TIN TỨC

Đỗ Nam Cao câu thơ làm mát khoảng trời chiến tranh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-29 06:49:12
mail facebook google pos stwis
2658 lượt xem

Nhà thơ NGUYỄN VŨ QUỲNH

Tôi đã đọc tập thơ CÁNH CÒ LỬA của nhà thơ Đỗ Nam Cao anh viết từ thời 1970 – 1980. Đó là những năm tháng anh là người chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ giải phóng. Được biết anh cùng thời đi B với các nhà thơ Văn Lê, Trần Mạnh Hảo... Đó là thời điểm tạo nên những viên ngọc quý của văn học miền Đông Nam bộ trong cuộc kháng chiến. Rời ghế trường đại học Tổng hợp Hà Nội, cử nhân văn khoa Đỗ Nam Cao cùng bạn bè vào thẳng Tây Ninh, xuống Trảng Bàng, Củ Chi, Bình Dương. Là người cùng vào trận để ghi chép cuộc chiến đấu của quân và dân ta bằng những trang văn, bài báo, những kí sự chiến tranh giải phóng và nhất là những tác phẩm thơ. Bước chân giải phóng đã làm cho cuộc sống nơi chiến trường dịu bớt đi những căng thẳng nặng nề. Những chiến sĩ văn nghệ giải phóng thời ấy đã tạo nên bức tranh thơ sống động hiện thực, phản ánh sự khốc liệt của chiến tranh làm tăng thêm động lực chiến đấu cho quân dân ta trong thời khắc nghiệt. Anh đã ví thân phận mình như cánh cò lửa bay trên bầu trời kháng chiến, làm sáng nên những vần thơ xốn xao rung động lòng người. Làm cho tâm trí của tôi hôm nay ở đây càng nhớ về thời tuổi trẻ một thời cùng ra trận đã qua.


Nhà thơ Đỗ Nam Cao

Năm 1973 anh đã viết bài Cánh cò lửa: Vẫn con cò của ca dao/ Con cò lặn lội bờ ao ướt mình. Rồi: Xa trông như đốm lửa bùng/ Cánh con cò cháy rực vùng trời cao. Và như chợt thấy chiều ở đây: Ngẩn ngơ một cánh cò bay đỏ trời/ Ơi con cò của lòng người/ Ngàn năm quen lại khiến đời xôn xao/ Xuồng đi mây ửng ngọn sào/ Tôi mang đôi cánh lửa vào tiền phương… Ở đây cánh cò trong ca dao, dân ca chỉ là: Cánh cò bay lả bay la/ Bay từ ruộng lúa bay ra cánh đồng. Hay: Con cò bắt tép bờ sông /Sao mày ăn trộm lúa ông hỡi cò… Cánh cò ngày ấy trong Đỗ Nam Cao là cánh cò thơ chất chứa nhiệt huyết tinh thần làm đỏ rực bầu trời, là ý chí đời người đi vào tiền phương trên trận tuyến chống quân thù. Hình tượng cánh cò lửa của khao khát tự do độc lập cho dân tộc, là biểu trưng phẩm giá con người, là tiếng nói của thơ ca vang vọng bay xa khẳng định vị thế của người chiến sĩ cầm bút trên mặt trận văn hóa văn nghệ.

Cánh cò lửa bay vào tiền phương ấy, bắt đầu từ bài thơ Mùa thu chia tay, khác hẳn những cuộc chia tay như thường lệ, không ồn ào náo nhiệt mà lặng lẽ lạ thường đưới ngòi bút Đỗ Nam Cao. Như thế đấy em ơi ta xa nhau bây giờ/ Đau khi đất nước đang còn chảy máu/ Mạnh như Tổ quốc đang giờ chiến đấu/ Trăng dội xuống chỗ mình những ánh ban đêm… Sao lại không những ánh trăng đêm, sao đêm mà những ánh ban đêm. Ánh ban đêm ấy chứa đựng nỗi niềm gì đây? Có khi dễ dẫn đến cuộc chia li không bao giờ trở lại bởi cuộc chiến tranh đâu phải trò đùa.

Cũng năm 1973 giữa cái thời buổi tranh tối tranh sáng, giành giật với phía bên kia từng tấc đất. Anh đã nghĩ đến ngày toàn thắng để nhân dân xây dựng đất nước mình hơn mười ngày xưa. Tại thị trấn Lộc Ninh, Đỗ Nam Cao có dịp đã nghe tiếng gõ bay của người thợ xây và cũng từ giây phút ấy, tiếng thơ anh lan tỏa trong suy tư tâm tưởng đến ngày toàn thắng. Chỉ những tiếng gõ ấy thôi mà khát vọng ước ao mau thành hiện thực đến ngày hòa bình sẽ có những tiếng gõ trên những công trình ở phố phường làng quê. Một dự báo lạc quan,niềm tin của của người trong cuộc chiến:

Ôi thích biết bao tôi thành con trẻ/Tiếng trái tim nghe gõ nhịp lanh canh/Tiếng của tương lai thường là rất khỏe/Tiếng bay đập lên mặt gạch nung già/. Tiếng gõ bên này canh canh nhà trẻ/ Tiếng gõ bên kia xưởng máy đầu tiên/ Tiếng gõ vội bên nhà đỡ đẻ/ Tiếng gõ bốn bề thành phố hiện lên. Thế đấy trong chiến tranh nhà thơ đã lắng nghe được tiếng bay người thợ xây sẽ vang vọng trên những công trình, những đô thị tương lai. Đó là những dự đoán sắp trở thành hiện thực của thi ca và điều đó đã trở thành hiện thực.

Từ chiến khu Tây Ninh, Đỗ Nam Cao đã về đến sông Sài Gòn, không phải con sông tắm mát cả một thời trai trẻ của ông mà con sông ấy, ông phải lặn lội những năm tháng tuổi trẻ gian khổ mới đến được. Đi qua bao nhiêu mất mát đau thương mới tận tay vốc lên giọt nước dòng sông chảy về thành phố Sài Gòn mà nhà thơ yêu quý qua sách vở địa lí đã học. Bây giờ mới tới tận nơi nhìn qua mênh mông bát ngát, thấy nơi Bác Hồ đi tìm đường cứu nước. Phải chiến đấu để trở về bên thành phố dòng sông và nỗi nhớ này. Thành phố tôi yêu ở cuối dòng sông/ Mũi con thuyền xé nước sang ngang/ Hong ráng chiều con cò bay dọc/ Trong ráng chiều đỏ rực/ : Nước trong như vầy/ Nước mát lạnh tay/ Vốc lên xoa vào rát mặt/ Con thuyền giấy tuổi thơ/ Cháy bùng lên khát vọng/ Nước cứ bồn chồn/ Nước chảy ướt tay tôi. Và: Ta đạp lên toàn vòng gai thép giặc/ Vẫn cứ nghe rì rầm mạch nước dười bàn chân…

Đến với bài thơ Đi ngược cơn mưa. Ta đủ thấy con đường vào thành phố chiến tranh chông gai biết bao hiểm nguy: Gió ném mưa bay vào rát mặt/ Hướng con đường không nhìn rõ được/ Cứ nghe gió nghe mưa đập vào rát ngực/ Là nhận ra hướng của đường này. Thế đấy. Cùng đi ngược chiều với cơn mưa ấy, anh lại nghĩ về quê cái thời bên cha, bên mẹ: Mưa ở quê nhà có mái rạ vàng che/ Còn hơi ấm nồng nàn cha mẹ/ Mưa ở chiến trường hào hứng thế/ Đi ngược cơn mưa vào trận đánh hôm nay. Cơn mưa ngược chiều quất vào da vào thịt những đau đớn về thể xác nhưng trong tâm trí sâu xa người chiến sĩ văn nghệ, vẫn nghĩ về quê hương cha mẹ. Anh nghĩ về trận đánh sắp xẩy ra và những mất mát hi sinh khó lường trước hòn tên mũi đạn. Bài thơ Thư gửi bạn người đồng đội hy sinh trong trận đánh: Giọt sương đêm bé cỏn con/ Lật trong búi cỏ cùng hồn của ta/ Thương về một khoảng trời xa/ Một quầng lửa cháy là Khoa với mình…

Bài thơ Những căn hầm bí mật. Nhà thơ Đỗ Nam Cao viết bài thơ này vào năm 1974 ở Trảng Bàng - Củ Chi vùng ven đô Sài Gòn. Bài thơ đặc tả nổi buồn chiến tranh tàn khốc, sự sống trong lòng đất chật hẹp nhưng bao la tình người như cố nhà thơ Dương Hương Ly từng viết: ”Nơi hầm tối là nơi sáng nhất/ Nơi con tìm ra sức mạnh Việt Nam”. Thì Đỗ Nam Cao đã viết: Đất nước bốn ngàn năm lịch sử/ Trở mũi gươm rạch vào ngực kẻ thù/ Một đường thẳng vút lên/ Từ sôi sục phía trên/ Những người chui xuống hầm bí mật/ Như mũi tên tẩm độc/ Như tia nắng đi vào bóng đêm/ Như hạt mầm ủ ươm… Bài thơ dài nhưng độ nén căng tràn bật ra, tạo nên cảm xúc một thời chiến đấu đau thương mà hào hùng oanh liệt trước mong manh cái chết nhưng vẫn lạc quan tự tại: Quân thù đến dội bom/ Mặt đất rùng rình sợ/ Dưới lòng hầm khi đó/ Ta đang ngồi làm thơ. Bài thơ Ru con ở hầm, hạnh phúc nẩy mầm trong ác liệt là: Con sinh ra ở rừng/ Rừng thêm bóng mát. Và còn rất nhiều bài thơ khác được sinh ra trong thời điểm chiến tranh mà tôi chưa kịp kiểm đếm.

Cái giai đoạn khốc liệt giũa hòn tên mũi đạn, làn ranh của chiến tranh chực chờ dội xuống những vùng đất hiền lành như cỏ cây những thứ chết chóc. Kẻ thù buộc ta ôm cây súng để tìm ra lẽ sống hòa bình. Đã xuất hiện một giọng thơ Đỗ Nam Cao lãng mạn, nhân văn đầy chất anh hùng ca. Thơ viết trong chiến tranh, trước những nỗi bi thương nhưng với Đỗ Nam Cao có bút pháp trữ tình mang tính nghệ thuật, gần gũi mà sâu sắc. Thơ viết trong chiến tranh của Đỗ Nam Cao đầy sức chiến đấu, chứa đựng những tình cảm cao đẹp của người chiến sĩ văn nghệ giải phóng nhân nghĩa ân tình giữa sống chết mong manh nhưng đầy chất nhân văn.

Sau ngày đất nước thống nhất, người chiến sĩ ấy đã viết tập thơ Dính. Nhà thơ nhà lý luận phê bình Nguyễn Thụy Kha đã viết về Đỗ Nam Cao: “Những năm anh cắn răng lặng lẽ vậy mà vài năm sau, Cao cho ra mắt tập thơ đầu tiên có cái tên rất lạ “Dính”. Quả thật tập thơ hay và lạ. Dính chất chứa xô lệch bao số phận, bao quặn thắt dồn nén trần ai. Là những mãnh vỡ nham nhở ghép lại. Một vỉa hè va vấp của dân đen. Dính cứ thế thầm dính vào bạn bè và những người yêu thơ”. Tiếc rằng tôi không có được tác phẩm này. Tập trường ca bằng thơ lục bát Hỡi cô cắt cỏ là nỗi đau trong thơ anh cũng là nỗi đau số phận con người. Cuộc đời anh ít có niềm vui nên thơ ông cũng xù xì góc cạnh nhưng chứa đựng những cao xanh, không hèn hạ bôi bẩn. Anh về lại nơi ngày xưa một thời đèn sách văn chương, gặp gỡ bạn bè kỷ niệm, những gì thân yêu đầu đời cao quý. Hà nội chiều nay lòng nhao nhác nhớ/ Đường sấu mùa thu xanh tận cuối trời/ Heo may nắng hoe vàng rơm rớm khóc/ Đẹp ướt mi ai hè phố mùa thu/ Nâng chén men say nhẹ mảnh lá chiều/ Gió bỗng liêu xiêu kìa ai dừng lại/ Một cô áo vàng trong cõi nhớ thu riêng. Nhiều người đã viết về mùa Thu nhưng cung bậc trong thơ Đỗ Nam Cao cứ vượt qua sóng gió mà bay bổng mà nhẹ tênh sóng sánh. Có nhà thơ nói rằng, Đỗ Nam Cao ví thơ ông: “Thơ mình như khổ qua mướp đắng, xù xì gai góc như sầu riêng, như mái tóc rậm bết bồng bềnh chưa gội”. Nhưng nếu như thơ ông đắng như khổ qua, xù xì như sầu riêng thì quả là hồng phúc cho thơ. Bởi trong khổ qua mướp đắng là những vị thuốc mát lành dịu vợi nâng đỡ cơ thể làm thắm da đỏ thịt con người cũng như thơ sẽ làm dịu mát tâm hồn bất cứ ai trong bất cứ lúc nào. Nếu thơ anh nhìn xù xì bề ngoài như sẩu riêng ấy nhưng bên trong hương vị hấp dẫn ngon lành vì đó là chất của thơ. Vì đó là thơ anh không khoe mẽ chữ nghĩa, không đánh bóng từ ngữ sáo rỗng vô nghĩa mà chân chất mộc mạc vượt qua chông gai, tạo nên thứ men làm nên thứ rượu thơ là hồn cốt trong chữ nghĩa Đỗ Nam Cao. Thơ anh đầy ắp hương vị mà rất nhiều người vừa thấy đã yêu thích. Nếu như thơ anh bổng bềnh như mái tóc chưa gội thì đẹp chứ sao. Có nhà thơ đã viết: “Nhà thơ Đỗ Nam Cao đã lặng thầm cày bừa trên cánh đồng chữ nghĩa. Ông gieo mầm để có mùa gặt thơ trong cuộc sống đầy gai góc, gian truân, tạo nên những tác phẩm rạo rực tiếng thơ. Ông làm nên trường ca và ẩn mình lặng lẽ ngân nga trong lòng bè bạn nhưng Hội Nhà văn Việt nam bỏ quên ông để sau ba mươi năm sau Đỗ Nam Cao mới được ngồi trên cái ghế nhà văn”. Khi đã ngồi lên rồi chưa được bao lâu ông lại lặng lẽ về miền cát bụi!

 Kỷ niệm mười năm nhà thơ Đỗ Nam Cao về với tổ tiên miền di sản, ông để lại những áng văn chương bằng thơ chất chứa vị đời mà lắng đọng chất Đỗ Nam Cao vang lên những khát vọng. Đỗ Nam Cao đã lọc thơ ra từ xù xì đắng đót, tạo ra nguyên chất của thơ, làm dịu mát khoảng trời chiến tranh và khi đất nước đói nghèo. Ông đã rót vào dòng chảy văn học kháng chiến miền Nam, văn học Việt nam đương thời những dòng thơ lãng mạn cách mạng mà thế hệ trẻ ngày nay khó có điều kiện tạo dựng.

Xin gửi đến ông và gia đình nhà thơ Đỗ Nam Cao, làng Văn Việt Nam lòng biết ơn của tôi với ông. Đó là vào năm 2007 tác phẩm Hai mươi năm sau là tập truyện ngắn và ghi chép đầu tay của tôi được Nhà xuất bản Văn hóa thông tin mời nhà thơ Đỗ Nam Cao biên tập. Đó là điều bất ngờ hân hạnh cho tôi. Sau đó sách in ra tôi tìm gặp ông tại quán văn nghệ 171 Trần Quốc Thảo khi ông đang ngồi với bạn tâm giao nhà thơ Hoàng Trần Cương từ Hà Nội vào. Biết tôi, ông chỉ nói môt câu không thừa không thiếu: “Hai mươi năm sau có mấy truyện đọc được Quỳnh ạ”. Xin chân thành cảm ơn ông lần nữa, chắc rằng nơi cửu tuyền ông sẽ vui khi trên trần gian này còn nhiều người chúng ta, trong đó có tôi đang đọc và nhớ tới nhà văn Đỗ Nam Cao. Bởi thơ ông làm dịu mát khoảng trời chiến tranh và tạo nên chất thơ Dính giữa con người với thơ và làm cho bạn đọc nhớ về trường ca Hỡi cô cắt cỏ của ông mộc mạc chân quê, chân thực phận người nên thơ. Xin chân thành cảm ơn.

 Sài gòn tháng 10/2021.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm