TIN TỨC

“Lý Sơn yêu dấu” – Bản tình ca về biển đảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-11-27 22:27:52
mail facebook google pos stwis
1741 lượt xem

Phạm Văn Hoanh

 “Lý Sơn yêu dấu” là tuyển tập thơ văn thứ hai, sau tập “Biển gọi ta về” của nhóm biên soạn: Hồ Nghĩa Phương, Lucinda Nguyen, Trần Tín, Nguyễn Khiêm, được Nhà Xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào tháng 10 năm 2024.

Tuyển tập gồm 81 tác giả thuộc nhiều chuyên ngành: Văn học, Mĩ thuật, Nhíp ảnh, Âm nhạc… ở Quảng Ngãi và và một số tác giả ngoài tỉnh, không chỉ là tiếng lòng của những người yêu biển đảo quê hương mà còn mang đến người đọc cái nhìn toàn diện về Lý Sơn, nơi không chỉ nổi tiếng bởi vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, mà còn là nơi chứa đựng những câu chuyện lịch sử hào hùng, lòng yêu nước và tình người nồng ấm.

Đọc các truyện ngắn, bút kí, tạp bút, khảo cứu, thơ, bình thơ… trong “Lý Sơn yêu dấu”, ta thấy mỗi tác giả có cách cảm nhận riêng về vùng đất Lý Sơn qua ngôn từ và hình ảnh sáng tạo đã đem đến những câu chuyện và góc nhìn phong phú về lịch sử và văn hóa của Lý Sơn. Đọc bài khảo cứu “Lý Sơn và Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa” của Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, người đọc như được tận mắt nhìn thấy Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, một nghi lễ truyền thống được tổ chức hàng năm để tưởng nhớ những hùng binh của Hải đội Hoàng Sa kiêm Bắc Hải năm xưa với tinh thần quyết tử để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Bài “Sự tích đảo Lý Sơn và quần đảo Hoàng Sa” của Lê Hồng Khánh kể lại truyền thuyết và những sự kiện lịch sử, gắn liền với tinh thần gìn giữ chủ quyền biển đảo của dân tộc. Bút kí “Lý Sơn nhìn từ biển” mang đến người đọc những góc nhìn sâu sắc về Lý Sơn. “Trong lúc bình minh và hoàng hôn nhìn hai đảo trông thật lung linh huyền ảo. Đâu đó những tàu thuyền đánh cá về neo đậu từng dãy rất sinh động, cánh hải âu và những loài chim biển khác chập chờn chao liệng khung cảnh nên thơ.” (Lý Sơn nhìn từ biển – Hồ Nghĩa Phương). Tác giả  miêu tả rất chi tiết và sống động về cuộc sống, phong tục và con người nơi đây trong buổi sáng rạng ngời khi ngư dân ra khơi và lúc hoàng hôn đỏ rực khi các con thuyền nối đuôi nhau về bến, từng cánh chim hải âu sải rộng đôi cánh trên bầu trời xanh thẳm khiến người đọc như được hòa mình vào cuộc sống thanh bình, đầy tình yêu thương của người dân Lý Sơn. Đọc bút kí “Ngày hè trên đảo Lý Sơn” (Phạm Văn Hoanh), “Vòng quanh Đảo Bé” (Trần Thu Hà) người đọc có thể cảm nhận được vẻ đẹp của biển xanh, cát trắng, những ngọn núi, con sóng vỗ bờ và cả lịch sử hào hùng, đời sống bình dị của người dân đảo Lý Sơn. “Đứng trên núi Thới Lới, chúng tôi đã chiêm ngưỡng một bức tranh Lý Sơn toàn màu xanh - màu xanh của nền trời, nước biển, cánh đồng hành, tỏi, rặng dừa, phi lao, cây bàng… Trên màu xanh ấy được điểm xuyết những chiếc thuyền đánh cá nhấp nhô làm cho bức tranh phong cảnh trên đảo thêm phần thi vị.” (Ngày hè trên đảo Lý Sơn - Phạm Văn Hoanh).  Còn tạp bút “Mùa ruốc về trên quê hương làng biển” của Bùi Văn Tạo lại kể về niềm vui mộc mạc của người dân mỗi khi mùa ruốc đến, là khoảnh khắc giản dị mà gần gũi, chứa đựng niềm vui đời thường của những người sống dựa vào biển với món ăn dân dã đậm đà tình quê “Gỏi ruốc thơm ngọt, hương vị đặc biệt, thực khách tha hồ mà thưởng thức với bánh tráng nướng giòn. Tuy có vẻ dân dã, nhưng món ăn này không thua kém các món biển ngon nổi tiếng khác”. (Mùa ruốc về trên quê hương làng biển - Bùi Văn Tạo)

Trong mảng văn xuôi của tuyển tập này không thể bỏ qua những truyện ngắn. Nó như những lát cắt sinh động về cuộc sống và tâm tư của người dân Lý Sơn. Mỗi câu chuyện đều như mang theo làn gió biển, vừa nhẹ nhàng, vừa êm dịu nhưng cũng đầy day dứt, khiến người đọc cảm thấy gần gũi và xúc động. Lucinda Nguyên đã hoài niệm về một mối tình thời học sinh nơi quê nhà với ngôn từ giản dị nhưng gợi được sự đồng cảm nơi người đọc “Trang đã khóc suốt trên quãng đường về. Nhưng nước mắt đâu có làm tan chảy được sự trống vắng và nỗi đau khổ quá lớn trong lòng Trang lúc này...” (Nhật ký người yêu- Lucinda Nguyen). Mai Duy Quý lại thể hiện tình cảm gia đình, nỗi đau xót khi người chị ra đi “Chị đã bỏ nó ra đi về cõi vĩnh hằng… những đồng tiền nó dành dụm để đem về tặng chị, bàn tay run run rơi lả tả như lá vàng rơi rụng chiều thu…” (Hoa cải vàng gió cuốn - Mai Duy Quý). Còn Nguyễn Đông Thạch với “Thư chuyển trong đêm”, “Khoảng trời vàng” lại kể về những câu chuyện tình yêu, nỗi nhớ xa xứ, và những tâm tư riêng của những con người nơi biển cả.

Trong tuyển tập này mảng thơ chiếm phần lớn. Đa số là những bài thơ hay đã thể hiện sự sáng tạo với mỗi bút pháp riêng trong cách sử dụng và vận hành ngôn ngữ trong một nhạc điệu riêng của tâm hồn, gây được sự xao xuyến trong lòng người đọc. Có thể nói ngôn ngữ thơ trong tuyển tập này gắn liền với tâm thức đầy nỗi niềm của những người con xa quê mưu sinh nơi đất khách. Đọc các bài thơ “Đảo Lý yêu thương” (Lucinda Nguyen), “Không xa đâu nơi ấy rất gần” (Nguyễn Mậu Chiến), “Đất nước hình rồng” (Lê Sinh Dân), “Thăm Lý Sơn” (Hương Đài), “Đi về phía biển” (Hồ Nghĩa Phương), “Lý Sơn ngày về” (Hoàng Thân), “Xao xuyến Lý Sơn” (Phan Bá Trình), “Về với đảo Lý Sơn” (Lê Văn Thuận)… ta sẽ thấy rõ điều đó. “Chốn nghìn trùng ta có đảo yêu thương! Năm cụm núi đẹp như bàn tay mẹ/ Bão tố phong ba cùng người chia sẻ/ Giữ biển trời nối mãi biển bờ vui”. (Đảo Lý yêu thương - Lucida Nguyen). Lucinda Nguyen so sánh năm ngọn núi với bàn tay mẹ đã giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp phúc hậu của đảo Lý Sơn. Đảo Lý Sơn qua lời thơ của Lucinda Nguyen không chỉ có vẻ đẹp mà còn là khát vọng tìm về trong khắc khoải nhớ thương của một người con xa quê. Phải nói rằng thơ của các tác giả như từng nhịp đập của một trái tim yêu biển, yêu đảo, và yêu đất nước. Đinh Văn Hồng với “Tháng ba nhớ biển”, Nguyễn Ngọc Hưng với “Theo gió về Lý Sơn”… đã thể hiện niềm tự hào dân tộc: “Đâu phải là huyễn sử/ Lý Sơn mộ gió đầy/ Kìa cột cờ Thới Lới/ Nâng chủ quyền lên mây” (Theo gió về Lý Sơn - Nguyễn Ngọc Hưng). Khôi Nguyên với “Những con người miền đất đảo”, Hà Quảng với “Tháng ba với Lý Sơn”… đã tái hiện cảnh sắc Lý Sơn thật gần gũi và thân thương. Đọc những tác phẩm này ta có thể thấy những chiếc thuyền cá truyền thống đầy màu sắc đang ra vào cảng, mang theo những hải sản tươi ngon. Người dân Lý Sơn sống và làm việc dựa vào biển cả, và nghề cá đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của họ. Họ không chỉ là những người đi biển, mà còn là những người bảo vệ biển cả và duy trì, cân bằng môi trường biển. “Những con người kiên cường tung mẻ lưới thuyền câu/ Tiếp bước cha ông ngày đêm bám biển/ Qua bão giông không nề nguy hiểm/ Đảo là nhà, biển cả trong tim!” (Những con người miền đất đảo - Khôi Nguyên).

Bên cạnh những bài thơ viết về tình yêu quê hương và con người Lý Sơn, các tác giả còn mang đến cảm giác lãng mạn và đậm chất trữ tình, nơi tình yêu và thiên nhiên hòa quyện. Những bài thơ như “Vị mặn trong tim” của Nguyễn Hồng Anh, “Biển chiều” của Nguyễn Mậu Công, “Men tình” của Hoàng Diễm, và “Thắp những yêu thương” của Hạnh Nhi đều thể hiện sự hòa quyện giữa tình yêu lứa đôi và biển cả. Có thể nói, thơ trong tuyển tập này không chỉ ghi lại cảm xúc cá nhân mà còn là lời ngợi ca cho sự thiêng liêng của tình yêu với quê hương biển đảo, nơi từng cơn sóng, ngọn gió đều thấm đẫm hồn quê.

Ngoài ra trong tập sách này còn có những trang cảm nhận và bình thơ của các tác giả Phạm Văn Hoanh, Lê Hữu Có… Những trang phê bình giúp người đọc có cái nhìn đa chiều về tình cảm mà các tác giả đã gửi gắm qua từng tác phẩm.

Đọc những vần thơ, những dòng văn trong tuyển tập “Lý Sơn yêu dấu”, người đọc như được đi du ngoạn trên đảo, lắng nghe tiếng sóng vỗ, ngắm nhìn biển cả xanh thẳm và cảm nhận nhịp sống yên bình nhưng đầy khí phách của một vùng đất anh hùng. Đây là một tuyển tập không chỉ dành riêng cho người yêu văn chương, mà còn là tài liệu quý giá giúp chúng ta hiểu thêm về tình yêu biển đảo, về vẻ đẹp của quê hương Việt Nam qua từng câu chữ của các tác giả tài hoa.

P.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm