TIN TỨC

Dấu chân thơ – những thiên du ký bằng thơ sâu lắng ngọt ngào

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-12-01 13:20:06
mail facebook google pos stwis
2229 lượt xem

Nhà thơ PHỐ GIANG

Tháng 8/2023, dự sinh hoạt thường kỳ của Hột thơ Nghệ Tĩnh tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, tôi được nhà thơ Trần Kim Dung tặng tập thơ NHỮNG DẤU CHÂN THƠ của chị. Một tập sách trang nhã đầy đặn thật đẹp.

Theo thói quen, tôi mở tập sách đọc lướt vài bài. Lập tức, tập thơ cuốn hút tôi nhưng bởi đang trong cuộc họp nên đành miễn cưỡng gập lại trong sự nuối tiếc. Về nhà, ngay chiều đó tôi liền lấy cuốn sách ra đọc và đọc ngấu nghiến cho đến trang cuối cùng. Thật lôi cuốn và thú vị. Những thiên du ký bằng thơ tuyệt vời. Đọc hết rồi tôi vẫn để tập thơ trên chiếc bàn uống nứơc nơi bộ sanlon, và những ngày tiếp, mỗi khi ngồi vào bộ sanlon lại cầm cuốn sách lên nhấm nháp vài bài.


Các nhà giáo nhà thơ Phố Giang và Trần Kim Dung, hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.

NHỮNG  DẤU CHÂN THƠ đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng và cảm phục. Thứ nhất, tác giả là người đam mê các danh lam thắng cảnh, đam mê du lịch; thứ hai, chị là người rất giàu cảm xúc, có một trái tim nhạy cảm và rất tài ba trong việc đưa các danh lam thắng cảnh vào thơ. Tập thơ hơn 80 bài, chỉ có vài bài về quê nội, quê ngoại, về trường xưa… còn lại là về các danh lam thắng cảnh trong nước và trên thế giới, những nơi chị đã may mắn được đặt chân tới. Đến đâu chị cũng có thơ và thơ hay. Xuyên suốt tập thơ hơn 80 bài tiếp nối tiếp nhau chỉ trên một đề tài về danh lam thắng cảnh mà đọc không thấy nhàm chán, vẫn lôi cuốn người đọc, kể cả những người đọc khó tính thì quả là điều kỳ diệu và không dễ chút nào. Lần lượt từng bài…từng bài… nếu không có gì mới mẻ, cuốn hút thì người đọc sẽ buông sách ngay. Phải là một tài năng thì mới làm được điều đó. Chúc mừng cô giáo, nữ thi sĩ Trần Kim Dung.

Tác giả có lợi thế là được đến nhiều nơi, được ngắm nhìn chiêm ngưỡng nhiều danh lam thắng cảnh nhưng nếu không giàu cảm xúc, không có trái tim nhạy cảm thì cũng không cảm thụ được những điều mắt thấy tai nghe. Và cảm thụ là một chuyện, còn thể hiện nó thành một áng văn, một bài thơ hay lại là chuyện khác – rất khó và rất ít người làm được lắm. Tôi thực sự ngưỡng mộ tác giả.

Hơn 80 bài thơ tiếp nối tiếp nhau chỉ quanh một đề tài về danh lam thắng cảnh mà độc giả vẫn say mê đọc không thể buông rời tập sách. Thế điều gì đã lôi cuốn độc giả, đã làm cho độc giả say mê đến vậy? Có phải bởi trong những câu thơ, trong cuốn sách có phép thần mê hoặc ta hay có bàn tay của một mụ phù thủy tinh ranh dắt ta từ bài thơ này sang bài thơ khác?... Không! Tất cả đều là do tài năng của tác giả làm nên. Trần Kim Dung đã khéo léo thổi hồn vào các phong cảnh tĩnh lặng, đã khéo đưa các sự kiện lịch sử vào các danh lam, khéo léo nhân cách hoá các vật vô tri làm cho các bài thơ của chị trở nên sống động và thật đáng yêu.

Nhà thơ Trần Dung rất giỏi trong việc thổi hồn vào các tỉnh vật, phong cảnh bởi vậy qua những câu thơ của chị cảnh vật ta gặp là một thực thể sống động, có hồn, tất cả như đang hoạt động, đang diễn ra trước mắt ta. Bằng cách nhân cách hoá các cảnh vật, đọc thơ của chị ta có cảm giác đến đâu cũng được mời gọi cả, từ cảnh vật thiên nhiên cho đến con người. “Đường về căn cứ Mường Phăng/bướm theo ríu rít hương rừng như mơ/đại ngàn râu tóc bạc phơ/ dang tay che nắng đứng chờ từ xa”. Rồi bên rừng hoa ban kiêu sa là con suối duyên dáng đôi bờ đầy hoa mua tíu tít mời gọi: “hoa mua tíu tít mong chờ/ mắt nghiêng tím biếc cả bờ suối xa”. Tiếp tục đi tới, ta lại gặp ngôi nhà sàn mộng mơ đang thả khói lên trời xanh: Nhà ai say ngọn suối thơm/cầu thang chín bậc thả hồn theo mây”. Với VỀ MƯỜNG PHĂNG, một bài thơ ngắn thôi, mà ta được thưởng thức bao cảnh vật, con người trên một thung lũng thật đẹp, thật thơ mộng.

Với YÊN TỬ, cũng là một bài thơ ngắn nhưng chị đã cung cấp cho người đọc bao nét đáng yêu của một ngôi chùa cổ, một di tích lịch sử ngót ngàn năm của đất nước. Chị đã dẫn chúng ta đến “Nơi non cao mây gió bồng bềnh/gặp những “đại lão cây” trăm năm tu tập/ và nhưng am thiền trong trúc lâm xanh”. Chỉ qua mấy câu thơ mở đầu bài thơ chị khéo léo giới thiệu cho ta biết đây là cõi Phật linh thiêng, cỏ cây cũng tu tập. Bằng cách gọi những cây cổ thụ là “đại lão” chị đã ngầm bao với ta rằng ở đây tất cả đều mang tấm lòng tư bi của nhà Phật từ con người đến thiên nhiên. Ở đây “Đạo – Đời ngàn năm trong vắt”, một chốn tu hành đã có từ xa xưa với: những “Đại lão tùng bảy trăm năm nắng gió/râu tóc vẫn xanh, thân đứng thẳng ngóng trời/che mát rượi đường về Tháp Tổ/Với bạt ngàn hoa đại trắng tinh khôi”. Ở đây còn có “Một mái chuà treo trên vách đá/nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn/suối rì rầm trang kinh người xưa để lại/Mai lão bên thềm thắp sang cả thiền am”. Dưới ngòi bút của nhà thơ Trần Kim Dung Yên tử hiện lên một thắng cảnh, một chốn linh thiêng cổ kinh tuyệt vời.

Với nữ thi sĩ Trần Kim Dung từ con đường hiểm trở, con đèo chon von nơi núi rừng, ghềnh đá lô nhô bên bờ biển cho đến vuông ao trước làng đều là nguồn thơ của chị, và qua thơ chị đều trở thành những bức tranh lung linh hút hồn mọi người. Đâu đâu cũng đẹp, cũng thơ mộng cũng đáng yêu. Con đường lên Bản Dốc thì: “Đèo Mã Phục bay trong sương gọi Khau Liêu, Khau Chỉa/Chú ngựa vua Nùng còn quỳ gối đó sao?/ Đường xoắn ốc leo lên mây trắng/Khi bám đá xanh khi lại xuống vườn đào”(Lên bản Dốc). Đọc mấy câu thơ này gợi cho ta một cảm giác tự hào thích thú khi qua một đoạn đường cheo trên vách núi cao. Với Hồ Ba Bể thì thật ảo huyền thơ mộng: “Ngọc xanh lạc giữa núi đồi/Núi nghiêng tạo dáng, mây trời soi gương/Thuyền ai trên đỉnh mù sương/Mái chèo khua mảnh trăng suông bồng bềnh”(Hồ Ba Bể). Với Ghềnh Đá Đĩa ở Phú Yên chị lại hút hồn độc giả bằng cách tạo dựng một câu chyện cổ tích sinh động: “Tiệc của trời đất đã tan/mà du khách vẫn hân hoan vui vầy/… Tiệc triệu năm đã qua rồi/Chỉ còn lưu niệm cho trời biển xanh/Ai đem xếp đĩa thành ghềnh/Chơi vơi mây gió, dập dềnh sóng xô” (Ghềnh Đá Đĩa). Khi đọc VỀ MIỀN BIÊN ẢI, trước mắt tôi hiện lên một cách sinh động những sáng sớm tinh mơ nơi vùng cao này, các nẻo đường tấp nập ngựa, người, lợn, gà dắt nhau xuống núi, rồi những phiên chợ ngạt ngào hương thắng cố, tiếng khèn dìu dặt mê hoặc lòng người: “Cốc Lếu đêm sương tan/Trâu bò, lợn gà, dắt nhau xuống núi/ Thắng cố Bắc Hà ngào ngạt vùng biên/Chén rượu ngô ngả nghiêng du khách/Thổ cẩm bay lên trong dìu dặt tiếng khèn// Cô gái H’ Mông gùi mây xuống chợ/ Hạt dẻ theo chân cây thuốc đắng, táo Mèo/Chàng trai H’ Mông lên Hàm Rồng “cướp vợ”/Cướp cả duyên trời về ủ men say”. Chỉ trong hai khổ thơ mà tác giả đã dựng lại phiên chợ vùng cao rất đặc sắc, sinh động, từ phong tục tập quán đến cách sống, sinh hoạt của một tộc người.

Với các thắng cảnh là di tích lịch sử, nữ thi sĩ lại khéo léo lồng các dấu tích, các tư liệu lịch sử có liên quan vào bài thơ làm cho bài thơ càng thêm sống động, ta như thấy quá khứ đang hiện về. Đọc THÀNH CỔ LOA ta được gặp lại các nhân vật lịch sử thuở sơ khai dựng nước, huyền thoại về nỏ thần, mối tình và cái kết đẫm lệ của nàng Mỹ Châu cũng như bài học để đời về cảnh giác, về lòng tin mù quáng: “…Giếng ngọc ngàn năm trong vắt/Bóng Mỵ Châu như thấp thoáng chiều chiều/… / Chiếc lông ngổng muôn đời sau còn nhắc/bài học đời còn gởi đến muôn mai”… Đọc VỀ ĐIỆN BIÊN trước mắt ta lại hiện cảnh tấp nập của chiến dịch Điện Biên vĩ đại ngày nào. Ta được gặp “bè mảng bập bềnh, đoàn xe thồ dằng dặc” trên đèo Pha Đin “bay lên trong mây trắng/Dốc quanh co đến tận cổng trời”. Ta cũng được gặp tướng Đơ – Cát cùng đông đảo quân linh Pháp run rẫy dơ tay hang trên đồi Him Lam.

“Theo chị” ra nước ngoài ta được đến “chiếc ủng nức Ý”, đến Rôma tráng lệ “Đâu cũng nhà thờ cổ/Và bao la quảng trường/Đâu cũng đường đá cổ/Tượng đài và tháp chuông/… Đi mãi vẫn chưa dứt / Nơi vòng cung đấu trường…/ Đi mãi vẫn chưa dứt/Trường đua và mái vòm”… Ta được trở về với nước Ý thời trung cổ. “Pháo đài xưa vẫn bền bỉ hành trình/Nghe đâu đây có muôn ngàn vó ngựa/Tiếng giáo khiên của đội quân La Mã/ Khúc kải hoàn trước cổng Thành Rôm. Chị dắt ta về nước Ý của một thời đã xa, rất oanh liệt với biết bao kỳ tích, bao công trình tráng lệ với những Đấu trường La Mã, Tháp nghiêng Pisa,… nơi đây cũng là chỗ du hý phục vụ tần lớp thống trị ăn chơi, nơi diễn ra những cuộc vui trên nước mắt và máu của từng lớp bình dân, của những người nô lệ:

Như đâu đây tiếng mãnh thú gào gầm

Tiếng nô lệ tù binh lao vào trận đấu

Tiếng hoan hỉ hoà trong xương máu

Nơi con đường đến địa ngục trân gian.

(Đấu trường La Mã)

Những cảnh bi thương đến rợn người và bất công uất hận nghẹn lòng.

“Theo bước chân nữ thi sĩ” ta được biết Pari hoa lệ của nước Pháp; đến đỉnh An – Pơ tuyết phủ trắng trời của Thuỷ Sĩ; đến với mùa thu xứ Mặt trời mọc Nhật Bản: “rừng phong rực lửa, đất trời đơm hoa; đến xứ “Chuột túi” với những cánh rừng nguyên thuỷ xa xăm, với “Con Sò” trắng ngắm biển khơi, ôm trong lòng vở Opera và dàn giao hưởng… và biết bao, biết bao xứ sở xa xôi hút hồn ta trên trái đất này. Ở đâu, ở nơi nào cũng đẹp lung linh làm trái tim ta xao xuyến.

Dưới ngòi bút của nữ thi sĩ Trần Kim Dung, ngày đông về trên những thôn làng hẻo lánh vẫn rất thú vị, đáng yêu. Chạm ánh mắt vào đầu đề với hai chữ CHỚM ĐÔNG ta cứ nghĩ sẽ là một cảnh buồn bã, heo hắt, chán chường… nhưng ngược lại toàn bài thơ đều rộn ràng, tươi sáng: Bến sông thì hoa cải nở vàng; trên bãi bồi thì lũ trẻ đá bóng chạy rông reo hò; dọc sông là mía chin tràn bờ, bồng con ngô đứng phất cờ trong sương; vào đến đầu làng thì gặp lung inh hoa súng tím hồ, xôn xao cá đớp như mưa dưới trời; đi tiếp đến giữa làng ta lại gặp vườn ai cam chin đỏ tươi, hoạ my nở trắng đất trời mênh mang… Một cảnh vào đông thật yên bình, thật đẹp trên một làng quê.

NHỮNG DẤU CHÂN THƠ không chỉ hút hồn ta bởi sự lấp lánh của của các danh lam thắng cảnh, mà ta còn tạo được sự hấp dẫn bởi biết bao hình tượng đắt giá và biết bao câu thơ tài hoa khắp các bài thơ trải dài suốt cuốn sách. Tả một ngôi chùa trên đỉnh Yên Tử chị viết: “Đây Một Mái, chùa treo trên vách đá/nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn”. Chỉ có vẻn vẹn có 14 chữ trong 2 câu thơ mà hiện lên trước ta một ngôi chùa kiến trúc hết sức độc đáo treo cheo leo trên vách đá thấp thoáng trong mây ngàn. Hình tượng “nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn” thật đắt, thật tuyệt vời. Với đèo Mã Phục thì “Đường xoắn ốc leo lên mây trắng” – Một con đường “leo trên mây trắng”, thì thật là đẹp, thật diệu kỳ và thơ mộng biết bao! Nữ thi sĩ tả ruộng bậc thang quá tuyệt vời, đọc một đoạn thơ của chị về Mù Cang Chải ai mà không khao khát có một ngày được đến đó chiêm ngưỡng: “Mù Cang Chải đằm mình trong sương/lúa bắc thang lên đỉnh trời cao vút/Như vân tay trời ngàn ngăm thuở trước/Những mâm xôi vàng ngát tận trời xanh/với bông bềnh mây trắng dạo quanh”. Ở đây ta không chỉ được chiêm ngưỡng một bức tranh thuỷ mặc tuyệt đẹp mà còn làm cho ta cảm phục sức lao động phi thường của cha ông ta, đồng bào ta ở miền núi đã sản xuất lúa “cả trên đỉnh trời cao vút”, đưa “dưa mâm xôi thơm ngát lên tận trời xanh’. Đọc tiếp, đi theo chị vào các hồ trên núi ta được gặp cảnh “Thuyền ai lướt nhẹ suối êm/mái chèo chạm đỉnh núi chìm dưới sông”; ra bãi biển thì sẽ được phơi phới theo niềm vui của đất trời “Sóng xanh rủ biển bay cao/Thuyền đu ngọn sóng bạc đầu cười vang”.

Trần Kim Dung cũng rất giỏi trong việc “động hoá” các câu thơ làm cho cảnh vật như đang sống trong một không gian, một giai đoạn của lịch sử của đất nước và do đó bài thơ trở nên duyên dáng, sống động. Đến phiên chợ vùng cao thì “Cô gái H’ Mông gùi mây xuống núi/hạt dẻ theo chân cây thuốc đắng, táo mèo” (Về miền biên ải). Để nói lên sự đổi mới, được đô thị hoá ở một vùng đất chị viết: “Mây nghiêng để ngắm nhà cao/Gió nghiêng nghiêng để lọt vào phố đông/Lao xao má thắm môi hồng/Rộn ràng đô thị quầy trong quầy ngoài”. “Mây nghiêng để ngắm nhà cao/Gió nghiêng nghiêng để lọt vào phố đông” – Tác giả giỏi thật sáng tạo khi mô tả một khu phố mới hiện đại mà không bị những khối bê tông thô ráp vô hồn làm mất đi cảnh sắc thơ mộng bằng cách tạo hồn cho mây cho gió. Ta cũng không khỏi nghẹn ngào, rưng rưng nước mắt khi khi đọc đoạn thơ chị viết về cây đa làng hàng trăm tuổi, niềm tự hào của bao thế hệ, nơi gắn kết bao kỷ niệm thiêng liêng của bao người ở một làng quê bỗng dưng bị bức tử bởi sự xâm lấn bổ vây của nhưng kẻ chỉ vì chút quyền lợi riêng bất chấp tất cả: “Gặp đa đứng ở đầu làng/xung quanh lều lán bán hàng bổ vây/Chẳng còn nhìn thấy dáng cây/bạt chen kín gốc, dù vây kín cành”.

Phải nói rằng trải dài suốt tập thơ, nhiều… nhiều lắm những câu thơ tài hoa, những khổ thơ hay nhưng trong một bài viết ngắn ngủi này tôi không thể nào đưa lên hết được. Thật tiếc.


BCN Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TPHCM cùng khách mời tặng hoa chúc mừng nhà thơ Trần Kim Dung.


Các nhà thơ cao tuổi chụp ảnh lưu niệm sau buổi ra mắt "Những dấu chân thơ"


Một số hội viên nán lại chụp ảnh lưu niệm cùng tác giả "Những dấu chân thơ" sau buổi sinh hoạt.

Một lần nữa xin được cảm ơn cô giáo, nữ thi sĩ tài hoa Trần Kim Dung đã tặng tôi tập sách, những áng thơ tuyệt vời về danh lam thắng cảnh của nước ta và nhiều nước trên thế giới. Đọc NHỮNG DẤU CHÂN THƠ ta không những được thưởng thức các vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh, mà tác giả còn kích thích trái tim ta thêm yêu quê hương đất nước nồng nàn hơn, tha thiết hơn. Đôi lúc ngồi ngẫm cứ thấy tiêng tiếc, ngoài bát thập rồi, sức cạn gối long rồi nên không thể nào đặt chân đến được bao thắng cảnh tuyệt vời mà nữ thi sĩ mô tả trên các trang thơ để có thể thưởng ngoạn, tận mắt chiêm ngưỡng từng ngôi chùa, từng thung núi, từng ngọn thác, con đèo, từng bãi biển bát ngát trời mây…

TP. Hồ Chí Minh, cuối tháng 11/2023
P.G.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm