TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Đôi điều cảm nhận về tập thơ “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi”

Đôi điều cảm nhận về tập thơ “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-04 08:21:15
mail facebook google pos stwis
14472 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG

Có thể nhận định ngay rằng tựa đề của tập thơ đã mang dấu ấn lịch sử sâu sắc, có tính xuyên suốt một hành trình chông giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Những thế hệ vàng tuổi trẻ Việt Nam dấn thân yêu đời, đã hừng hực ra chiến trường bỏ lại sau lưng nhiều ước mơ riêng, những người thân yêu dấu, những cái nhìn len lén cô láng giềng bên, những câu thề lứa đôi mây mảy dậy thì. Họ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Ba lô của họ chật ních những tiếng chim, tiếng gà, tiếng mẹ ru xưa thời tấm bé, những dòng sông bến nước con đò v.vv. Tất cả là hành trang cho một hành trình thăm thắm, với bao nhiêu gian truân, máu lửa hãi hùng, họ chiến đấu ngoan cường trước bọn giặc ngoại xâm, cho môt ngày về, cho thống nhất non sông, cho thanh bình nở hoa độc lập. Làm sao chúng ta không rưng rưng trước bao nhiêu chiến sĩ đã ra đi ngày ấy không về, họ đã tạc dáng hình vào Trường Sơn hùng vĩ, hay những miền đất thiêng liêng cuả Tổ Quốc hôm nay.


Nhà thơ Xuân Trường tại buổi ra mắt tuyển tập thơ "Chúng con chiến đấu cho người sống mại Việt Nam ơi"

Với 20 tác giả và 103 bài thơ đã làm nên một thông điệp nhắc nhở chúng ta, những tháng năm hào hùng của dân tộc, hãy kết nối chiến tranh và hòa bình, kết nối thế hệ, mà tỏ lòng biết ơn, giữ thái độ sống nghiêm túc để không làm phụ lòng những chiến sĩ đã không trở về. Những câu thơ ướt đẫm mồ hôi leo dốc của nhà thơ Lê Văn Vọng đã cho ta thấy những gian truân thử thách đôi khi vượt quá sức người, vậy mà các chiến sĩ phải chấp nhận để vượt qua, đúng là “Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao” anh đã viết “Cái dốc cao 897 bậc / Đầu người đi sau nối chân người đi trước / Mỗi gùi hàng nặng đến sáu, bảy mươi cân / Mỗi bước lên đầu gối chạm cằm, thật là mỗi bước đi không thể nào khó khăn hơn thế nữa, những câu thơ viết trong lòng hạt gạo dân công, trong mùi thơm hàng hóa, thực phẩm phục vụ chiến trường “có bậc nào em chung thân quen / Nắm đất nào không có mồ hôi em / Mùa mưa dốc trơn như mỡ / Những chuyến hàng lên bao bận ngã / Dép cao su phải khắc rãnh sâu” (trong bài Dốc Mỹ thua). Câu thơ viết trên tà áo trinh nguyên người con gái, tà áo dài chờ người chiến sĩ trở về, nhà thơ Đàm Chu Văn đã đưa ta vào trạng thái ám ảnh đến nổi da gà “Anh không về / màu áo trắng để tang lời thề hẹn / Bốn mươi năm em vẫn mang áo dài trắng tìm anh / biết lòng mình còn trong trắng / những người lính tình nguyện năm xưa theo hương áo tìm về “(trong bài Lời hẹn áo dài) đúng là “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Những câu thơ viết trên đầu súng, viết trong tầm đạn, của trận chiến cuối cùng, báo hiệu “Sài Gòn ơi ta đã về đây”, nhà thơ Trần Thế Tuyển đã đưa ta về bốn mươi lăm năm trước, những nỗi nhớ đã được gọi thành tên, là điểm nhấn cho ký ức ngày về “Đầy vơi nhớ một thời máu lửa / Cánh rừng xưa sốt rét vàng da / Đầy vơi nhớ đồng đội nơi cửa mở / Tiếng gọi “mẹ ơi” trước lúc đi xa / Và nhớ mãi mùa xuân năm ấy / Năm cánh quân như một gọng kim / Cầu Rạch Chiếc xe tăng thù bốc cháy / Chiến sĩ đặc công biền biệt cánh chim .../Mới thoáng đó, bốn mươi lăm năm / Vật đổi sao dời sáng mưa chiều nắng / Chỉ có lòng người thủy chung trong trắng / Như buổi đầu hò hẹn bến sông” (trong bài Bốn mươi lăm năm). Đúng vậy những mất mát, những hy sinh, những ác liệt của chiến trận, chiến trường luôn đầy lên trong trái tim người lính, ngày về trong thanh bình, còn biết bao nhiêu vất vả lo toan, áo cơm lại là nỗi lo thường trực trước cuộc sông đầy biên động của thị trường, ai nhớ ai quên, chỉ có lòng chung thủy mới đem lại sự bình yên trong tâm khảm của mỗi con người. Những câu thơ viết cho hiện thực ngày về nhà thơ Hoàng Đình Quang đã đưa ta đi vào mỗi hoàn cảnh, mỗi thân phận, mỗi con người, trong chiến tranh thì chung lưng đấu cật, cùng gian khổ hy sinh nhưng ngày về thì có người còn sót lại đang vật vả áo cơm, anh đã viết cho bạn bè đồng đội, với tấm lòng nhân văn, mà trắc ẩn vô cùng “Gốc cây quán cóc ta ngồi / Rượu suông ta nhắm với thời vinh quang / Tay run mắt đỏ ly tràn / Rót vào trăm nỗi ngổn ngang vơi đầy / Chúng mình sống đến hôm nay / Còn bao nhiêu đứa gửi thây rừng già / Ơn trời đất ơn mẹ cha / Đội ơn vợ đã vì ta mà nghèo / Rượu cho chồng cám cho heo / Tình tang cho nợ bọt bèo cho thơ / Thương đàn con dại ngẩn ngơ / Di truyền cả cái khù hờ của cha / Long đong ở giữa quê nhà / Quẩn quanh ở chỗ người ta cờ tàn / Bạn ngồi bạn uống rượu khan / Tôi ngồi tôi uống cơ hàn bạn tôi” (trong bài Gặp bạn ở chợ Bến Thành). Lâu nay tôi cứ tưởng Hoàng Đình Quang chỉ là nhà văn, thật bất ngờ quá với những câu lục bát tài tình đầy ấn tượng của anh đã thành những tác động vật vật lý trị liệu nỗi buồn và kích hoạt những tổ chức những lòng người hãy nhìn vào những khó khăn của người lính ngày về.

Có sự quên lãng, thiếu vắng nào đây của người sau lo cho kể trước trong đền ơn đáp nghĩa, mà nhà thơ Vũ Đức Thắng đã chia sẻ những câu thơ đầy nỗi niềm trắc ẩn “Mưa rơi tí tách bên hè / Hồn bao đồng đội chưa về… lạc đâu?/ Thế gian nhân nghĩa nát nhàu / Mưu mô thủ đoạn làm giàu vinh thân / Nghe trong gió vắng xa gần / Hồn lang thang gọi người thân vật vờ” hoặc là “Hiện sinh kiếp sống trần gian / Chữ nhân chữ đức nát tan hết rồi /Chán cho cái thói người đời / Cả bầy cơ hội Ma Trơi diễn trò (trong bài Đêm Đồng Tháp Mười). Những câu thơ viết trên cuộc chia ly khi đời đã sang trang, trong thanh bình lại người đi kẻ ở, hoàn cảnh nào mà phải đại dương cách biệt xa vời, những ngày xưa bên nhau gian khó đâu nữa, vậy là lỡ hẹn ngày về nhà thơ Vũ Chí Thành đã hỏi vào cái không gian của anh, những câu hỏi lại vang lên trong lòng chúng ta “Sáng mai này em rời xa xứ sở / Rồi sẽ bay đi đến tận cuối trời / Cách một đại dương trùng trùng bão tố / Biết bao giờ gặp lại em ơi?/ Em có nhớ trận Mậu Thân máu lửa / Cõng thương binh qua làn đạn quân thù / Mái tóc đen bay ngang trời thành phố / Tuổi trăng tròn hoa nở rộ chiến khu / Em có nhớ trận giặc càn năm ấy / Đơn vị mình suối cạn ém quân / Trăng tháng ba như mặt người con gái / Hẹn ngày về thắng lớn giữa mùa xuân” (trong bài Bao giờ mới có mưa ngâu), trời sinh mỗi năm có một lần mưa ngâu, thế mà nhà thơ lại hỏi bao giờ cho đến mưa ngâu, đúng là nỗi nhớ của nhà thơ thôi thúc đến vô cùng. Trong chiến tranh giữa cái chết và cái sống chỉ cách nhau đường tơ kẽ tóc, nhanh chậm chỉ tính bằng giây nhà thơ Mai Quỳnh Nam đã có những câu thơ hú hồn làm ta nghẹt thở “Nó bây giờ là thế này đây / Khẩu M79 văng trên công sự / Trước khi chết nó nhìn tôi rất rõ / Cái đầu ruồi đã chĩa thẳng vào tôi / Qủa đạn lên nòng chưa kịp lao đi / Nó đã bị súng tôi quật ngã / Nó nằm lại trong rừng già sỏi đá / Máu ươt đầm bộ quân phục rằn ri” (trong bài Nó là thế này đây).

Những câu thơ của nhà thơ Văn Lê trong bài thơ “Vé trở về” đã làm  ta rung cảm cho một thời đất nước ta đã tập trung tất cả cho kháng chiến giành độc lập và phải chống chọi với đói nghèo, anh mô tả hoàn cảnh của hai anh em một trai một gái, người anh trong cảnh nghèo khó vẫn tần tảo nuôi em, người em còn thơ dại. Rồi một ngày người anh đi kháng chiến, bỏ lại người em phải tự lo liệu mọi thứ cho đời mình, rồi người em cũng lớn lên có gia đình, người anh đã hy sinh nơi chiến trường Cà Tum, người em gái đã cùng chồng đi tìm hài cốt của anh và cố mua cho được một vé tàu cho bộ hài cốt trở về. Những câu thơ vang ra âm thanh buồn, nhịp điệu khi khoan thai khi dồn, thúc như làm co thắt tim ta. Đọc hết “Vé trở về” ai mà không rưng rưng nước mắt, bài thơ này đã là điểm nhấn cho tập thơ “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi”. Những câu thơ uống giọt nắng hồng mà tìm về bên triền sông xưa để sưởi ấm nơi người em gái đã hy sinh nằm lại chiến trường, người em gái ấy đã mĩm cười trước khi đi xa về miền miên viễn. Nhà thơ Lương Minh Cừ đã làm đầy lên trong chúng ta những cảm xúc chiến trường bằng cách anh đã tịnh tâm cho ký ức ùa về và trải ra ra trang giấy “Bận quá anh chưa về thăm được / Nhớ nước Đồng Nai ngọt tiếng hò / Đâu có dễ gì quên thuở trước / Một thời bom dội giữa câu thơ / Em đi như dáng dòng sông ấy / Băng mấy quãng đồng giặc kích đêm / Bom đìa pháo chụp không ngăn được / Những cánh quân về rợp sắc sông / …/ Như con chim nhỏ trong giông lửa / Vút giữa bom rơi với súng rền / Em cùng đồng đội truy kích giăc / Khăn rằn căng rát đạn tiểu liên / Chiều em ngã xuống bên sông ấy / Súng vẫn trong tay miệng mỉm cười”  (trong bài Nỗi nhớ gửi lại một dòng sông), có người em cụ thể tên Hương đã làm cho nhà thơ bất chợt với nhiều ý lạ “Em về thoang thoảng hoa ngâu / Nửa tà áo tím nửa bầu trời xanh / Em về đốt trái tim anh / Nửa rừng rực nóng nửa lành lạnh thêm” (trong bài Bất chợt mùa xuân), nhà thơ Lương Minh Cừ đến giữa chúng ta như một sứ giả thơ, anh kết nối, giao lưu, chính anh đã tổ chức biên tập, xin phép in ấn cho tập thơ  “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi”. Những câu thơ viết lên mặt trời tháng Tư nhà thơ Lam Giang đã đưa ta về 47 năm trước với những niềm vui đến trào nước mắt reo mừng trong ngày thống nhất non sông “Sài Gòn ơi tôi đã về đây / Mà bao đêm ngóng chân trời nôn nao / Bạn tôi ngã trước hàng rào / Trên đường đột phá tiến vào nội đô / Phút giây ấy đến bây giờ / Trong tôi vẫn rộn sắc cờ màu hoa / Hai mươi năm chợp mắt qua / Thời gian trôi vụt như là giấc mơ” … Rồi anh đã thăng hoa “Một vùng hồi ức trong tôi / Cháy lên cùng với mặt trời tháng Tư (trong bài Trở lại tháng Tư).  Rồi anh lại viết vào hoàng hôn đỏ ối những tưởng nhớ đồng đội làm cho lòng ta ngậm ngùi “Khoác súng ra đi chiều đỏ ối hoàng hôn / Và đêm ấy anh không về nữa / Những cánh đồng ngủ say trong gió / Vào mùa dưa hấu chín mênh mông / Tôi về đây lặng ngắm trên đồng / Anh nằm nghỉ bên lùm hoa mua tím / Nghe cháy bỏng lời thơ bay đến / “Tiếng đàn trên vùng giáp ranh” .(trong bài Bài thơ anh bây giờ). Những câu thơ viết trong lòng địa đạo, run rẩy trước “ánh trăng” mười tám, nhà thơ Xuân Hòa đã chia sẻ đến chúng ta trạng thái cảm xúc anh khi đó “Tôi và em những ngày đánh giặc / Trong lòng địa đạo Củ Chi / Tay nắm trong tay ,khẩu súng nằm kề / Hơi thở xôn xao lòng đất / Tôi hiểu tình em trao tôi rất thật / Ngào ngạt hương rừng bay bay /……../ Ánh trăng liền trong kẽ lá đung đưa / Ẩn hiện nửa vầng trăng mười tám / Tôi đưa tay bâng khuâng khẽ chạm / Vội rút về sợ vỡ ánh trăng (trong bài Tôi và em ngày xưa ở rừng).

Ôi thi vị quá tình yêu ngoài chiến trận, những người yêu vẫn giữ được cho nhau. Những câu thơ viết trên dòng sông đang chảy nhà thơ Trần Văn Tuấn đã cho ta nhận diện một hành trình rát bỏng tuổi đôi mươi “Tôi đã đi qua những rừng le rừng khộp / Đi mỏi chân không thấy suối khe / Mỗi buổi sáng tắm áo trong sương sớm / Vắt vào lon lấy nước mang đi /  Tôi đã đi qua những rừng già ba lớp / Với dây leo chằng chịt thấp cao / Lên cơn sốt nilon quấn chặt / Ép lạnh ra cho nắng ấm chui vào / …./ Tôi đã đi theo nguồn sông ấy / Để về nơi bến đợi cuối cùng / Nơi rừng núi và biển xanh hội tụ / Bến và sông mang tên gọi Sài Gòn” (trong bài Lời hát từ một dòng sông). Trong phạm vi một bài thơ mà anh đã phác họa một hành trình đi đến đích của hai mươi năm thu xếp  giang sơn về một mối và thống nhất đất nước của dân tộc ta. Những câu thơ đã níu chiều chậm lại cho âm thanh thiêng liêng vang lên trong lòng ta từ Phủ Tây Hồ, nhà thơ Thái Thăng Long đã cho ta thưởng thức một buổi chiều êm ái, để tâm hồn lắng lại, sau những đa đoan vật vả đời thường, những câu thơ giàu chất nhạc, nhịp điệu như chiều đi chậm dần vào xa thẳm “Bất giác chiều như muốn chậm đi / Gió trên sóng / Đôi thuyền câu nhả lưới / Mênh mông sương khói / Hồ Tây sóng vỗ Phủ Tây Hồ / Huyền thoại giấc mơ / Chầm chậm lễ chùa cùng em cung kính / …../Em khói hương để thanh thản một phận đời / Ta khói hương để khỏi chơi vơi / Chấp tay lạy những thánh nhân trời đất / Khói hương rủ lòng mình bềnh bồng cõi Phật /Trời xa xanh tiếng hạc trắng kêu hoài /…   /Những nỗi buồn gieo neo chiều vắng / Thanh thản bên em trước thềm điện đời thường /…/ Tĩnh lặng tận cùng / Bao la trên sóng nước / …/ Gió Tây Hồ thới buốt mái rêu phong / Rưng rưng lắm mà em chẳng khóc / Hóa vàng đi em lễ Phật Phủ Tây Hồ (trong bài Chiều Phủ Tây Hồ). Đúng vậy sau chiến tranh và sóng gió của thị trường, những hãi hùng cơm áo chúng ta rất cần những buổi chiều của nhà thơ Thái Thăng Long. Tôi đã phiêu lưu quá xa trong tập thơ này, những vẫn thấy chưa đủ, xin cảm ơn quý vị đã lắng nghe, chúc quý vị an lành, xin cảm ơn.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm