TIN TỨC

“Chị Thoi” – tượng đài của một niềm đau bất tử

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-02-21 09:16:36
mail facebook google pos stwis
2044 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

CHỊ THOI
 

Ngày em đi, chị là cô giáo

Hây hẩy má hồng, cầu nghiêng nón trắng

Dòng kênh xanh lá dừa xanh xào xạc nhớ

Chị âm thầm mong hết chiến tranh

Một mối tình đầu thư nhàu cỏ úa

Nhớ anh, hiu hắt cả mùa hoa muống trắng!

 

Ngày em về phép, chị vẫn xinh tươi

Hàm răng lóa nắng, chị cười

- Em vào nớ, gặp anh không?

Chiến tranh khốc liệt, dẫu cùng sư đoàn nhưng đâu gặp

Biển lặng lẽ, sóng chao lòng chị

Một lời sẻ chia: rồi anh sẽ về!

 

Ngày hòa bình, em hớn hở đi tìm gặp chị

- Chị đây ư, chị Thoi của tôi?

Túp lều rơm gió lùa hoang lạnh

Biển cô đơn biển vỗ đau bờ

Chị ngồi đó và chị ngồi đếm cát

Đôi mắt hoang và bài hát ngu ngơ

“Trời thì thấp, đất thì cao

một ông sao sáng, hai ông sáng sao

tiên sư đứa nào đã cướp chồng tao...”

 

Đau xé lòng, tôi gọi chị ơi!

Chị ngơ ngác, như tôi đến từ hành tinh lạ?

Mưa nắng rạc úa màu cô lẻ

Dòng kênh cũ, bến trăng xưa đâu rồi

Chị tôi ngồi ngẩn ngẩn ngơ ngơ

Đầu đội một vòng hoa muống trắng

Bài hát tuổi thơ lạc bến, tã mùa!

 

Tôi gọi chị, nghẹn lòng gọi chị

Những chiếc lá thu bay úa cả chân trời

1995.

(Trịnh Xuân Thu - Bài thơ “Chị Thoi”, rút từ tập THU CỐM, Nxb Hội Nhà văn, 2014, tr. 79)

........

Bài thơ như một Thiên ký sự, một Thiên tình sử... về một tình yêu...


1.  Thiên ký sự chia làm ba chương, khởi đầu từ ba thời điểm, với bắt đầu bằng những ẩn dụ không gian, thời gian: “Ngày em đi, ...”, “Ngày em về phép,...”, “Ngày hòa bình,...”. “Ngày em”,  “Ngày em”... Nhưng có phải là ngày tháng năm nào đâu. Người kể, chỉ cốt kể với ta câu chuyện tình của chị mình, mà giờ đã thành một Thiên tình sử!

1.1.  Chương một, câu chuyện khép lại với nổi “Nhớ anh, hiu hắt cả mùa hoa muống trắng!”. Người kể không cho ta cái xác định chị là vợ anh, hay là người yêu của anh. Mà chỉ cho thấy một tình yêu nồng nàn, say đắm, được kể lại bằng khắc họa với những tình tiết sinh động. Những là “má hồng”, “nón trắng”, “kênh xanh”, và cây dừa bên bờ kênh nữa, cây dừa cũng “lá... xanh”... Những thứ ấy, tất thảy những thứ ấy... đều “hây hẩy” sắc mầu, nghiêng cầu “nón trắng”, “xào xạc” nhớ mong... Nhớ mong!... Chao ôi là nổi mong nhớ của “Một mối tình đầu thư nhầu cỏ úa”...

Và... Hốt nhiên... tôi giật mình... khi bị đẩy vào “... cả một mùa hoa muống trắng!”... Một dự cảm? Một điềm báo trước nỗi tang thương?... Trắng, “hoa muống trắng!”, sao lại là Hoa Muống trắng?!...

1.2.  Chương hai, hy vọng của tình yêu!

Những gì đã kể trong cái “Ngày em về phép,...”  tưởng không phải nói gì nữa về nỗi niềm hoài vọng trong biết mấy hy vọng. Tôi không thể nói gì thêm về tính chân thực của chữ nghĩa ở bài thơ, một sự chân thực mà ai đọc cũng dễ dàng bị cảm hóa đến mức tự nhiên, như bởi vì nó vốn thế, chị từ bấy vẫn như “Biển lặng lẽ...”  hy vọng chờ mong, dẫu vẫn sống trong những đợt “... sóng chao lòng chị”.

Có hiện thực nào chân thực đến thế không? Tôi đọc thơ mà không còn thấy thơ... Tôi như đứa em cùng dõi theo Thiên tình sử của chị tôi...

1.3.  Thế rồi cái gì đến cũng đã đến! Chương ba là câu chuyện “Ngày hòa bình,”...

Bạn hãy đọc đi, ngẫm suy đi! Tôi đã cảm nhận được và đã thấy trước mắt mình bức tượng đài khi đọc đến hai câu thơ cuối của chương này:

“Đầu đội một vòng hoa muống trắng

Bài hát tuổi thơ lạc bến, tả mùa!”

 

Tượng đài: “Đầu đội một vòng hoa muống trắng” . Và dưới Tượng đài là... bài hát nào ở đây vậy? Một đồng giao! Nhưng chỉ còn là hư ảo!... “Trời thì thấp, đất thì cao”, thực mà hư, hư mà thực... “lạc bến”, “tả mùa”... vô thường, hằng tưởng!...

2.  “Tôi gọi chị, nghẹn lòng gọi chị

       Những chiếc lá thu bay úa cả chân trời”

Lại là một ẩn dụ náo động không gian: “... lá thu bay úa cả chân trời”...

Thu! Không phải khởi đầu, cũng không phải kết thúc, mà chỉ là một chỉ giới khắc ghi... Tình yêu của chị mãi mãi trường tồn một Vòng hoa Muống biển trắng trong bất tử trên sóng cát muôn mãi trãi theo bờ đại dương!...

3.  CHỊ THOI, xin cảm ơi tác giả Trịnh Xuân Thu đã cho tôi được đọc bài thơ này!

Bài thơ như một thiên ký sự về một NIỀM ĐAU, mà khi đọc xong ký sự ấy, NIỀM ĐAU  “Chị Thoi” đã thành một TƯỢNG ĐÀI, như một Hòn Vọng phu, nhưng không sừng sững trên núi cao, mà chài chải trên sóng cát một Vòng hoa Muống trắng ven bờ biển quê hương! Hòn Vọng phu ôm con chờ chồng với một niềm hy vọng dựng hình đá núi; còn Vòng hoa Muống trắng kia, như trôi trên cát, đã thành hằng hà sa số làn sóng cát vỗ bờ, với một NIỀM ĐAU  trắng trong dựng một vòng HƯ VÔ bất tử!...        

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm