TIN TỨC

“Chị Thoi” – tượng đài của một niềm đau bất tử

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-02-21 09:16:36
mail facebook google pos stwis
1931 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

CHỊ THOI
 

Ngày em đi, chị là cô giáo

Hây hẩy má hồng, cầu nghiêng nón trắng

Dòng kênh xanh lá dừa xanh xào xạc nhớ

Chị âm thầm mong hết chiến tranh

Một mối tình đầu thư nhàu cỏ úa

Nhớ anh, hiu hắt cả mùa hoa muống trắng!

 

Ngày em về phép, chị vẫn xinh tươi

Hàm răng lóa nắng, chị cười

- Em vào nớ, gặp anh không?

Chiến tranh khốc liệt, dẫu cùng sư đoàn nhưng đâu gặp

Biển lặng lẽ, sóng chao lòng chị

Một lời sẻ chia: rồi anh sẽ về!

 

Ngày hòa bình, em hớn hở đi tìm gặp chị

- Chị đây ư, chị Thoi của tôi?

Túp lều rơm gió lùa hoang lạnh

Biển cô đơn biển vỗ đau bờ

Chị ngồi đó và chị ngồi đếm cát

Đôi mắt hoang và bài hát ngu ngơ

“Trời thì thấp, đất thì cao

một ông sao sáng, hai ông sáng sao

tiên sư đứa nào đã cướp chồng tao...”

 

Đau xé lòng, tôi gọi chị ơi!

Chị ngơ ngác, như tôi đến từ hành tinh lạ?

Mưa nắng rạc úa màu cô lẻ

Dòng kênh cũ, bến trăng xưa đâu rồi

Chị tôi ngồi ngẩn ngẩn ngơ ngơ

Đầu đội một vòng hoa muống trắng

Bài hát tuổi thơ lạc bến, tã mùa!

 

Tôi gọi chị, nghẹn lòng gọi chị

Những chiếc lá thu bay úa cả chân trời

1995.

(Trịnh Xuân Thu - Bài thơ “Chị Thoi”, rút từ tập THU CỐM, Nxb Hội Nhà văn, 2014, tr. 79)

........

Bài thơ như một Thiên ký sự, một Thiên tình sử... về một tình yêu...


1.  Thiên ký sự chia làm ba chương, khởi đầu từ ba thời điểm, với bắt đầu bằng những ẩn dụ không gian, thời gian: “Ngày em đi, ...”, “Ngày em về phép,...”, “Ngày hòa bình,...”. “Ngày em”,  “Ngày em”... Nhưng có phải là ngày tháng năm nào đâu. Người kể, chỉ cốt kể với ta câu chuyện tình của chị mình, mà giờ đã thành một Thiên tình sử!

1.1.  Chương một, câu chuyện khép lại với nổi “Nhớ anh, hiu hắt cả mùa hoa muống trắng!”. Người kể không cho ta cái xác định chị là vợ anh, hay là người yêu của anh. Mà chỉ cho thấy một tình yêu nồng nàn, say đắm, được kể lại bằng khắc họa với những tình tiết sinh động. Những là “má hồng”, “nón trắng”, “kênh xanh”, và cây dừa bên bờ kênh nữa, cây dừa cũng “lá... xanh”... Những thứ ấy, tất thảy những thứ ấy... đều “hây hẩy” sắc mầu, nghiêng cầu “nón trắng”, “xào xạc” nhớ mong... Nhớ mong!... Chao ôi là nổi mong nhớ của “Một mối tình đầu thư nhầu cỏ úa”...

Và... Hốt nhiên... tôi giật mình... khi bị đẩy vào “... cả một mùa hoa muống trắng!”... Một dự cảm? Một điềm báo trước nỗi tang thương?... Trắng, “hoa muống trắng!”, sao lại là Hoa Muống trắng?!...

1.2.  Chương hai, hy vọng của tình yêu!

Những gì đã kể trong cái “Ngày em về phép,...”  tưởng không phải nói gì nữa về nỗi niềm hoài vọng trong biết mấy hy vọng. Tôi không thể nói gì thêm về tính chân thực của chữ nghĩa ở bài thơ, một sự chân thực mà ai đọc cũng dễ dàng bị cảm hóa đến mức tự nhiên, như bởi vì nó vốn thế, chị từ bấy vẫn như “Biển lặng lẽ...”  hy vọng chờ mong, dẫu vẫn sống trong những đợt “... sóng chao lòng chị”.

Có hiện thực nào chân thực đến thế không? Tôi đọc thơ mà không còn thấy thơ... Tôi như đứa em cùng dõi theo Thiên tình sử của chị tôi...

1.3.  Thế rồi cái gì đến cũng đã đến! Chương ba là câu chuyện “Ngày hòa bình,”...

Bạn hãy đọc đi, ngẫm suy đi! Tôi đã cảm nhận được và đã thấy trước mắt mình bức tượng đài khi đọc đến hai câu thơ cuối của chương này:

“Đầu đội một vòng hoa muống trắng

Bài hát tuổi thơ lạc bến, tả mùa!”

 

Tượng đài: “Đầu đội một vòng hoa muống trắng” . Và dưới Tượng đài là... bài hát nào ở đây vậy? Một đồng giao! Nhưng chỉ còn là hư ảo!... “Trời thì thấp, đất thì cao”, thực mà hư, hư mà thực... “lạc bến”, “tả mùa”... vô thường, hằng tưởng!...

2.  “Tôi gọi chị, nghẹn lòng gọi chị

       Những chiếc lá thu bay úa cả chân trời”

Lại là một ẩn dụ náo động không gian: “... lá thu bay úa cả chân trời”...

Thu! Không phải khởi đầu, cũng không phải kết thúc, mà chỉ là một chỉ giới khắc ghi... Tình yêu của chị mãi mãi trường tồn một Vòng hoa Muống biển trắng trong bất tử trên sóng cát muôn mãi trãi theo bờ đại dương!...

3.  CHỊ THOI, xin cảm ơi tác giả Trịnh Xuân Thu đã cho tôi được đọc bài thơ này!

Bài thơ như một thiên ký sự về một NIỀM ĐAU, mà khi đọc xong ký sự ấy, NIỀM ĐAU  “Chị Thoi” đã thành một TƯỢNG ĐÀI, như một Hòn Vọng phu, nhưng không sừng sững trên núi cao, mà chài chải trên sóng cát một Vòng hoa Muống trắng ven bờ biển quê hương! Hòn Vọng phu ôm con chờ chồng với một niềm hy vọng dựng hình đá núi; còn Vòng hoa Muống trắng kia, như trôi trên cát, đã thành hằng hà sa số làn sóng cát vỗ bờ, với một NIỀM ĐAU  trắng trong dựng một vòng HƯ VÔ bất tử!...        

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm