TIN TỨC

Biên bản thặng dư – một vẻ đẹp nhân văn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-11 09:15:35
mail facebook google pos stwis
2128 lượt xem

TS. HOÀNG THỊ THU THỦY

Cầm tập thơ “Biên bản thặng dư” do nhà thơ Phùng Hiệu gửi tặng, bất giác tôi tự hỏi: “Nghệ sỹ - anh là ai?”, sao anh có thể viết được những câu thơ hay đến như thế này: “Chị quét cả đời nhưng rác chảy về đâu/ Khi dấu chân dẫm mòn tuổi tác/ Và năm tháng rót dần khô cạn/ Sáu mươi năm mà rác vẫn tuần hoàn… Đến cuối cuộc đời người ta quét chị ra/ Vì ngỡ rác trong khu nhà ổ chuột” (Quét rác). Hiện thực trần trụi đã xuất hiện trong thơ anh, không mĩ miều, không ngợi ca, mà như những trang đời trên mỗi trang thơ. Người đọc hẳn còn nhớ “tiếng chổi tre” trong thơ Tố Hữu, nhưng tiếng chổi tre đó còn lãng mạn và thi vị lắm; với cái nhìn của thi sĩ Phùng Hiệu chuyện quét rác tuần hoàn không đổi, bởi: “Chị quét cả đời nhưng rác mãi phát sinh”.

“Nghệ sỹ - anh là ai?” - là người sáng tạo các giá trị thẩm mĩ, trước hết là cái đẹp. Nghệ sỹ lao động tự nguyện, đam mê sáng tạo ra tác phẩm, và tác phẩm chứa đựng tình yêu, niềm tin và lòng nhân ái của nghệ sỹ. Và tôi lại bắt gặp cái nhìn chứa đựng nỗi đau của thi nhân trong bài thơ “Biên bản thặng dư”, những công nhân ngày đêm tăng ca, tăng giờ làm, để những ngày giờ bán hết sức lao động, chỉ số thặng dư của họ thu về bằng mồ hôi và nước mắt: “Chị mang về hơn một tháng lương/ Chỉ thừa ra bữa cơm lao động/ Sau những đêm cày ải đến không ngờ… Anh run tay nhận việc ngoài giờ/ Sáu tiếng thặng dư được tính tròn ngày chẵn/ Và kiệt sức sau mười bốn giờ căng thẳng/ Với đôi chân rách tướp công trường”. Nếu không có cái nhìn thẳm sâu, cái nhìn cảm thông, cái nhìn đong đếm được sức lực người công nhân bỏ ra, cố kiếm tìm thêm những đồng lương tăng ca của thi nhân và viết thành những bài thơ như thế này thì làm sao người ta hiểu được nỗi khổ của những con người lao động “đầu tắt mặt tối”, nỗi khổ của những con người “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. “Chị đẩy cuộc đời về phía mưu sinh/ Từ gánh ve chai lấm màu tri thức… Chị đẩy vào đời giấc ngủ cu li/ Những đứa con thơ vật vờ trên vỉa hè thành phố… Những mảnh đời loang lổ dấu chân đêm” (Cuộc mưu sinh).

“Nghệ sỹ - anh là ai?” Sáng tác của anh là quá trình tìm tòi, sáng tạo. Sáng tạo của anh thuộc về những người lao động nghèo khổ, thuộc về những mảnh đời bất hạnh, những mảnh đời vất vưởng trên hè phố… Trong “Giấc mơ hiện thực”, thi nhân viết: “Năm 14 “lòn” vào xí nghiệp/ Tấm giấy thông hành có tên rất lạ/ Tôi được ngụy trang như đã trưởng thành… Những đứa như tôi vắng bóng mái trường… trong một lần kiệt sức mê man/ tôi bắt gặp giấc mơ/ Giấc mơ tôi được làm người/ một con người thực sự tự do/ Một con người mang tên bình đẳng/ một giấc mơ hiện thực/ được hình thành trong tiểu thuyết chiêm bao”. Đọc xong bài thơ, tôi thấy mắt mình cay. Tôi nhớ, tôi từng giảng về bộ ba tự truyện của M.Gorki về những con người cùng khổ, những cảnh đời bất hạnh. Nhà văn kể chuyện bằng tiểu thuyết, nhà thơ kể chuyện bằng thơ. Một bài thơ ngắn đọc xong như một câu chuyện kể về một cuộc đời, chất tự sự thấm đẫm trong mỗi bài thơ qua cái nhìn cảm thông, thương xót của Phùng Hiệu.

Cảm thông và sẻ chia với “Tết của người công nhân góa phụ” “Chị cầm tháng lương nép vào bóng đêm” – câu thơ như kể, như gợi, thấm vào trong ta một nỗi buồn về những mảnh đời nghèo khổ. Giấu đi tiếng nấc nghẹn để kể về “Sự mất tích của người công nhân” khi “Anh rơi xuống từ tầng 18…” và khi “Dự án hoàn thành, dự án được vinh danh”, còn “anh bị xóa tên”. Nhà văn Lê Thiếu Nhơn nói rất đúng về thi nhân Phùng Hiệu: Trên vai anh có mồ hôi người thợ và trong tim anh có nỗi trắc ẩn thi sĩ.

Cảm hứng thơ trong anh là những mảnh đời bất hạnh, từ những công nhân nghèo khổ, cô đơn, gặp tai họa khi lao động; đến những người bán vé số, những phận đời với tấm giấy thông hành có tên rất lạ; cả những con người làm những công việc mà “Phía sau ánh đèn lừa dối”, thi nhân nhận ra số phận của họ thật hẩm hiu: “em hiện diện như một nàng tiên chơi trò chuyển nhượng/ giữa thế giới dối lừa/ đam mê phó mặc/ hoang phí thanh xuân/ giễu cợt ái tình…”. Đọc thơ anh, bất giác tôi nhớ đến tứ thơ: “Ta cứ mãi với sắc huyền hỏi ngã/ phóng to đêm/ khuyếch đại chiều tà/ Ta vẫn thấy cuộc đời vô căn cước/ sáu nan đề/ sáng đẹp sáu vầng trăng/ câu thơ số cuối ngày đang mã hóa/ bàn phím văn chương/ thiếu chữ em cần” (Thi sĩ – Phan Thanh Bình). Là nghệ sỹ, thi sĩ hãy viết về nhân dân, viết về những con người đau khổ, đấy mới là thiên chức. “Một ngày thản nhiên/ Cuộc sống bỗng dưng đảo lộn/ Những cánh đồng trắng lưng phố xá… Người nông dân tự nhiên mất đất/ Những cung đường tự do siết chặt…” (Quy hoạch tự do). Cái nhìn của thi nhân thật nhân văn với phận đời những em bé thất học, những cụ già kiếm cơm từ xấp vé số: “Em lớn lên bằng vòng tay vé số/ Em lớn lên từ ve chai sắt vụn/ Em lớn lên bằng sự thờ ơ lạnh lẽo” (Em vẫn lớn lên); “Trên những cung đường quen thuộc tuổi tên/ Một bà lão chống gậy bằng đôi tay vé số” (Đằng sau tờ vé số). Tôi vẫn tự hỏi mình, không biết thi nhân đã lang thang mất bao lâu trên mọi ngả đường, theo sau mỗi phận người để viết, hay cái nhìn của thi nhân đã thật thẳm sâu về những phận đời bất hạnh và khi trái tim đó thật đau thì sẽ viết ra những vần thơ xa xót. Khi đọc bài thơ “Phía sau bức tường giải tỏa”, có cảm giác như ai đó đang bóp nghẹt tim mình bởi một cảm giác bất lực với những phận người “thấp cổ bé họng”: “Tấm bản đồ quy hoạch tự nhiên/ Cuộc mưu sinh đến ngày định giá/ Từ trong những ngôi mộ cổ/ Từ trong những túp lều quy hoạch/ những dây thép gai mọc lên/ Từ những khối bê tông được kết đông bằng máu đỏ/ Cho những tòa nhà cao ốc tự do/ Sững sững vươn lên/ Bằng nhiều mảnh đời khép lại/ đoàn người lại tiếp tục ra đi/ Nhưng triết lý thặng dư/ Vẫn lập trình những bước chân vô sản”.

Nhà thơ Phùng Hiệu

Viết về nhân dân, về những người lao động, anh còn viết về Tổ Quốc qua cái nhìn về biển đảo, những bài thơ mang hơi thở thời đại. Nhưng với tôi, khi đọc những vần thơ viết về những mảnh đời, những thân phận bất hạnh trong thơ anh, tôi đã hiểu thêm về quan niệm nghệ thuật của anh trong bài thơ “Ngôn ngữ lên ngôi”, anh đã khẳng định những vần thơ nhân cách của mình bởi đối tượng trữ tình là hiện thực, hiện thực chân thực, tự nhiên và có phần trần trụi: “Chợt một ngày tôi nhận ra tôi/ Từng lang thang dưới bầu trời chữ nghĩa/ Tôi nghe được tiếng hát của mưa/ Tiếng cười của nắng/ Tiếng nói của cỏ cây/ Tiếng rên của mây/ Tiếng buồn của đất…/ Tiếng núi đồi hoa cỏ yêu nhau!/ Tôi nghĩ thế giới này có thể sẽ mất đi/ Nhưng còn lại vần thơ nhân cách”.

Để có những vần thơ nhân cách, anh đã viết bằng chính trái tim mình, đối mặt với hiện thực, nói rõ sự thật nghiệt ngã và sự thật nghiệt ngã bao giờ cũng chứa đựng những đau đớn, xót xa. Và thơ anh đã trả lời cho câu hỏi mà nhân loại vẫn băn khoăn: “Nghệ sỹ - anh là ai?”. Anh là người của nhân dân, đứng về phía những người lao động, anh đang viết về họ với cái nhìn thương cảm. Có thể đâu đó vẫn còn vài câu thơ anh viết “bằng trái tim nóng”, mà anh quên giữ cho mình “cái đầu lạnh”, độc giả cũng sẽ cảm thông cho anh. Bởi cái hăm hở, cái nhiệt huyết, cái tình yêu tha nhân đã dồn nén trên câu chữ trong tập thơ “Biên bản thặng dư”.

Huế, 31/10/2019
TS. H T T T.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm