TIN TỨC

TS Hoàng Thị Thu Thủy: Hành trình thơ của nữ thi sĩ yêu thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-15 07:48:04
mail facebook google pos stwis
1874 lượt xem

TS HOÀNG THỊ THU THỦY

Chị tặng tôi 5 tập thơ, được đánh dấu thứ tự từ số 1 đến số 5, nhìn những tập thơ được trình bày trang nhã, đẹp, tôi cảm nhận hạnh phúc của chị cùng những “đứa con tinh thần” trên những chặng đường sáng tác cùng nàng thơ đỏng đảnh. Tôi biết chị qua trang Thi ca điểm hẹn (VOH), giọng miền Trung chân thật, nhẹ nhàng. Tôi gặp chị trên đất Huế (2019) trong ngày hè nóng bỏng (trên 38 độ C). Nhận thơ chị, tôi như người có lỗi nếu như chưa đọc và cảm nhận về nó.

Tôi xem bài thơ “Yêu thơ” của chị trong tập thơ “Dòng sông và nỗi nhớ” như là tuyên ngôn thơ của nữ thi sĩ Nguyễn Thị Phương Nam: “Tiếng đài khuya vọng ngân nga/ Thơ ơi vang mãi thiết tha mặn nồng/ Từng câu từng ý vào lòng/ Yêu thơ ta nguyện thủy chung trọn đời”; “Thơ, làm nhịp cầu nối hai tâm hồn/ Thơ, giúp em vượt qua ngàn cay đắng” (Để em thức cùng thơ – Gửi vào khoảng lặng). Thơ là cứu cánh cho nữ thi sĩ – nhà giáo, nữ thi sĩ – quân nhân trong những năm tháng vừa làm tròn nhiệm vụ của một công dân vừa làm tròn bổn phận của một người vợ thủy chung, một người mẹ đảm đang và cả khi lên chức bà hiền hậu, thân thương. Thủy chung cùng thơ, yêu thơ và sáng tác, cho đến nay chị đã lần lượt xuất bản các tập thơ: Dòng sông và nỗi nhớ (2006), Hương thiên lý (2013), Vọng mãi lời ru (Sưu tầm, 2014), Nơi đó có tình yêu (2016), Gửi vào khoảng lặng (2018). Chị từng là nhà giáo (1969 - 1981), rồi chuyển sang công tác tại Tổng công ty 28 thuộc Bộ quốc phòng và mang quân hàm Trung tá QNCN, chị là Hội viên Hội nhà văn TP. Hồ Chí Minh.

Tôi khá ngạc nhiên trước dòng chảy thơ ca trong chị không đứt đoạn trong những năm tháng chiến tranh, những năm tháng đất nước trải qua thời kì kinh tế khó khăn, từ làm mẹ, chị đã làm bà và vẫn miệt mài viết. Đọc những trang thơ của chị như những trang đời “mãi mãi xanh tươi”. Nơi đó có kí ức mối tình đầu trong xa cách, nhớ thương: “Hẹn ngày về đón anh, em viết tiếp/ Những dòng thơ thêu dệt mối tình ta/ Cho tình đầu nồng cháy chẳng phôi pha” (Gửi anh – Dòng sông và nỗi nhớ). Tôi trân quý tình cảm chân thành, thương nhớ trong thơ chị trong những tháng năm xa người yêu, rồi xa chồng, thơ chị lúc này như là lời động viên, lời nhắn nhủ, lời an ủi cho những đôi lứa yêu nhau lúc xa ngái hãy giữ gìn sự thủy chung và niềm tin mãnh liệt: “Những cánh thư ơi hãy vượt núi băng ngàn/ Về với em giữa lòng đất mẹ/ Dù xa nhau nơi chân trời góc bể/ Hãy một lòng chung thủy sắt son/ Hãy yêu nhau dù núi lở non mòn” (Thời gian và xa cách - Dòng sông và nỗi nhớ). Những ai đã từng trải qua những năm tháng chiến tranh, từng cảm nhận sự xa cách chia ly sẽ thấm thía cảm xúc yêu thương nồng cháy trong thơ chị, lúc này thơ ca không thể “mơ hồ và đa nghĩa” để người đọc phải đoán non đoán già, mà từng sợi tơ trời khi rót vào cảm hứng sáng tạo của thi nhân thì cảm xúc tuôn trào là chân thật, khắc khoải, dặn dò, thương mến…

Cảm thức thơ trong chị bắt đầu từ cái nhìn thương mến cùng những người thân, người thương gần gũi với chị, rồi tứ thơ lan tỏa tình mến thương đến với mọi người.

 “Làn gió nhẹ lùa qua khung cửa sổ/ Nghe hương xuân ngan ngát cả gian phòng/ Những chậu hoa ngoài hành lang nở rộ/ Cành lá lắt lay xao động tâm hồn… Muốn gửi vào thơ những dòng tâm huyết/ Sao xuân sang lòng vẫn thấy u buồn…/ Chị có biết ngoài kia xuân vẫy gọi/ Hương xuân về tìm kiếm bóng người thân/ Giữa nẻo đường quen thuộc, xa gần/ Giờ thiếu vắng đôi bàn chân của chị…” (Hương xuân – Nơi đó có tình yêu). Nhạc sỹ Quốc Khanh thật hữu ý khi phổ nhạc bài thơ thành ca khúc “Hương xuân của chị”, bởi khi đọc bài thơ ta cảm nhận một tâm hồn đa cảm, thương mến, trắc ẩn; giữa niềm vui khi Tết đến xuân về, thi nhân thương nhớ và xót xa khi “thiếu vắng đôi bàn chân của chị”; giai điệu của ca khúc luyến thương, dìu dặt, thật vấn vương. Hình ảnh người chị trong bài thơ “Nhớ lời chị ru” là sự biết ơn của thi nhân: “Ngồi nhớ lại những lời ru chị hát/ Đưa các em vào giấc ngủ năm nào/ Em không sao ngăn được dòng nước mắt/ Hình ảnh chị hiền, ôi! Thương nhớ làm sao”.

Tội gặp chị chỉ vài tiếng đồng hồ, mà nhận ra nữ thi sĩ mang quân hàm Trung tá quân đội thật tận tình, chân thành và thương mến; nên khi tôi đọc những vần thơ của chị tôi nhận ra cảm xúc thơ được viết ra từ tấm lòng thương cảm của chị: “Ai cho con manh áo sợi bạc màu/ Con mặc nó cả mùa đông, mùa hạ/ Nhớ một chiều/ Nơi làng quê yên ả/ Con rùng mình/ Thấm thía một nỗi đau/ Cởi áo ra/ Con lại mặc vào/ Lại khoác lên mình/ Những tủi sầu cay đắng/ Đó là nỗi ám ảnh – tuổi thơ/ Suốt đời không quên được/ Ôi! Một chiều yên ả chốn làng quê” (Manh áo sợi bạc màu – Hương thiên lý). Một sự sẻ chia, đùm bọc “lá lành đùm lá rách” trong cảm xúc thi nhân thật xúc động; manh áo sợi bạc màu là sự cùng cực của nghèo đói, nhận manh áo nhận luôn sự tủi sầu cay đắng, mà lòng biết ơn thì “suốt đời không quên được”.

Những kỉ niệm thời chiến tranh dưới mái trường Sư phạm đi vào thơ chị như những câu chuyện kể, lời kể thân thương cùng thầy cô, bè bạn, đọc thơ chị như đọc cả một vùng kí ức, mà nơi đó chị cùng những người bạn “cùng một lứa bên trời lận đận”: “Lời tri ân”, “Kỉ niệm còn đây”… (Hương thiên lý). Tình cảm quê hương, gia đình đậm đặc trong thơ chị: “Có lúc cồn cào nỗi nhớ quê hương/ Nơi ngày xưa chôn rau cắt rốn/ Nhớ tuổi thiếu niên mỗi chiều mỗi sớm/ Men theo con mương nhỏ đến trường” (Nỗi nhớ - Hương thiên lý). Ký ức về mẹ, về gia đình là ký ức của thời đạn bom, nghèo khổ: “Trải qua bao năm tháng/ Mẹ tần tảo nuôi con/ Đôi vai mẹ gầy mòn/ Đôi bàn tay rám nắng… Tuổi thơ con chưa biết/ An ủi mẹ một lời…” (Ký ức về mẹ - Hương thiên lý). Đề tài về mẹ, về chị, về em trở đi trở lại trong thơ chị; khi thì nhớ về nhân ngày giỗ, khi thì nhớ về nhân ngày xuân, khi thì nhớ về nhân ngày vui, nghĩa là tình cảm gia đình thường trực trong chị khi chị rời quê hương, gia đình, công tác và lập nghiệp ở nơi mà “Người Sài Gòn thanh hậu”.

Người đọc cảm mến thơ chị bởi cái giọng thơ đằm thắm, dịu dàng, nữ tính, tình yêu và sự thủy chung là điểm tựa cho chị vượt lên tất cả; tôi vô cùng ngạc nhiên khi nghe chị đọc bài thơ anh viết tặng chị từ thời còn học sinh: “…Nói đi em cho dịu nhẹ lòng mình/ Cho hoa thắm vẫy chào trong gió lộng/ Để cho má em mỗi ngày thêm chín mọng/ Cho mắt huyền lấp lánh như sao/ Cho tình ta đẹp tựa cánh hoa đào…”. Có lẽ những câu thơ với phép tu từ so sánh liên tiếp đã rung động lòng chị, đã khiến tâm hồn chị bay bổng, để rồi cả hai đã theo nhau đến tận chân trời góc bể, và cùng với tháng năm, chị nhắc lại kỉ niệm xưa như vẫn rung động của mối tình đầu: “Em đọc đến thuộc lòng/ Bài thơ đầu anh viết/ Tờ giấy lằn nhiều nếp/ Màu thời gian khô cong/ Nhưng nét chữ vẫn còn/ In vào trong ký ức?/ Bài thơ đầu anh viết/ Có gì như men say/ Lời trong sáng thơ ngây/ Tựa hoa hồng hé nở/ Mà gói tròn thương nhớ/ Theo anh tháng năm dài” (Bài thơ đầu anh viết - Nơi đó có tình yêu). Yêu anh bắt đầu từ những rung động với bài thơ anh tặng. Thêm một lần lý giải vì sao nữ thi sĩ yêu thơ ca đến vậy.

Với hành trình thơ của chị ta nhận ra, khoảng thời gian chiến tranh, xa cách, thơ chị  nhớ nhung, chờ đợi; càng về sau giọng thơ lắng đọng cái nhìn từng trải, lắng đọng tình cảm mến thương cùng người thân, bạn bè, khi càng ngày chị càng nhận ra cái bi kịch giữa thời gian vũ trụ đến rồi lại đi vần vũ và nghiệt ngã, và thời gian đời người thì hữu hạn: “Nhìn từng cơn gió thoảng/ Lao xao lá vàng rơi/ Ngắm từng đêm trăng sáng/ Hồn mơ về xa xôi” (Gửi vào khoảng lặng); nỗi nhớ trong thơ chị dày lên cùng năm tháng với những kỉ niệm thân thương cùng bạn bè, quê hương: “Đêm Sài Gòn/ Lòng mênh mang nỗi nhớ/ Nơi hẹn hò ngày đó/ Kỉ niệm xưa/ Sâu lắng tâm hồn” (Nhớ về nơi hò hẹn - Gửi vào khoảng lặng); những năm gần đây chị được đi về nhiều hơn với những kỉ niệm và giọng thơ chị có gì đó vừa hoài niệm, vừa lắng sâu: “Về thăm bến đợi năm xưa/ Con đò vắng bóng người xưa vắng hình/ Chiếc cầu mấy nhịp đứng im/ Bao người qua lại biết tìm anh đâu?/ Bước đi thơ thẩn trên cầu/ Đâu đây vọng lại những câu tâm tình” (Về thăm bến đợi - Gửi vào khoảng lặng); quê hương vẫn là nỗi nhớ đau đáu trong lòng chị: “dù đi khắp nẻo phương trời/ Bến sông xưa vẫn là nơi thâm tình/ Lời người còn đó đinh ninh/ đến đâu cũng có bóng hình đi theo/ Con đò chở nặng tình yêu/ Dòng sông là cả sớm chiều quê hương” (Dòng sông thương nhớ - Gửi vào khoảng lặng)…

Với thi nhân Nguyễn Thị Phương Nam, thơ chị như là quyển “nhật kí cuộc đời” với đầy đủ các cung bậc cảm xúc, nơi đó chị gửi gắm tình yêu, nỗi ước mong, hy vọng và  những cảm xúc thương cảm trước tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình… Xem thơ là cứu cánh, là nơi gửi gắm chững cảm xúc vui buồn, nên khi sáng tác thơ có vần, có điệu thì cảm xúc tuôn trào, do vậy đọc các tập thơ của chị ta nhận ra thi nhân thường viết bằng nhiều thể loại thơ khác nhau, câu thơ dài ngắn khác nhau, dường như chị chuộng câu thơ 7 chữ, 8 chữ để diễn tả hết ý tứ trong lòng. Thi pháp thể loại vì thế không có nhiều đột biến. Giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, ít biến đổi, chứng tỏ nữ thi sĩ đã vượt qua những cảm xúc thông thường để gửi vào thơ những gì lắng đọng, yêu thương, đó là điều khiến cho thơ chị có thật nhiều thương mến.  

Huế ngày 12/8/2019.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc việt nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ phải được coi trọng nhằm tạo lập được cơ sở xã hội vững chắc để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước để góp phần “quốc tế hóa” các giá trị văn hóa Việt Nam và “Việt Nam hóa” các giá trị văn hóa quốc tế.
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm