TIN TỨC

“Minh Châu tỏa sáng” với nhiều góc nhìn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-17 16:15:11
mail facebook google pos stwis
1418 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

“Minh Châu tỏa sáng” – truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Trường, Báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam số 35+36 ra ngày 28/8/2021. Đây là truyện ngắn hấp dẫn về song mộ (2 mộ chôn cất một người); một sự kiện có thật: xử trảm Phó Tổng trấn thành Gia Định Huỳnh Công Lý.

Khai thác một số tình tiết trong lịch sử nhà Nguyễn, tác giả cho nhân vật dẫn chuyện (ông Đình – có năm mươi năm làm nghề khảo cổ, chuyên gia khai quật mộ cổ) gắn kết các nhân vật có tên trong sử và thêm những nhân vật hư cấu thời quá khứ, trong hiện tại làm nên chất keo hấp dẫn để lý giải việc Tổng trấn Lê Văn Duyệt dùng thượng phương bảo kiếm trảm Phó Tổng trấn thành Gia Định Huỳnh Công Lý; trở thành nghi án được nhiều sách, báo, tuồng tích dàn dựng theo nhiều cách hư cấu khác nhau để mong lý giải vụ án...

HIỆN THỰC HUYỀN ẢO

Ông Đình tham gia khảo cổ ngôi mộ cổ (xây dựng bằng hổn hợp ô đước chôn cất người qua đời thuộc gia đình quyền quý hoặc giàu có), tìm thấy hài cốt có đầu tách rời với thân xác. Bằng khoa học và lịch sử, xác định mộ của Phó Tổng trấn thành Gia Định Huỳnh Công Lý. Trong lúc uống rượu một mình, ông Đình say rượu và ảo ảnh ngài Huỳnh Công Lý hiện ra với thái độ thiếu tự tin, đòi ông Đình phải đến cù lao Ông Hổ, nơi có mộ ngài. Hoảng sợ, ông Đình ngã từ lan can tầng một xuống đường, gảy chân. 3 tháng trị bệnh, ông có đủ thời gian để tìm ra vị trí Cù lao Hổ và thân thế sự nghiệp Huỳnh Công Lý. Theo sử sách ghi lại: “giặc Sư Kế - kẻ lôi cuốn được hàng ngàn người Chân Lạp bởi mê tín kéo sang đánh phá trấn Phiên An. Tướng Đào Quang Lý mang năm ngàn quân đi đánh dẹp, mấy trận đều thua”. Huỳnh Công Lý mang quân dẹp được loạn. Ông có công “lĩnh 10 vạn dân binh đào An Thông hà và Bảo Định giang, mang lại nhiều lợi ích giao thông đường thủy cũng như tưới tiêu, giải lũ cho miền Tây Nam bộ”. Đặc biệt, Huỳnh Công Lý cũng là ông nhạc của vua Minh Mạng.

Ông Đình về cù lao ông Hổ, tìm được miễu thờ và mộ thứ hai của ngài, gặp ông Ba, cháu nội Huỳnh Công Lý và được kể lại câu chuyện linh thiêng về việc ngài mượn cháu gái từ Vũng Tàu về quê lần đầu bổng dưng lên đồng đòi xây lại miễu thờ to lớn, trang nghiêm xứng với công trạng của ngài. Dân thờ, dân lo, bà con góp tiền xây lại miễu như là hành động đánh giá đúng công trạng của người góp công khai khẩn và bảo vệ miền đất phía tây xứ Đồng Nai.

Do là người được ngài cử đến, ông được gia đình mời ở lại qua đêm và bức màn bí mật được tác giả vén ra cho độc giả.

NHỮNG GÓC NHÌN KHÁC

Góc nhìn từ phía gia đình

Đêm đó, Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý báo mộng với sự tự tin, ngợi khen ông Đình đã tuân lệnh của mình. Nhưng khi được hỏi về thực hư việc bị chém đầu, bà Ba (vợ hai của ngài) hiện ra làm chủ cuộc trò chuyện.

Nguyễn Trường vốn có tài khắc họa những người phụ nữ đẹp và tài hoa. Trong có 565 chữ, nhà văn đã làm rõ nét một người phụ nữ Nam bộ vẹn toàn từ nét đẹp mặn mà, đầy sức sống, và một lòng sắt son tin yêu chồng, tạo ra sự quyết đoán.

Thay Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý, bà Ba đấu tranh đòi công bằng cho chồng. Hóa ra đây là sự dàn dựng của bà bằng cách mượn oai danh chồng để triệu ông Đình về nơi chôn nhau cắt rốn nhằm cho ông Đình thấy một góc nhìn khác, góc nhìn của người dân được hưởng công lao của chồng mình. Đó là sự thật thứ nhất về công trạng và do đó bà suy diễn: người anh hùng có công lớn, sẽ không có lòng tư lợi, tham lam tiền của. Kết hợp với sự thật thứ hai: Tổng trấn Lê Văn Duyệt liên giới tính (bê đê). Để lập luận được vững chắc, bà Ba tưởng tượng ra chi tiết: một lần quá chén, Huỳnh tướng quân, sơ suất nói ra bí mật đó với thủ hạ. Từ đó bà suy diễn tiếp: khiến Lê Văn Duyệt nghi ngờ Huỳnh tướng công trêu ghẹo vợ ông ta và dẫn đến tư thù với chồng mình. Bà đưa ra kết luận:  Lê Văn Duyệt đã không tấu trình vua, dùng thượng phương bảo kiếm tiền trảm hậu tấu Huỳnh tướng công.

Nhưng do hai mệnh đề yếu, các mệnh đề bắc cầu cũng yếu, bà Ba đưa thêm yếu tố duy tình để tăng sức thuyết phục: không sợ bị trị tội, bà cho làm hình nhân chồng, lập mộ để thờ cúng trong khi thủ cấp chồng đang được mang ra Huế để tấu trình và chờ được Vua cho phép mới lại mang vào Gia Định chôn cất là quá lâu và không khả thi...

Ở trong một cù lao sông Hậu, xa chốn công đường, sự thật của bà Ba là một góc nhìn chấp nhận được và khiến ông Đình mũi lòng, muốn lật lại lịch sử để minh oan cho Phó Tổng trấn thành Gia Định Huỳnh Công Lý.

Góc nhìn hiện thực chủ quan

Ông Đình đến lăng Lê Văn Duyệt để mong tìm ra sự thật. Giấc mơ thứ ba để ông gặp lại Tả quân Lê Văn Duyệt, một người nhỏ bé và có giọng nói the thé. Do đó khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt cho biết Huỳnh Công Lý tham nhũng đã có từ thời còn làm Tả thống chế quân thị trung ở Huế và thông tin bà Ba cung cấp về Tả quân Lê Văn Duyệt liên giới tính là đúng. Để khách quan, Tả quân Lê Văn Duyệt đưa ông Đình ra lại kinh thành gặp vua Minh Mạng trong buổi thiết triều.

Ở đây, tác giả khai thác tiếp sự thật Huỳnh Công Lý là cha vợ của vua Minh Mạng. Vua phải điều cha vợ vào thành Gia Định làm Phó tổng trấn là có ý giao cho Tả quân Lê Văn Duyệt, một công thần của triều đình đã từng xả thân vì vua cha, làm nên công trạng lớn hơn cha vợ, sẽ có đủ tài, có sức thuyết phục Huỳnh Công Lý tu tâm. Huỳnh Công Lý cậy có công và là ông nhạc của vua nên vẫn chứng nào tật đó, ăn của dân nhiều hơn. Một tướng dũng mãnh xả thân nơi chiến trường lại khó khăn trong việc xử lý “con ông cháu cha” là chuyện thường nên Tổng trấn Lê Văn Duyệt lại tấu trình tội trạng Huỳnh Công Lý về triều để vua xử cha vợ của mình.

Góc nhìn thứ ba: Xã hội phong kiến vốn duy tình đã được nhà văn đề cập: Người Việt sống duy tình, coi cha vợ như cha đẻ nên con rể xử cha bị cho là tội phạm; sẽ bị coi là mất nhân tâm. 

Triều Gia Long đã ban bố bộ luật Hồng Đức nhằm cai trị dân bằng phép nước, thay cho việc điều hành lúc chiến tranh: Quân pháp bất vị thân. Nhưng vấn đề xét xử và trừng trị tội phạm có chức quyền và quan hệ huyết thống với người cao nhất trong bộ máy nhà nước như Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý, muôn thủa bị bế tắc...

Để bảo vệ phép nước (pháp luật), nhà vua cử Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Đình Thịnh vào Gia Định điều tra cẩn thận rồi xét xử là sự hỗ trợ của Triều đình cho Trấn Gia Định thực hiện việc chấp pháp một vụ án chưa có tiền lệ. Việc Tả quân Lê Văn Duyệt dùng thượng phương bảo kiếm để xử trảm Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý chỉ là thực hiện phép nước theo đúng quyền hạn và trách nhiệm của Tổng trấn, không để xảy ra việc đùn đẩy trách nhiệm lên nhà vua làm người đứng đầu bộ máy khó xử…

VỀ VIỆC KHAI THÁC TƯ LIỆU LỊCH SỬ

Các chi tiết trong truyện được khai thác từ sử sách. Vốn nhạy cảm, tác giả đã phát hiện và khai thác một cách sáng tạo các tình tiết ít được quan tâm như:

- Ngôi mộ thứ hai của Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý ở Cù Lao Hổ của sông Hậu, tỉnh An Giang;

- Dáng hình và giọng nói của Tả quân Lê Văn Duyệt;

- Sự kiện tham nhũng của Huỳnh Công Lý ở Huế;

- Mối quan hệ bà con với vua Minh Mạng (cha vợ);

Đã cho ra một truyện ngắn hấp dẫn.

TÍNH LÔ GIC

Từ lúc khai quật mộ, cho đến lúc ngài xuất hiện một cách thiếu tự tin dẫn đến việc truy tìm xác định song mộ, việc đón tiếp ông Đình ở Cù lao Ông Hổ, việc gặp lại gia đình ngài, việc mô tả dáng hình, giọng nói Huỳnh Công Lý, Tả quân Lê Văn Duyệt được tác giả tính toán và xây dựng chặt chẽ đến từng chi tiết nhỏ nhằm đảm bảo tính lô gic của góc nhìn thứ nhất.

Tiếp tục mạch lô gic là việc miêu tả ông Đình tiếp kiến Tả quân Lê Văn Duyệt với hình dáng giọng nói cho thấy Huỳnh Công Lý là người đem việc nước làm quà cho vợ kế ở thôn quê, chứng tỏ ông không trọng phép nước, ham vui, hám tửu sắc, là thuộc tính của những kẻ tham nhũng được nhà văn khéo léo đưa vào các lập luận minh oan của bà Ba nhằm cho thấy: vì thật thà, những lời kêu oan chính là lời buộc tội khi độc giả gấp truyện ngắn lại và liên tưởng hình ảnh Huỳnh Công Lý.

Việc đặt Huỳnh Công Lý vào quá khứ tham nhũng ở Huế là lý do đưa ông vào trấn Gia Định cũng được hư cấu theo nguyên tắc lô gic.

Nhờ tính lô gic của mạch truyện đã tạo ra sự hấp dẫn.

VỀ CHỦ ĐỀ

Chủ đề nổi của truyện: ca ngợi triều đình nhà Nguyễn từ thời Gia Long đến Minh Mạng đã chú trọng xây dựng và cai trị giang sơn bằng pháp luật qua cốt truyện chống tham nhũng trong tầng lớp “con ông cháu cha” và ở bậc cao nhất dùng hình phạt cao nhất: xử trảm cha vợ của vua đang chấp chính; lại do chính quyền địa phương thực hiện theo luật định.

Truyện còn đề cập vấn đề nhức nhối xã hội: tham nhũng xuất phát từ tầng lớp “Con ông cháu cha” bắt rễ sâu trong lịch sử dân tộc...

Tả quân Lê Văn Duyệt đã quyết đoán, làm trái mệnh lệnh rút quân của Nguyễn Ánh để tránh thất bại. Ông dẫn quân xốc tới, nhờ đó chuyển bại thành thắng trong trận Thị Nại, làm thay đổi cục diện chiến tranh để giành toàn thắng. Một võ quan dũng mãnh, quyết đoán trong chiến tranh lại lúng túng,  không làm tròn nhiệm vụ vua giao thuộc thẩm quyền của mình và đúng luật. Đó là sự kiện từ quá khứ giúp chúng ta khẳng định chân lý: giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều.

Chủ đề ẩn truyện: Do lịch sử được đúc kết và viết theo nghị trình của từng nhân vật lịch sử, trong khi bản thân nhân vật lịch sử là con người nên không hoàn hảo. Từ đó tạo kẻ hở cho những một số ít người tận dụng để tìm cách xét lại lịch sử. Nhưng việc xét lại lịch sử dưới mọi động cơ, không sớm thì muộn, đều thất bại.

Chuyện đặt ra nhiều vấn đề chuyên môn bếp núc của nghề viết văn trong khai thác vốn lịch sử để tái khẳng định những nhân vật lịch sử ở tầm cao hơn và sống động, dễ đi vào lòng người.

Ghi chú: Những chữ viết xiên là trích nguyên văn từ ngữ của truyện ngắn.

Mời đọc truyện: Minh Châu tỏa sáng

Nguồn: Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số 31, tháng 12/2024.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm