TIN TỨC

Đừng kể công cho mẹ - Tập thơ mang theo tiếng lòng đau đáu

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-18 13:10:28
mail facebook google pos stwis
2614 lượt xem

TS. Hoàng Thị Thu Thủy

33 bài thơ trong tập thơ “Đừng kể công cho mẹ” của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý trùng với 33 năm tuổi đời của mẹ, và cùng với đó là những tháng năm đằng đẵng đau đáu nhớ thương. Nhớ thương trong tâm hồn, rồi xúc cảm thành thơ, đi theo suốt năm tháng và khi chọn lọc để in thành tập thơ là câu chuyện mà nhà thơ Nguyễn Hữu Quý muốn gửi gắm đến độc giả rằng tình mẫu tử thiêng liêng là tình cảm đẹp nhất trên đời.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Qúy

 

Đã nhiều lần tôi chọn thơ anh đưa vào kịch bản trang thơ của đài truyền hình Huế - TRT, và có lẽ số bài lựa chọn nhiều nhất vẫn là những bài thơ viết về mẹ, xem như thơ anh viết về mẹ đã có thương hiệu.

Là mẹ đấy, chẳng hùng hồn diễn thuyết/ túi ba gang đựng cau chát, trầu cay/ ru bát ngát bằng nhấp nhô tiếng Việt/ bát ngát ngủ rồi mẹ buộc gió vào cây” (Con nghĩ về mẹ

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý từng tâm sự: “Tôi dùng thi ca để khẳng định giá trị mẹ một cách giản dị và chân thực… Cái tình mẫu tử đích thực đủ sức tỏa sáng vào mỗi hoài niệm, ngẫm suy của người cầm bút trên tinh thần nhân văn của nhân loại bao la...”.

Tứ của bài thơ “Đừng kể công cho mẹ” dung dị như chính những điều giản dị nhất khi con nghĩ về mẹ: “Đừng kể công cho mẹ/ người ăn ít nhất trong mỗi kỳ giáp hạt/ lưng đẫm mồ hôi chông chênh mùa gặt/ mẹ như cánh đồng chìm cuối dòng sông/ có bông lúa vớt lên từ đỉnh lũ/ kể công cho mẹ, bằng thừa” – hình ảnh so sánh “mẹ như cánh đồng chìm cuối dòng sông” gợi thật nhiều thương cảm về nỗi truân chuyên, nhọc nhằn, chịu đựng của mẹ. Có lần, tôi tự hỏi lòng mình: mỗi ngày tôi chỉ ăn chưa đầy một bát cơm, mà sao luôn bận rộn thế nhỉ, vì trách nhiệm với con cái và gia đình hay là thiên chức của phụ nữ. Và chắc chắn cũng không ai để ý vì sao tôi ăn ít thế, nhưng tôi ăn ít không phải vì thiếu đói mà vì giữ dáng; còn mẹ trong thơ Nguyễn Hữu Quý lại “ăn ít nhất trong mỗi kì giáp hạt”, mẹ không chỉ “một nắng hai sương” mà còn như ẩn mình đi trước cái đói, cái rét, cái khổ, nhường nhịn cho chồng con…

Hình ảnh mẹ đi cùng nhà thơ từ tuổi ấu thơ cho đến lúc “nửa đời, tóc ngả màu sương”. Nhà thơ Phùng Quán từng viết: “Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ và đứng dậy”, sau này nhiều người sử dụng động từ “vịn” như là cách khẳng định niềm tin của mình. Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý không chỉ vịn mà còn tựa vào mẹ với một niềm tin bất diệt: “Mẹ ơi,/ con tin ở chốn xa xăm/ mẹ vẫn dõi theo con như hằng bảo lưu ký ức/ mẹ con ta vẫn bên nhau như hơn năm mươi năm trước/ mẹ là con khi san sẻ bát cơm thường./ Mẹ còn đây thấp thoáng nắng sương/ vạt nâu bạc trở hai chiều gió nổi/ hai phía giang sơn/ nơi trập trùng bóng núi/ nơi biển hóa mây bay trên ngọn buồm xa”. (Khúc đồng hành mẫu tử). Thơ anh có những câu lung linh như ngọc quý, biết là hay mà không biết vì sao hay, chỉ biết là những câu thơ đó như chạm khắc vào trong ta về sự tảo tần của mẹ, như cánh cò thuở nào trong ca dao - “vạt nâu bạc trở hai chiều gió nổi” (Khúc đồng hành mẫu tử); “Áo mẹ mặc che hướng nào cũng bão” (Đi tìm đồng xu nhỏ bé)… Kí ức về mẹ trong anh là hình ảnh những người phụ nữ lam lũ tảo tần, bạc vai áo quanh năm không ngơi nghỉ.

Đọc thơ anh nhiều khi cứ rưng rưng, từ cậu bé mồ côi, đến khi trưởng thành cái cô đơn cứ theo anh cùng năm tháng: “Ngó về cồn cát chang chang/ hao hao dáng mẹ từ làng bước ra/ vai gầy gánh nỗi gần xa/ bước rừng, bước biển đi qua mặt trời./ Bóng in cát bỏng, không lời/ dép mo cau của một thời xửa xưa/ nón quê đã chạm đỉnh trưa/ đựng trong túi áo tiếng đùa của con./ Cứ như... mẹ vẫn đang còn/ cuối sông iu ấp vuông tròn mai sau/ cứ như... mẹ chẳng còn đau/ nụ cười không một nét nhàu thời gian”. (Ngó về cồn cát). Hình ảnh mẹ trong thơ anh trở thành hình tượng chung của người mẹ Việt Nam: tảo tần, lam lũ, chịu thương chịu khó, thương yêu con vô bờ bến. Những hình ảnh thơ: vai gầy, dép mo cau, nón mê… trong bài thơ “Ngó về cồn cát” không chỉ tái hiện chân dung về mẹ trong hình dung tưởng tượng cùng nhớ thương theo năm tháng, mà còn rất riêng của một vùng đất mà hễ nhắc đến ai cũng hình dung ra nơi đó: cồn cát chang chang – “Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình” (Mẹ Suốt – Tố Hữu). Sử dụng thể thơ lục bát, bài thơ vẫn mới bởi nhịp điệu đa dạng: “Cứ như...//  mẹ vẫn đang còn/ cuối sông iu ấp // vuông tròn mai sau/ cứ như...//  mẹ chẳng còn đau/ nụ cười//  không một nét nhàu thời gian”. Nhịp 2/4, hay nhịp 2/6 cùng điệp ngữ “Cứ như...” như điểm dừng, điếm nhấn gợi thật nhiều xúc cảm.

Những câu thơ tài hoa trong nhiều bài thơ đã tạo nên dư ba trong lòng độc giả: “Trở về/ tròn bóng nắng trưa/ củ khoai bẻ nửa gió lùa chang chang/ bát canh ngọt mát vị làng/ mẹ như bằng trắc cũ càng đất đai” (Khi gió Lào cất lên); “mẹ tần tảo trong miền Trung chìm nổi/ áo nối tay, gieo vớt những mùa màng” (Vườn mẹ mai vàng); “Sông quê tôi ít phù sa/ bao nhiêu cát mặn đi qua cánh đồng/ tôi thương cây lúa nghẹn đồng/ củ khoai khát nước, xương rồng thèm sương” (Lời ru viết lại). Đây là tài thơ của thi nhân trong thi tứ dạt dào. Làm thơ khó nhất là tìm ra tứ thơ, tôi đã đọc nhiều bài thơ của anh, bài nào cũng có tứ thơ rất riêng; cái hay trong thơ anh còn ở hình tượng thơ với vốn từ vựng dồi dào, đọc bất cứ câu nào, dòng nào cũng cảm nhận được cái hay của ngôn từ với sự hòa quyện giữa tri thức dân gian cùng nét riêng của vùng miền.

Dường như mọi chuyện vui buồn anh đều chuyện trò cùng mẹ, cái tôi trữ tình trôi chảy trong những bài thơ tự sự với mẹ, đối thoại với mẹ; để rồi khẳng định những suy nghĩ lựa chọn của mình là đúng bởi có mẹ chở che, bảo ban, nhắc nhở: “Xin bé nhỏ như đã từng bé nhỏ/ tôi là ai mà bé nhỏ trọn đời/ vệt mũi lem mẹ lau cho trước ngõ/ để bây giờ gương mặt sạch, tôi soi” (Bé nhỏ); “Mẹ lập trình con thật thà, ngay thẳng/ con biết làm gì trước dối trá, cong queo/ đời nhan nhản lọc lừa ngoắt ngoéo/ con về đâu khi vụng dại một bề?” (Lập trình); “Mẹ ơi đâu chỉ bạc tiền/ nhà cao cửa rộng làm nên con người/ câu thơ con góp cho đời/ có tình thương ở trong lời mẹ ru” (Mẹ ơi!)…

Có những câu thơ đọc mà rơi nước mắt, tình mẹ thẳm sâu bật cũng thành lời: “cuộc đời trôi chẳng chậm, chẳng mau/ mẹ cõi khác vẫn trong tôi hiển hiện/ tôi khổ đau mẹ âm thầm đến/ tôi vui cười mẹ lẳng lặng cỏ xanh” (Tuổi này nhớ mẹ) – mẹ và con nương tựa vào nhau, giọng thơ da diết đến nao lòng. Tình mẫu tử với anh thiêng liêng không gì so sánh được: “và con tin mẹ chưa hề ngưng sống/ trong mỗi tế bào, trong từng giọt máu con/ tình yêu thương mẹ truyền, con giữ trọn/ khúc đồng hành mẫu tử chẳng ngừng trôi…” (Khúc đồng hành mẫu tử).

12 tuổi – cái tuổi chuyển tiếp đến tuổi vị thành niên, cái tuổi có đã có nhiều suy tư (thi nhân Trần Đăng Khoa viết bài thơ “Hạt gạo làng ta” cũng mới 12 tuổi); nhà thơ Nguyễn Hữu Quý lúc 12 tuổi đã chứng kiến cảnh mẹ bị thương vì bom Mỹ cách nhà vài trăm mét rồi mẹ qua đời ngay đêm đó thì thật là khủng khiếp: “đêm rực cháy, đêm sặc mùi thuốc nổ/ đêm, chúng con thành năm đứa trẻ mồ côi” (Bài ca sau chiến tranh); “Cái buồn ở với mồ côi” (Thắp hương mộ mẹ)… Đau đớn đến tận cùng, đó cũng là nếp hằn sâu nhất trong trái tim anh. Nên khi anh chèo chống với bao giông bão của cuộc đời và vượt qua được để đạt đến tầm vóc người lính với quân hàm Đại tá và với tư cách là nhà văn, nhà báo, nhà thơ được nhiều độc giả biết đến, mến mộ thì ở anh là sự vượt lên của một thân phận mồ côi mẹ, quả thật là phi thường: “Tôi lưu giữ hạnh phúc khi còn mẹ. Tôi găm nén đau khổ khi mẹ mất. Mẹ vẫn hằng linh hiển trong tôi như một thánh nhân bình dị…” (Đừng kể công cho mẹ - Nguyễn Hữu Quý; tr.7)

Huế ngày mưa lũ 16/10/2022

 H.T.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm