TIN TỨC

Đỗ Nam Cao câu thơ làm mát khoảng trời chiến tranh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-29 06:49:12
mail facebook google pos stwis
2423 lượt xem

Nhà thơ NGUYỄN VŨ QUỲNH

Tôi đã đọc tập thơ CÁNH CÒ LỬA của nhà thơ Đỗ Nam Cao anh viết từ thời 1970 – 1980. Đó là những năm tháng anh là người chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ giải phóng. Được biết anh cùng thời đi B với các nhà thơ Văn Lê, Trần Mạnh Hảo... Đó là thời điểm tạo nên những viên ngọc quý của văn học miền Đông Nam bộ trong cuộc kháng chiến. Rời ghế trường đại học Tổng hợp Hà Nội, cử nhân văn khoa Đỗ Nam Cao cùng bạn bè vào thẳng Tây Ninh, xuống Trảng Bàng, Củ Chi, Bình Dương. Là người cùng vào trận để ghi chép cuộc chiến đấu của quân và dân ta bằng những trang văn, bài báo, những kí sự chiến tranh giải phóng và nhất là những tác phẩm thơ. Bước chân giải phóng đã làm cho cuộc sống nơi chiến trường dịu bớt đi những căng thẳng nặng nề. Những chiến sĩ văn nghệ giải phóng thời ấy đã tạo nên bức tranh thơ sống động hiện thực, phản ánh sự khốc liệt của chiến tranh làm tăng thêm động lực chiến đấu cho quân dân ta trong thời khắc nghiệt. Anh đã ví thân phận mình như cánh cò lửa bay trên bầu trời kháng chiến, làm sáng nên những vần thơ xốn xao rung động lòng người. Làm cho tâm trí của tôi hôm nay ở đây càng nhớ về thời tuổi trẻ một thời cùng ra trận đã qua.


Nhà thơ Đỗ Nam Cao

Năm 1973 anh đã viết bài Cánh cò lửa: Vẫn con cò của ca dao/ Con cò lặn lội bờ ao ướt mình. Rồi: Xa trông như đốm lửa bùng/ Cánh con cò cháy rực vùng trời cao. Và như chợt thấy chiều ở đây: Ngẩn ngơ một cánh cò bay đỏ trời/ Ơi con cò của lòng người/ Ngàn năm quen lại khiến đời xôn xao/ Xuồng đi mây ửng ngọn sào/ Tôi mang đôi cánh lửa vào tiền phương… Ở đây cánh cò trong ca dao, dân ca chỉ là: Cánh cò bay lả bay la/ Bay từ ruộng lúa bay ra cánh đồng. Hay: Con cò bắt tép bờ sông /Sao mày ăn trộm lúa ông hỡi cò… Cánh cò ngày ấy trong Đỗ Nam Cao là cánh cò thơ chất chứa nhiệt huyết tinh thần làm đỏ rực bầu trời, là ý chí đời người đi vào tiền phương trên trận tuyến chống quân thù. Hình tượng cánh cò lửa của khao khát tự do độc lập cho dân tộc, là biểu trưng phẩm giá con người, là tiếng nói của thơ ca vang vọng bay xa khẳng định vị thế của người chiến sĩ cầm bút trên mặt trận văn hóa văn nghệ.

Cánh cò lửa bay vào tiền phương ấy, bắt đầu từ bài thơ Mùa thu chia tay, khác hẳn những cuộc chia tay như thường lệ, không ồn ào náo nhiệt mà lặng lẽ lạ thường đưới ngòi bút Đỗ Nam Cao. Như thế đấy em ơi ta xa nhau bây giờ/ Đau khi đất nước đang còn chảy máu/ Mạnh như Tổ quốc đang giờ chiến đấu/ Trăng dội xuống chỗ mình những ánh ban đêm… Sao lại không những ánh trăng đêm, sao đêm mà những ánh ban đêm. Ánh ban đêm ấy chứa đựng nỗi niềm gì đây? Có khi dễ dẫn đến cuộc chia li không bao giờ trở lại bởi cuộc chiến tranh đâu phải trò đùa.

Cũng năm 1973 giữa cái thời buổi tranh tối tranh sáng, giành giật với phía bên kia từng tấc đất. Anh đã nghĩ đến ngày toàn thắng để nhân dân xây dựng đất nước mình hơn mười ngày xưa. Tại thị trấn Lộc Ninh, Đỗ Nam Cao có dịp đã nghe tiếng gõ bay của người thợ xây và cũng từ giây phút ấy, tiếng thơ anh lan tỏa trong suy tư tâm tưởng đến ngày toàn thắng. Chỉ những tiếng gõ ấy thôi mà khát vọng ước ao mau thành hiện thực đến ngày hòa bình sẽ có những tiếng gõ trên những công trình ở phố phường làng quê. Một dự báo lạc quan,niềm tin của của người trong cuộc chiến:

Ôi thích biết bao tôi thành con trẻ/Tiếng trái tim nghe gõ nhịp lanh canh/Tiếng của tương lai thường là rất khỏe/Tiếng bay đập lên mặt gạch nung già/. Tiếng gõ bên này canh canh nhà trẻ/ Tiếng gõ bên kia xưởng máy đầu tiên/ Tiếng gõ vội bên nhà đỡ đẻ/ Tiếng gõ bốn bề thành phố hiện lên. Thế đấy trong chiến tranh nhà thơ đã lắng nghe được tiếng bay người thợ xây sẽ vang vọng trên những công trình, những đô thị tương lai. Đó là những dự đoán sắp trở thành hiện thực của thi ca và điều đó đã trở thành hiện thực.

Từ chiến khu Tây Ninh, Đỗ Nam Cao đã về đến sông Sài Gòn, không phải con sông tắm mát cả một thời trai trẻ của ông mà con sông ấy, ông phải lặn lội những năm tháng tuổi trẻ gian khổ mới đến được. Đi qua bao nhiêu mất mát đau thương mới tận tay vốc lên giọt nước dòng sông chảy về thành phố Sài Gòn mà nhà thơ yêu quý qua sách vở địa lí đã học. Bây giờ mới tới tận nơi nhìn qua mênh mông bát ngát, thấy nơi Bác Hồ đi tìm đường cứu nước. Phải chiến đấu để trở về bên thành phố dòng sông và nỗi nhớ này. Thành phố tôi yêu ở cuối dòng sông/ Mũi con thuyền xé nước sang ngang/ Hong ráng chiều con cò bay dọc/ Trong ráng chiều đỏ rực/ : Nước trong như vầy/ Nước mát lạnh tay/ Vốc lên xoa vào rát mặt/ Con thuyền giấy tuổi thơ/ Cháy bùng lên khát vọng/ Nước cứ bồn chồn/ Nước chảy ướt tay tôi. Và: Ta đạp lên toàn vòng gai thép giặc/ Vẫn cứ nghe rì rầm mạch nước dười bàn chân…

Đến với bài thơ Đi ngược cơn mưa. Ta đủ thấy con đường vào thành phố chiến tranh chông gai biết bao hiểm nguy: Gió ném mưa bay vào rát mặt/ Hướng con đường không nhìn rõ được/ Cứ nghe gió nghe mưa đập vào rát ngực/ Là nhận ra hướng của đường này. Thế đấy. Cùng đi ngược chiều với cơn mưa ấy, anh lại nghĩ về quê cái thời bên cha, bên mẹ: Mưa ở quê nhà có mái rạ vàng che/ Còn hơi ấm nồng nàn cha mẹ/ Mưa ở chiến trường hào hứng thế/ Đi ngược cơn mưa vào trận đánh hôm nay. Cơn mưa ngược chiều quất vào da vào thịt những đau đớn về thể xác nhưng trong tâm trí sâu xa người chiến sĩ văn nghệ, vẫn nghĩ về quê hương cha mẹ. Anh nghĩ về trận đánh sắp xẩy ra và những mất mát hi sinh khó lường trước hòn tên mũi đạn. Bài thơ Thư gửi bạn người đồng đội hy sinh trong trận đánh: Giọt sương đêm bé cỏn con/ Lật trong búi cỏ cùng hồn của ta/ Thương về một khoảng trời xa/ Một quầng lửa cháy là Khoa với mình…

Bài thơ Những căn hầm bí mật. Nhà thơ Đỗ Nam Cao viết bài thơ này vào năm 1974 ở Trảng Bàng - Củ Chi vùng ven đô Sài Gòn. Bài thơ đặc tả nổi buồn chiến tranh tàn khốc, sự sống trong lòng đất chật hẹp nhưng bao la tình người như cố nhà thơ Dương Hương Ly từng viết: ”Nơi hầm tối là nơi sáng nhất/ Nơi con tìm ra sức mạnh Việt Nam”. Thì Đỗ Nam Cao đã viết: Đất nước bốn ngàn năm lịch sử/ Trở mũi gươm rạch vào ngực kẻ thù/ Một đường thẳng vút lên/ Từ sôi sục phía trên/ Những người chui xuống hầm bí mật/ Như mũi tên tẩm độc/ Như tia nắng đi vào bóng đêm/ Như hạt mầm ủ ươm… Bài thơ dài nhưng độ nén căng tràn bật ra, tạo nên cảm xúc một thời chiến đấu đau thương mà hào hùng oanh liệt trước mong manh cái chết nhưng vẫn lạc quan tự tại: Quân thù đến dội bom/ Mặt đất rùng rình sợ/ Dưới lòng hầm khi đó/ Ta đang ngồi làm thơ. Bài thơ Ru con ở hầm, hạnh phúc nẩy mầm trong ác liệt là: Con sinh ra ở rừng/ Rừng thêm bóng mát. Và còn rất nhiều bài thơ khác được sinh ra trong thời điểm chiến tranh mà tôi chưa kịp kiểm đếm.

Cái giai đoạn khốc liệt giũa hòn tên mũi đạn, làn ranh của chiến tranh chực chờ dội xuống những vùng đất hiền lành như cỏ cây những thứ chết chóc. Kẻ thù buộc ta ôm cây súng để tìm ra lẽ sống hòa bình. Đã xuất hiện một giọng thơ Đỗ Nam Cao lãng mạn, nhân văn đầy chất anh hùng ca. Thơ viết trong chiến tranh, trước những nỗi bi thương nhưng với Đỗ Nam Cao có bút pháp trữ tình mang tính nghệ thuật, gần gũi mà sâu sắc. Thơ viết trong chiến tranh của Đỗ Nam Cao đầy sức chiến đấu, chứa đựng những tình cảm cao đẹp của người chiến sĩ văn nghệ giải phóng nhân nghĩa ân tình giữa sống chết mong manh nhưng đầy chất nhân văn.

Sau ngày đất nước thống nhất, người chiến sĩ ấy đã viết tập thơ Dính. Nhà thơ nhà lý luận phê bình Nguyễn Thụy Kha đã viết về Đỗ Nam Cao: “Những năm anh cắn răng lặng lẽ vậy mà vài năm sau, Cao cho ra mắt tập thơ đầu tiên có cái tên rất lạ “Dính”. Quả thật tập thơ hay và lạ. Dính chất chứa xô lệch bao số phận, bao quặn thắt dồn nén trần ai. Là những mãnh vỡ nham nhở ghép lại. Một vỉa hè va vấp của dân đen. Dính cứ thế thầm dính vào bạn bè và những người yêu thơ”. Tiếc rằng tôi không có được tác phẩm này. Tập trường ca bằng thơ lục bát Hỡi cô cắt cỏ là nỗi đau trong thơ anh cũng là nỗi đau số phận con người. Cuộc đời anh ít có niềm vui nên thơ ông cũng xù xì góc cạnh nhưng chứa đựng những cao xanh, không hèn hạ bôi bẩn. Anh về lại nơi ngày xưa một thời đèn sách văn chương, gặp gỡ bạn bè kỷ niệm, những gì thân yêu đầu đời cao quý. Hà nội chiều nay lòng nhao nhác nhớ/ Đường sấu mùa thu xanh tận cuối trời/ Heo may nắng hoe vàng rơm rớm khóc/ Đẹp ướt mi ai hè phố mùa thu/ Nâng chén men say nhẹ mảnh lá chiều/ Gió bỗng liêu xiêu kìa ai dừng lại/ Một cô áo vàng trong cõi nhớ thu riêng. Nhiều người đã viết về mùa Thu nhưng cung bậc trong thơ Đỗ Nam Cao cứ vượt qua sóng gió mà bay bổng mà nhẹ tênh sóng sánh. Có nhà thơ nói rằng, Đỗ Nam Cao ví thơ ông: “Thơ mình như khổ qua mướp đắng, xù xì gai góc như sầu riêng, như mái tóc rậm bết bồng bềnh chưa gội”. Nhưng nếu như thơ ông đắng như khổ qua, xù xì như sầu riêng thì quả là hồng phúc cho thơ. Bởi trong khổ qua mướp đắng là những vị thuốc mát lành dịu vợi nâng đỡ cơ thể làm thắm da đỏ thịt con người cũng như thơ sẽ làm dịu mát tâm hồn bất cứ ai trong bất cứ lúc nào. Nếu thơ anh nhìn xù xì bề ngoài như sẩu riêng ấy nhưng bên trong hương vị hấp dẫn ngon lành vì đó là chất của thơ. Vì đó là thơ anh không khoe mẽ chữ nghĩa, không đánh bóng từ ngữ sáo rỗng vô nghĩa mà chân chất mộc mạc vượt qua chông gai, tạo nên thứ men làm nên thứ rượu thơ là hồn cốt trong chữ nghĩa Đỗ Nam Cao. Thơ anh đầy ắp hương vị mà rất nhiều người vừa thấy đã yêu thích. Nếu như thơ anh bổng bềnh như mái tóc chưa gội thì đẹp chứ sao. Có nhà thơ đã viết: “Nhà thơ Đỗ Nam Cao đã lặng thầm cày bừa trên cánh đồng chữ nghĩa. Ông gieo mầm để có mùa gặt thơ trong cuộc sống đầy gai góc, gian truân, tạo nên những tác phẩm rạo rực tiếng thơ. Ông làm nên trường ca và ẩn mình lặng lẽ ngân nga trong lòng bè bạn nhưng Hội Nhà văn Việt nam bỏ quên ông để sau ba mươi năm sau Đỗ Nam Cao mới được ngồi trên cái ghế nhà văn”. Khi đã ngồi lên rồi chưa được bao lâu ông lại lặng lẽ về miền cát bụi!

 Kỷ niệm mười năm nhà thơ Đỗ Nam Cao về với tổ tiên miền di sản, ông để lại những áng văn chương bằng thơ chất chứa vị đời mà lắng đọng chất Đỗ Nam Cao vang lên những khát vọng. Đỗ Nam Cao đã lọc thơ ra từ xù xì đắng đót, tạo ra nguyên chất của thơ, làm dịu mát khoảng trời chiến tranh và khi đất nước đói nghèo. Ông đã rót vào dòng chảy văn học kháng chiến miền Nam, văn học Việt nam đương thời những dòng thơ lãng mạn cách mạng mà thế hệ trẻ ngày nay khó có điều kiện tạo dựng.

Xin gửi đến ông và gia đình nhà thơ Đỗ Nam Cao, làng Văn Việt Nam lòng biết ơn của tôi với ông. Đó là vào năm 2007 tác phẩm Hai mươi năm sau là tập truyện ngắn và ghi chép đầu tay của tôi được Nhà xuất bản Văn hóa thông tin mời nhà thơ Đỗ Nam Cao biên tập. Đó là điều bất ngờ hân hạnh cho tôi. Sau đó sách in ra tôi tìm gặp ông tại quán văn nghệ 171 Trần Quốc Thảo khi ông đang ngồi với bạn tâm giao nhà thơ Hoàng Trần Cương từ Hà Nội vào. Biết tôi, ông chỉ nói môt câu không thừa không thiếu: “Hai mươi năm sau có mấy truyện đọc được Quỳnh ạ”. Xin chân thành cảm ơn ông lần nữa, chắc rằng nơi cửu tuyền ông sẽ vui khi trên trần gian này còn nhiều người chúng ta, trong đó có tôi đang đọc và nhớ tới nhà văn Đỗ Nam Cao. Bởi thơ ông làm dịu mát khoảng trời chiến tranh và tạo nên chất thơ Dính giữa con người với thơ và làm cho bạn đọc nhớ về trường ca Hỡi cô cắt cỏ của ông mộc mạc chân quê, chân thực phận người nên thơ. Xin chân thành cảm ơn.

 Sài gòn tháng 10/2021.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm