TIN TỨC

Chuyện nhà Út Tiếp: Nỗi đau đâu dễ lãng quên

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-04 07:58:59
mail facebook google pos stwis
2134 lượt xem

BÀI HƯỞNG ỨNG CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

ĐỖ VIẾT NGHIỆM

Anh hùng Lực lượng vũ trang tàu không số Nguyễn Văn Đức, gọi tôi: “mai đi Bến Tre nhé”. Chơi với nhau từ lâu không cần hỏi thêm cũng biết, lại có chuyến về địa phương thăm giúp đỡ các gia đình có công với Cách mạng. Tới nơi hẹn gặp thêm một người lạ, ông Đức dí dỏm nói: “đây là người đẹp U70 Huỳnh Thị Tiếp (Út Tiếp), Phó ban quản trị Hội tương tế tỉnh Bến Tre; Phó ban Hội đồng hương huyện Thạnh Phú, nổi tiếng làm công tác từ thiện xã hội”. Út Tiếp cười mặt đỏ rần, rồi rầy bảo làm chị mắc cỡ. Đang trong đại dịch Cô vít ai cũng đeo khẩu trang nên không rõ mặt, nhưng nghe tiếng cười tôi hình dung chị Út là người thiệt mạnh mẽ, hẳn ngày còn trẻ là một thiếu nữ năng động và xinh đẹp.  

Một ngày bận rộn ở Thạnh Phú, địa phương có nhiều địa chỉ đỏ nổi tiếng như Căn cứ kháng chiến Khu 8. Căn cứ lịch sử bến tàu không số Cồn Tra, năm 1946 bà Nguyễn Thị Định cùng nhóm trí thức lớn Trần Hữu Nghiệp, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Thiện Thành, Nguyễn Văn Khước, Đoàn Văn Trường, vượt biển ra miền Bắc thành công. Sau Đồng Khởi 1960 cũng tại Bến Cồn Tra, tỉnh Bến Tre lại tổ chức hai đội thuyền vượt biển ra Bắc xin Trung ương vũ khí chi viện cho miền Nam đánh Mỹ. Về Thạnh Phú, Út Tiếp đi đến đâu cũng được người dân từ già đến trẻ mừng vui gọi: “Cô Út, cô Út…”. Thấy vậy, tôi hỏi: “Chị về quê nhiều lắm phải không?”. Út Tiếp đáp “có cả trăm lần”. Dừng một lát, Út Tiếp nói tiếp: “Bà con mình xưa có công với Cách mạng, giờ vẫn còn nhiều hoàn cảnh khó khăn lắm”. Tôi hiểu, Út Tiếp đi nhiều chính vì điều đó. Về thành phố vài hôm sau tôi gọi điện cho Út Tiếp, muốn xin được gặp tìm hiểu thêm về hoạt động công tác từ thiện, nhưng đầu dây bên kia chị cười giòn, rồi đáp: “mời anh tới thăm thì được, nhưng định viết báo tôi không có gì đáng nói đâu”. Để được việc tôi hứa đại “đồng ý”, đấy cũng là cái chiêu nghề nghiệp của cánh nhà báo đôi khi chúng tôi vẫn hay dùng. Hóa ra câu chuyện Út Tiếp đi làm việc thiện không biết mệt mỏi còn bắt nguồn từ gia đình chị.

Năm 1946 ông Huỳnh Văn Trước (Hai Trước) ba chị Út, tham gia Cách mạng được tổ chức phân công làm công tác an ninh xã, nhưng không may hy sinh vào giữa năm 1951 cùng ba đồng đội khác. Cái chết của Hai Trước ám ảnh Út Tiếp suốt thời gian dài, nhưng cũng phải chờ khi lớn lên theo Cách mạng gặp được bác Bảy Dấu, một nông dân cùng quê kể lại ba mình bị giết hại vô cùng dã man. “chiều đó người dân trong ấp bất ngờ bị lính Quốc gia ập vào, rồi chúng ép dân tập trung ra bãi đất trống khi đến nơi mới biết, chúng vừa bắt được bốn ông cán bộ Cách mạng đang núp trong một căn hầm bí mật. Nhìn họ, thằng chỉ huy nói đây là những tên Việt Minh nguy hiểm, phạm tội chống lại Chánh phủ Quốc gia, mời bà con ra đây cùng tham dự lịnh thi hành án”. Vẫn theo lời bác Bảy Dấu, sau đó chúng mổ bụng moi gan từng người, rồi đốt lửa bỏ gan vào chảo xào. Nhìn cảnh đó dân làng ai cũng khiếp sợ, còn thằng chỉ huy nhếch mép cười nói tiếp: “hôm nay là ngày vui, mời bà con thưởng thức món gan Việt Minh xem nó to đến mức nào hả?”. Sáu mươi mốt năm sau (2012), Út Tiếp cùng bà con cô bác xã An Qui nay là xã An Điền, mới đưa được ông Hai Trước cùng ba đồng đội ngày đó bị chúng sát hại ném xuống hố chôn chung, đưa về an nghỉ trong nghĩa trang huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.  

Má Út Tiếp là bà Nguyễn Thị Kiệm (Năm Kiệm) tham gia Cách mạng cùng năm với chồng, công tác ở Hội phụ nữ cứu quốc xã, năm 1973 bà hy sinh trong hoàn cảnh thật đáng tiếc. Út Tiếp kể: ngày đó có một toán biệt kích địch bất ngờ càn vào An Qui đơn vị quyết định rút lui bảo toàn lực lượng, nhưng do vội vàng ông Nguyễn Văn Đức một cán bộ địa phương bỏ quên khẩu súng ngắn, Năm Kiệm rút sau nhìn thấy sợ lọt vào tay địch nên quay lại lấy. Địch bắn rát Năm Kiệm trúng đạn xuyên qua một bên vai, mất máu nhiều làm bà ngất xỉu nên bị chúng bắt. Bắt được Năm Kiệm địch lại ép người dân khênh đưa về ấp An Hải, nhưng khi đến sát bìa rừng thấy địch mất cảnh giác họ giấu bà vào trong lùm cây rậm. Sáu giờ chiều địch rút ông Đức quay lại tìm, nhờ dân chỉ nên đưa được Năm Kiệm về trạm thu dung xã cấp cứu. Tưởng yên, hai ngày sau địch càn tiếp lại bắt được Năm Kiệm, nhưng lần này chúng xả súng bắn bà chết ngay tại chỗ.

Ba người con của ông Hai Trước bà Năm Kiệm, lớn lên noi gương ba má tham gia Cách mạng. Con gái đầu Huỳnh Thị Liễng (Hai Liễng) vào bộ đội huyện, năm 1969 địch mở trận càn vào căn cứ ta bị chúng bắn chết. Sau ngày giải phóng Út Tiếp đi làm thủ tục công nhận Liệt sĩ cho Hai Liễng, nhưng không được chỉ vì một lý do “kỳ cục”: “đồng chí đó không trực tiếp tham gia chiến đấu”. Chuyện thật như đùa, thời chiến tranh cả miền Nam là chiến trường, hơn nữa Hai Liễng khi đó là chiến sĩ Bộ đội huyện Thạnh Phú?

Chồng Hai Liễng là Nguyễn Văn Bá (Tư Bá) đi Bộ đội cùng năm, rồi bị địch bắt đưa ra giam ngoài Côn Đảo, năm 1975 trở về được ra miền Bắc dưỡng bịnh. Năm 1977 do sức yếu về quê, một mình nuôi năm đứa con còn nhỏ, vất vả kềm theo di chứng những đòn tra tấn trong ngục tù tái phát, năm 1982 Tư Bá mất. Nhà nghèo không đủ mua nổi chiếc hòm, Út Tiếp phải đi mua chịu mãi sau mới trả hết nợ.

“Còn nữa”, Út Tiếp nói. Sau chị Hai Liễng là anh trai Huỳnh Văn Niễng (Ba Niễng), năm mới tròn 20 tuổi bà Năm Kiệm gọi con hỏi: “Con có thích đi Bộ đội giải phóng không?”. Ba Niễng nhảy tưng lên, đáp: “Thích lắm, má cho con đi trả thù cho Ba”. Ba Niễng được bổ sung vào đơn vị chủ lực miền, chiến đấu dũng cảm, tiếc là chỉ sáu năm sau trong một trận đánh quân Mỹ ở chiến trường miền Đông anh cũng hy sinh, đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Sau giải phóng Út Tiếp nghe người ta chỉ đâu đi tìm tới đó, nhưng vẫn vô vọng. Đưa ánh mắt nhìn xa xăm ngoài cửa, một làn gió nhẹ ào qua ngọn cây xoài, tôi nghe rõ cả tiếng lao xao của lá. Út Tiếp mặt đượm buồn, rồi chờ cho chị bình tâm trở lại, tôi hỏi: “Sao chị buồn vậy? Út Tiếp đáp: “Trước khi đi Bộ đội anh tôi có vợ, sanh được một bé trai lên ba tuổi, nhưng thiệt đau ở nhà chơi sao lọt xuống cầu chết đuối. Con chết, vợ Ba Niễng rủ rê một tên cán bộ phản bội Cách mạng ra vùng địch chiêu hồi, thế mà sau ngày giải phóng bà ta còn trơ trẽn nói với Út Tiếp: “em để chị đi làm chế độ Liệt sĩ cho anh Ba nha?”. Út Tiếp giận ứa nước mắt. Té ra bả muốn lấy danh phận người vợ làm thủ tục, mục đích là để kiếm chác và danh dự mà thôi. “Không, để anh tôi yên!”. Út Tiếp đáp thế. Nhưng sau này Út Tiếp cũng làm xong Liệt sĩ cho anh Ba. Tôi thở phào nhẹ nhỏm, nhưng bất ngờ lại nghe Út Tiếp nói: “vẫn còn may anh ạ”. Tôi cảm thấy “là lạ” bởi câu nói đó, rồi hỏi: “sao lại là may?”. “Cả gia đình tôi có ba, má, con gái, con trai, con rể chồng của Út, tính ra mất năm người hy sinh, còn mỗi mình Út, không may là gì?”. Rồi chị lý giải cho cái may của mình, như trời thương Út cho sống để lo cho cả một đàn con, đàn cháu. Khi còn chiến tranh tụi nhỏ học hành lỏm bõm, sau giải phóng Út lo cho ăn, cho học nay có đứa dù vẫn ở quê, đứa lên thành phố làm công nhân ở các khu chế suất cũng tạm đủ ăn. Tôi mừng cho Út Tiếp, nhưng vẫn băn khoăn, gia đình Út có má Năm Kiệm là “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, nhưng còn trường hợp chị Hai Niễng chưa được công nhận Liệt sĩ? Út Tiếp đáp: “bỏ”. Tôi gay gắt: “bỏ sao được, mình có gian lận đâu?”. Út Tiếp bất ngờ mỉm cười, rồi nói: “Đừng quá sân si, đất nước mình còn hàng trăm, hàng ngàn gia đình mất mát, hy sinh lớn hơn gia đình tôi nhiều lắm”. Có lẽ Út Tiếp đúng, điều đó làm tôi nể phục!

*

Trung tuần tháng 4/2022 đoàn nhà văn, Hội hỗ trợ gia đình Liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chuyến thăm lại chiến trường xưa, dâng hương tại đền Liệt sĩ Long Khốt, ấp Trung Chánh, xã Thái Bình Trung, tỉnh Vĩnh Long. Cả chục năm không đến bây giờ thay đổi nhiều quá. Đồn Biên phòng mới lui vào bên trong một chút, còn vị trí cũ nơi quân lực Việt Nam cộng hòa đóng quân nay trang nghiêm hoành tráng một ngôi “Đền thờ Liệt sĩ Long Khốt” được xếp hạng “Khu di tích Lịch sử Quốc gia”. Kiến trúc đặc trưng Văn hóa Đại Việt thời Hậu Lê, tám mái kiểu (chồng diêm), góc mũi giao nhau cong mềm mại, trên gắn hình tượng rồng bay. Đền thờ chính rộng trên ngàn mét vuông, trước có cổng Tam quan, sau cổng mỗi bên có một miểu thờ Thành Hoàng nhớ người xưa có công lập nên làng ấp. Bên trong đền thờ ngoài chính điện thờ Bác Hồ, phía cửa có một cái trống lớn. Xung quanh tường cao khắc tên chữ vàng hơn sáu ngàn Anh hùng, Liệt sĩ, nổi bật trên mặt đá hoa cương màu xanh, hy sinh qua các cuộc kháng chiến. “Quá nhiều” không kềm nổi xúc động tôi khẽ thốt lên, thế nhưng được biết con số ấy có thể chưa dừng lại ở đó, “địa phương vẫn đang tiếp tục tìm kiếm, xác minh bổ sung thêm”.  

Khi tôi đang viết bài này trên mạng xã hội mấy ngày qua đột nhiên “hót”, từ năm học 2022 – 2023 “Lịch sử là môn học tự chọn ở cấp THPT”. Cộng đồng mạng “ném đá” chia phe, trong đó phe phản đối ủng hộ môn lịch sử phải là chương trình bắt buộc đang chiếm ưu thế! Chuyện nhà chị Út Tiếp, rồi Lịch sử Trung đoàn 174, Sư đoàn 5, đơn vị hai lần đánh đồn Long Khốt năm 1972, 1974. Tôi chợt nghĩ, mới chỉ một cái đồn mà tổn thất đến thế, rồi chỉ một gia đình như nhà chị Út Tiếp đã mất mát nhiều như vậy, hỏi cả đất nước này trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc con số hy sinh lớn biết nhường nào? Vậy bỏ môn học sử, dù gọi là “tự chọn” ở cấp THPT? Nếu điều đó trở thành sự thật, hậu thế mai sau còn nhớ gì máu xương của cha ông chúng đã đổ vì non sông đất nước này? Không thể được! Xa rời Lịch sử, xa rời Văn hóa là nguy cơ tồn vong dân tộc! Thật ấn tượng hai câu thơ của nhà thơ Trần Thế Tuyển dùng làm biểu tượng tinh thần, ý chí đặt trong “Đền thờ Liệt sĩ Long Khốt”.

“Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/Hồn bay lên hóa linh khí Quốc gia”.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm