TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Đôi điều cảm nhận về tập thơ “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi”

Đôi điều cảm nhận về tập thơ “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-04 08:21:15
mail facebook google pos stwis
12689 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG

Có thể nhận định ngay rằng tựa đề của tập thơ đã mang dấu ấn lịch sử sâu sắc, có tính xuyên suốt một hành trình chông giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Những thế hệ vàng tuổi trẻ Việt Nam dấn thân yêu đời, đã hừng hực ra chiến trường bỏ lại sau lưng nhiều ước mơ riêng, những người thân yêu dấu, những cái nhìn len lén cô láng giềng bên, những câu thề lứa đôi mây mảy dậy thì. Họ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Ba lô của họ chật ních những tiếng chim, tiếng gà, tiếng mẹ ru xưa thời tấm bé, những dòng sông bến nước con đò v.vv. Tất cả là hành trang cho một hành trình thăm thắm, với bao nhiêu gian truân, máu lửa hãi hùng, họ chiến đấu ngoan cường trước bọn giặc ngoại xâm, cho môt ngày về, cho thống nhất non sông, cho thanh bình nở hoa độc lập. Làm sao chúng ta không rưng rưng trước bao nhiêu chiến sĩ đã ra đi ngày ấy không về, họ đã tạc dáng hình vào Trường Sơn hùng vĩ, hay những miền đất thiêng liêng cuả Tổ Quốc hôm nay.


Nhà thơ Xuân Trường tại buổi ra mắt tuyển tập thơ "Chúng con chiến đấu cho người sống mại Việt Nam ơi"

Với 20 tác giả và 103 bài thơ đã làm nên một thông điệp nhắc nhở chúng ta, những tháng năm hào hùng của dân tộc, hãy kết nối chiến tranh và hòa bình, kết nối thế hệ, mà tỏ lòng biết ơn, giữ thái độ sống nghiêm túc để không làm phụ lòng những chiến sĩ đã không trở về. Những câu thơ ướt đẫm mồ hôi leo dốc của nhà thơ Lê Văn Vọng đã cho ta thấy những gian truân thử thách đôi khi vượt quá sức người, vậy mà các chiến sĩ phải chấp nhận để vượt qua, đúng là “Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao” anh đã viết “Cái dốc cao 897 bậc / Đầu người đi sau nối chân người đi trước / Mỗi gùi hàng nặng đến sáu, bảy mươi cân / Mỗi bước lên đầu gối chạm cằm, thật là mỗi bước đi không thể nào khó khăn hơn thế nữa, những câu thơ viết trong lòng hạt gạo dân công, trong mùi thơm hàng hóa, thực phẩm phục vụ chiến trường “có bậc nào em chung thân quen / Nắm đất nào không có mồ hôi em / Mùa mưa dốc trơn như mỡ / Những chuyến hàng lên bao bận ngã / Dép cao su phải khắc rãnh sâu” (trong bài Dốc Mỹ thua). Câu thơ viết trên tà áo trinh nguyên người con gái, tà áo dài chờ người chiến sĩ trở về, nhà thơ Đàm Chu Văn đã đưa ta vào trạng thái ám ảnh đến nổi da gà “Anh không về / màu áo trắng để tang lời thề hẹn / Bốn mươi năm em vẫn mang áo dài trắng tìm anh / biết lòng mình còn trong trắng / những người lính tình nguyện năm xưa theo hương áo tìm về “(trong bài Lời hẹn áo dài) đúng là “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Những câu thơ viết trên đầu súng, viết trong tầm đạn, của trận chiến cuối cùng, báo hiệu “Sài Gòn ơi ta đã về đây”, nhà thơ Trần Thế Tuyển đã đưa ta về bốn mươi lăm năm trước, những nỗi nhớ đã được gọi thành tên, là điểm nhấn cho ký ức ngày về “Đầy vơi nhớ một thời máu lửa / Cánh rừng xưa sốt rét vàng da / Đầy vơi nhớ đồng đội nơi cửa mở / Tiếng gọi “mẹ ơi” trước lúc đi xa / Và nhớ mãi mùa xuân năm ấy / Năm cánh quân như một gọng kim / Cầu Rạch Chiếc xe tăng thù bốc cháy / Chiến sĩ đặc công biền biệt cánh chim .../Mới thoáng đó, bốn mươi lăm năm / Vật đổi sao dời sáng mưa chiều nắng / Chỉ có lòng người thủy chung trong trắng / Như buổi đầu hò hẹn bến sông” (trong bài Bốn mươi lăm năm). Đúng vậy những mất mát, những hy sinh, những ác liệt của chiến trận, chiến trường luôn đầy lên trong trái tim người lính, ngày về trong thanh bình, còn biết bao nhiêu vất vả lo toan, áo cơm lại là nỗi lo thường trực trước cuộc sông đầy biên động của thị trường, ai nhớ ai quên, chỉ có lòng chung thủy mới đem lại sự bình yên trong tâm khảm của mỗi con người. Những câu thơ viết cho hiện thực ngày về nhà thơ Hoàng Đình Quang đã đưa ta đi vào mỗi hoàn cảnh, mỗi thân phận, mỗi con người, trong chiến tranh thì chung lưng đấu cật, cùng gian khổ hy sinh nhưng ngày về thì có người còn sót lại đang vật vả áo cơm, anh đã viết cho bạn bè đồng đội, với tấm lòng nhân văn, mà trắc ẩn vô cùng “Gốc cây quán cóc ta ngồi / Rượu suông ta nhắm với thời vinh quang / Tay run mắt đỏ ly tràn / Rót vào trăm nỗi ngổn ngang vơi đầy / Chúng mình sống đến hôm nay / Còn bao nhiêu đứa gửi thây rừng già / Ơn trời đất ơn mẹ cha / Đội ơn vợ đã vì ta mà nghèo / Rượu cho chồng cám cho heo / Tình tang cho nợ bọt bèo cho thơ / Thương đàn con dại ngẩn ngơ / Di truyền cả cái khù hờ của cha / Long đong ở giữa quê nhà / Quẩn quanh ở chỗ người ta cờ tàn / Bạn ngồi bạn uống rượu khan / Tôi ngồi tôi uống cơ hàn bạn tôi” (trong bài Gặp bạn ở chợ Bến Thành). Lâu nay tôi cứ tưởng Hoàng Đình Quang chỉ là nhà văn, thật bất ngờ quá với những câu lục bát tài tình đầy ấn tượng của anh đã thành những tác động vật vật lý trị liệu nỗi buồn và kích hoạt những tổ chức những lòng người hãy nhìn vào những khó khăn của người lính ngày về.

Có sự quên lãng, thiếu vắng nào đây của người sau lo cho kể trước trong đền ơn đáp nghĩa, mà nhà thơ Vũ Đức Thắng đã chia sẻ những câu thơ đầy nỗi niềm trắc ẩn “Mưa rơi tí tách bên hè / Hồn bao đồng đội chưa về… lạc đâu?/ Thế gian nhân nghĩa nát nhàu / Mưu mô thủ đoạn làm giàu vinh thân / Nghe trong gió vắng xa gần / Hồn lang thang gọi người thân vật vờ” hoặc là “Hiện sinh kiếp sống trần gian / Chữ nhân chữ đức nát tan hết rồi /Chán cho cái thói người đời / Cả bầy cơ hội Ma Trơi diễn trò (trong bài Đêm Đồng Tháp Mười). Những câu thơ viết trên cuộc chia ly khi đời đã sang trang, trong thanh bình lại người đi kẻ ở, hoàn cảnh nào mà phải đại dương cách biệt xa vời, những ngày xưa bên nhau gian khó đâu nữa, vậy là lỡ hẹn ngày về nhà thơ Vũ Chí Thành đã hỏi vào cái không gian của anh, những câu hỏi lại vang lên trong lòng chúng ta “Sáng mai này em rời xa xứ sở / Rồi sẽ bay đi đến tận cuối trời / Cách một đại dương trùng trùng bão tố / Biết bao giờ gặp lại em ơi?/ Em có nhớ trận Mậu Thân máu lửa / Cõng thương binh qua làn đạn quân thù / Mái tóc đen bay ngang trời thành phố / Tuổi trăng tròn hoa nở rộ chiến khu / Em có nhớ trận giặc càn năm ấy / Đơn vị mình suối cạn ém quân / Trăng tháng ba như mặt người con gái / Hẹn ngày về thắng lớn giữa mùa xuân” (trong bài Bao giờ mới có mưa ngâu), trời sinh mỗi năm có một lần mưa ngâu, thế mà nhà thơ lại hỏi bao giờ cho đến mưa ngâu, đúng là nỗi nhớ của nhà thơ thôi thúc đến vô cùng. Trong chiến tranh giữa cái chết và cái sống chỉ cách nhau đường tơ kẽ tóc, nhanh chậm chỉ tính bằng giây nhà thơ Mai Quỳnh Nam đã có những câu thơ hú hồn làm ta nghẹt thở “Nó bây giờ là thế này đây / Khẩu M79 văng trên công sự / Trước khi chết nó nhìn tôi rất rõ / Cái đầu ruồi đã chĩa thẳng vào tôi / Qủa đạn lên nòng chưa kịp lao đi / Nó đã bị súng tôi quật ngã / Nó nằm lại trong rừng già sỏi đá / Máu ươt đầm bộ quân phục rằn ri” (trong bài Nó là thế này đây).

Những câu thơ của nhà thơ Văn Lê trong bài thơ “Vé trở về” đã làm  ta rung cảm cho một thời đất nước ta đã tập trung tất cả cho kháng chiến giành độc lập và phải chống chọi với đói nghèo, anh mô tả hoàn cảnh của hai anh em một trai một gái, người anh trong cảnh nghèo khó vẫn tần tảo nuôi em, người em còn thơ dại. Rồi một ngày người anh đi kháng chiến, bỏ lại người em phải tự lo liệu mọi thứ cho đời mình, rồi người em cũng lớn lên có gia đình, người anh đã hy sinh nơi chiến trường Cà Tum, người em gái đã cùng chồng đi tìm hài cốt của anh và cố mua cho được một vé tàu cho bộ hài cốt trở về. Những câu thơ vang ra âm thanh buồn, nhịp điệu khi khoan thai khi dồn, thúc như làm co thắt tim ta. Đọc hết “Vé trở về” ai mà không rưng rưng nước mắt, bài thơ này đã là điểm nhấn cho tập thơ “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi”. Những câu thơ uống giọt nắng hồng mà tìm về bên triền sông xưa để sưởi ấm nơi người em gái đã hy sinh nằm lại chiến trường, người em gái ấy đã mĩm cười trước khi đi xa về miền miên viễn. Nhà thơ Lương Minh Cừ đã làm đầy lên trong chúng ta những cảm xúc chiến trường bằng cách anh đã tịnh tâm cho ký ức ùa về và trải ra ra trang giấy “Bận quá anh chưa về thăm được / Nhớ nước Đồng Nai ngọt tiếng hò / Đâu có dễ gì quên thuở trước / Một thời bom dội giữa câu thơ / Em đi như dáng dòng sông ấy / Băng mấy quãng đồng giặc kích đêm / Bom đìa pháo chụp không ngăn được / Những cánh quân về rợp sắc sông / …/ Như con chim nhỏ trong giông lửa / Vút giữa bom rơi với súng rền / Em cùng đồng đội truy kích giăc / Khăn rằn căng rát đạn tiểu liên / Chiều em ngã xuống bên sông ấy / Súng vẫn trong tay miệng mỉm cười”  (trong bài Nỗi nhớ gửi lại một dòng sông), có người em cụ thể tên Hương đã làm cho nhà thơ bất chợt với nhiều ý lạ “Em về thoang thoảng hoa ngâu / Nửa tà áo tím nửa bầu trời xanh / Em về đốt trái tim anh / Nửa rừng rực nóng nửa lành lạnh thêm” (trong bài Bất chợt mùa xuân), nhà thơ Lương Minh Cừ đến giữa chúng ta như một sứ giả thơ, anh kết nối, giao lưu, chính anh đã tổ chức biên tập, xin phép in ấn cho tập thơ  “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi”. Những câu thơ viết lên mặt trời tháng Tư nhà thơ Lam Giang đã đưa ta về 47 năm trước với những niềm vui đến trào nước mắt reo mừng trong ngày thống nhất non sông “Sài Gòn ơi tôi đã về đây / Mà bao đêm ngóng chân trời nôn nao / Bạn tôi ngã trước hàng rào / Trên đường đột phá tiến vào nội đô / Phút giây ấy đến bây giờ / Trong tôi vẫn rộn sắc cờ màu hoa / Hai mươi năm chợp mắt qua / Thời gian trôi vụt như là giấc mơ” … Rồi anh đã thăng hoa “Một vùng hồi ức trong tôi / Cháy lên cùng với mặt trời tháng Tư (trong bài Trở lại tháng Tư).  Rồi anh lại viết vào hoàng hôn đỏ ối những tưởng nhớ đồng đội làm cho lòng ta ngậm ngùi “Khoác súng ra đi chiều đỏ ối hoàng hôn / Và đêm ấy anh không về nữa / Những cánh đồng ngủ say trong gió / Vào mùa dưa hấu chín mênh mông / Tôi về đây lặng ngắm trên đồng / Anh nằm nghỉ bên lùm hoa mua tím / Nghe cháy bỏng lời thơ bay đến / “Tiếng đàn trên vùng giáp ranh” .(trong bài Bài thơ anh bây giờ). Những câu thơ viết trong lòng địa đạo, run rẩy trước “ánh trăng” mười tám, nhà thơ Xuân Hòa đã chia sẻ đến chúng ta trạng thái cảm xúc anh khi đó “Tôi và em những ngày đánh giặc / Trong lòng địa đạo Củ Chi / Tay nắm trong tay ,khẩu súng nằm kề / Hơi thở xôn xao lòng đất / Tôi hiểu tình em trao tôi rất thật / Ngào ngạt hương rừng bay bay /……../ Ánh trăng liền trong kẽ lá đung đưa / Ẩn hiện nửa vầng trăng mười tám / Tôi đưa tay bâng khuâng khẽ chạm / Vội rút về sợ vỡ ánh trăng (trong bài Tôi và em ngày xưa ở rừng).

Ôi thi vị quá tình yêu ngoài chiến trận, những người yêu vẫn giữ được cho nhau. Những câu thơ viết trên dòng sông đang chảy nhà thơ Trần Văn Tuấn đã cho ta nhận diện một hành trình rát bỏng tuổi đôi mươi “Tôi đã đi qua những rừng le rừng khộp / Đi mỏi chân không thấy suối khe / Mỗi buổi sáng tắm áo trong sương sớm / Vắt vào lon lấy nước mang đi /  Tôi đã đi qua những rừng già ba lớp / Với dây leo chằng chịt thấp cao / Lên cơn sốt nilon quấn chặt / Ép lạnh ra cho nắng ấm chui vào / …./ Tôi đã đi theo nguồn sông ấy / Để về nơi bến đợi cuối cùng / Nơi rừng núi và biển xanh hội tụ / Bến và sông mang tên gọi Sài Gòn” (trong bài Lời hát từ một dòng sông). Trong phạm vi một bài thơ mà anh đã phác họa một hành trình đi đến đích của hai mươi năm thu xếp  giang sơn về một mối và thống nhất đất nước của dân tộc ta. Những câu thơ đã níu chiều chậm lại cho âm thanh thiêng liêng vang lên trong lòng ta từ Phủ Tây Hồ, nhà thơ Thái Thăng Long đã cho ta thưởng thức một buổi chiều êm ái, để tâm hồn lắng lại, sau những đa đoan vật vả đời thường, những câu thơ giàu chất nhạc, nhịp điệu như chiều đi chậm dần vào xa thẳm “Bất giác chiều như muốn chậm đi / Gió trên sóng / Đôi thuyền câu nhả lưới / Mênh mông sương khói / Hồ Tây sóng vỗ Phủ Tây Hồ / Huyền thoại giấc mơ / Chầm chậm lễ chùa cùng em cung kính / …../Em khói hương để thanh thản một phận đời / Ta khói hương để khỏi chơi vơi / Chấp tay lạy những thánh nhân trời đất / Khói hương rủ lòng mình bềnh bồng cõi Phật /Trời xa xanh tiếng hạc trắng kêu hoài /…   /Những nỗi buồn gieo neo chiều vắng / Thanh thản bên em trước thềm điện đời thường /…/ Tĩnh lặng tận cùng / Bao la trên sóng nước / …/ Gió Tây Hồ thới buốt mái rêu phong / Rưng rưng lắm mà em chẳng khóc / Hóa vàng đi em lễ Phật Phủ Tây Hồ (trong bài Chiều Phủ Tây Hồ). Đúng vậy sau chiến tranh và sóng gió của thị trường, những hãi hùng cơm áo chúng ta rất cần những buổi chiều của nhà thơ Thái Thăng Long. Tôi đã phiêu lưu quá xa trong tập thơ này, những vẫn thấy chưa đủ, xin cảm ơn quý vị đã lắng nghe, chúc quý vị an lành, xin cảm ơn.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm
Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng
Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.
Xem thêm