹ nhàng, vừa êm dịu nhưng cũng đầy day dứt, khiến người đọc cảm thấy gần gũi và xúc động. Lucinda Nguyên đã hoài niệm về một mối tình thời học sinh nơi quê nhà với ngôn từ giản dị nhưng gợi được sự đồng cảm nơi người đọc “Trang đã khóc suốt trên quãng đường về. Nhưng nước mắt đâu có làm tan chảy được sự trống vắng và nỗi đau khổ quá lớn trong lòng Trang lúc này...” (Nhật ký người yêu- Lucinda Nguyen). Mai Duy Quý lại thể hiện tình cảm gia đình, nỗi đau xót khi người chị ra đi “Chị đã bỏ nó ra đi về cõi vĩnh hằng… những đồng tiền nó dành dụm để đem về tặng chị, bàn tay run run rơi lả tả như lá vàng rơi rụng chiều thu…” (Hoa cải vàng gió cuốn - Mai Duy Quý). Còn Nguyễn Đông Thạch với “Thư chuyển trong đêm”, “Khoảng trời vàng” lại kể về những câu chuyện tình yêu, nỗi nhớ xa xứ, và những tâm tư riêng của những con người nơi biển cả.

Trong tuyển tập này mảng thơ chiếm phần lớn. Đa số là những bài thơ hay đã thể hiện sự sáng tạo với mỗi bút pháp riêng trong cách sử dụng và vận hành ngôn ngữ trong một nhạc điệu riêng của tâm hồn, gây được sự xao xuyến trong lòng người đọc. Có thể nói ngôn ngữ thơ trong tuyển tập này gắn liền với tâm thức đầy nỗi niềm của những người con xa quê mưu sinh nơi đất khách. Đọc các bài thơ “Đảo Lý yêu thương” (Lucinda Nguyen), “Không xa đâu nơi ấy rất gần” (Nguyễn Mậu Chiến), “Đất nước hình rồng” (Lê Sinh Dân), “Thăm Lý Sơn” (Hương Đài), “Đi về phía biển” (Hồ Nghĩa Phương), “Lý Sơn ngày về” (Hoàng Thân), “Xao xuyến Lý Sơn” (Phan Bá Trình), “Về với đảo Lý Sơn” (Lê Văn Thuận)… ta sẽ thấy rõ điều đó. “Chốn nghìn trùng ta có đảo yêu thương! Năm cụm núi đẹp như bàn tay mẹ/ Bão tố phong ba cùng người chia sẻ/ Giữ biển trời nối mãi biển bờ vui”. (Đảo Lý yêu thương - Lucida Nguyen). Lucinda Nguyen so sánh năm ngọn núi với bàn tay mẹ đã giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp phúc hậu của đảo Lý Sơn. Đảo Lý Sơn qua lời thơ của Lucinda Nguyen không chỉ có vẻ đẹp mà còn là khát vọng tìm về trong khắc khoải nhớ thương của một người con xa quê. Phải nói rằng thơ của các tác giả như từng nhịp đập của một trái tim yêu biển, yêu đảo, và yêu đất nước. Đinh Văn Hồng với “Tháng ba nhớ biển”, Nguyễn Ngọc Hưng với “Theo gió về Lý Sơn”… đã thể hiện niềm tự hào dân tộc: “Đâu phải là huyễn sử/ Lý Sơn mộ gió đầy/ Kìa cột cờ Thới Lới/ Nâng chủ quyền lên mây” (Theo gió về Lý Sơn - Nguyễn Ngọc Hưng). Khôi Nguyên với “Những con người miền đất đảo”, Hà Quảng với “Tháng ba với Lý Sơn”… đã tái hiện cảnh sắc Lý Sơn thật gần gũi và thân thương. Đọc những tác phẩm này ta có thể thấy những chiếc thuyền cá truyền thống đầy màu sắc đang ra vào cảng, mang theo những hải sản tươi ngon. Người dân Lý Sơn sống và làm việc dựa vào biển cả, và nghề cá đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của họ. Họ không chỉ là những người đi biển, mà còn là những người bảo vệ biển cả và duy trì, cân bằng môi trường biển. “Những con người kiên cường tung mẻ lưới thuyền câu/ Tiếp bước cha ông ngày đêm bám biển/ Qua bão giông không nề nguy hiểm/ Đảo là nhà, biển cả trong tim!” (Những con người miền đất đảo - Khôi Nguyên).

Bên cạnh những bài thơ viết về tình yêu quê hương và con người Lý Sơn, các tác giả còn mang đến cảm giác lãng mạn và đậm chất trữ tình, nơi tình yêu và thiên nhiên hòa quyện. Những bài thơ như “Vị mặn trong tim” của Nguyễn Hồng Anh, “Biển chiều” của Nguyễn Mậu Công, “Men tình” của Hoàng Diễm, và “Thắp những yêu thương” của Hạnh Nhi đều thể hiện sự hòa quyện giữa tình yêu lứa đôi và biển cả. Có thể nói, thơ trong tuyển tập này không chỉ ghi lại cảm xúc cá nhân mà còn là lời ngợi ca cho sự thiêng liêng của tình yêu với quê hương biển đảo, nơi từng cơn sóng, ngọn gió đều thấm đẫm hồn quê.

Ngoài ra trong tập sách này còn có những trang cảm nhận và bình thơ của các tác giả Phạm Văn Hoanh, Lê Hữu Có… Những trang phê bình giúp người đọc có cái nhìn đa chiều về tình cảm mà các tác giả đã gửi gắm qua từng tác phẩm.

Đọc những vần thơ, những dòng văn trong tuyển tập “Lý Sơn yêu dấu”, người đọc như được đi du ngoạn trên đảo, lắng nghe tiếng sóng vỗ, ngắm nhìn biển cả xanh thẳm và cảm nhận nhịp sống yên bình nhưng đầy khí phách của một vùng đất anh hùng. Đây là một tuyển tập không chỉ dành riêng cho người yêu văn chương, mà còn là tài liệu quý giá giúp chúng ta hiểu thêm về tình yêu biển đảo, về vẻ đẹp của quê hương Việt Nam qua từng câu chữ của các tác giả tài hoa.

P.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm