TIN TỨC

Mỗi truyện như một giếng sâu...

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2021-10-23 08:29:13
mail facebook google pos stwis
2503 lượt xem

Đọc Khai khẩu, tập truyện ngắn của Nguyễn Trường, Nxb Thanh niên, 2019.           

BÙI VIỆT THẮNG                              

Khai Khẩu, tập truyện mới của Nguyễn Trường gồm 8 truyện. Trong số này có chùm ba truyện dự thi Cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ (2015-2017) đoạt Giải Nhất: Vương quốc mộng mơ, Mùa thanh long Quà tặng tương lai. Phụ bản số Tết Tân Sửu 2021 báo Văn nghệ chọn đăng truyện Quá khứ của hôm nay của Nguyễn Trường.

Có thể nói, Nguyễn Trường đang là cây bút văn xuôi có nội lực, giàu tiềm năng và có nhiều bạn đọc trên văn đàn hiện nay. Ai đó thì nói rõ hơn, sát hơn: Nguyễn Trường là người có duyên văn. Anh viết ít, nhưng “cái” nào cũng tạo sóng dư luận trên văn đàn. Ví như cái truyện Khai khẩu, in trên báo Văn nghệ, ngay lập tức sau đó có lời bình (in đầy 1 trang) của các đồng nghiệp văn chương Hoàng Quốc Hải (Nguyễn Trường với truyện ngắn Khai khẩu), Bùi Việt Thắng (Khai khẩu – khai tâm) và Lê Thanh Huệ (Một bút pháp mới lạ). Tám truyện trong tập Khai khẩu được Nguyễn Trường viết vào những thời điểm khác nhau. Như truyện Đêm chiến tranh viết cách nay vài chục năm, còn Khai khẩuQuá khứ của hôm nay thì còn nóng hổi trên mặt báo Văn nghệ thời gian gần đây (2018-2019). Như vậy có thể nói Khai khẩu là một “bộ sưu tập” (collection) những truyện ngắn hay của Nguyễn Trường sáng tác trong vệt thời gian hơn hai chục năm. Đây là tập truyện ngắn thứ hai của Nguyễn Trường, sau Thiên nhãn (1996, tái bản 2003). Nếu so sánh với Võ Thị Xuân Hà (người giữ kỷ lục, tính đến năm 2019 đã in 20 tập truyện ngắn) thì sẽ thấy Nguyễn Trường viết chậm, ít, có vẻ như khiêm tốn. Nhưng chậm mà chắc. Cũng giống thể thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay. Ai cầm bút mới vào nghề viết văn cũng đều có thể tung hoành viết truyện ngắn. Nhưng viết cho được vài ba truyện tầm cỡ như Vương quốc mộng mơ, Khai khẩu, hay Quá khứ của hôm nay thì quả thật không dễ dàng gì, khác nào vượt vũ môn (!?).

Truyện của Nguyễn Trường, theo tôi, đứng được (hay nói như đại chúng là “bắt mắt”) vì có “cấu tứ” độc đáo. Trong nghề viết văn thì việc tìm “tứ” rất quan trọng, đặc biệt với người làm thơ. Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu đã viết hẳn một tiểu luận Tìm tứ cho một bài thơ. Thi sĩ nhấn mạnh: “Lao động thơ, trước hết là kiếm tìm tứ (...). Ý là của chung mọi người, tứ mới là của riêng mỗi thi sĩ” (Xuân Diệu tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.189-190).Tứ quan trọng không chỉ với thơ, quan trọng cả với truyện (ngắn, vừa, dài). Nhà văn Dạ Ngân có nói một ý hay: Truyện thiếu “tứ” như người đàn ông thắng một bộ complet rất “mode” nhưng chân lại... đi dép... không quai hậu. Nghĩa là nó cọc cạch, nó phản nhau, nó khập khiễng, nó không ra...thể loại gì (!?). Mỗi truyện trong Khai khẩu đều lấp lánh một “cấu tứ” vừa thâm hậu, vừa sát sườn đời sống, vừa có chiều sâu tư tưởng – nghệ thuật, và quan trọng là đọc xong tạo dư ba, liên tưởng, ám ảnh. Có thể còn nhiều ý kiến bình luận khác nhau, nhưng tựu trung bạn đọc đều “khoái trá” với cấu tứ của truyện Khai khẩu. Tất nhiên cấu tứ đó phải sống lại qua một câu chuyện cụ thể, sinh động, vừa có ý nghĩa triết lý, vừa có ý nghĩa nhân sinh. Ở đây là câu chuyện về nhân vật Nguyễn Thành Nam (tức ông Đạo Dừa). Nguyên văn câu ông Đạo Dừa nói với Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm: “Thua dân thì còn, thắng dân thì mất”.

Những truyện hay của Nguyễn Trường, theo tôi, trước hết nhờ ở những “cấu tứ” có hấp lực với bạn đọc. Vương quốc mộng mơ là một ví dụ. Vẫn là chuyện ông Đạo Dừa. Nhưng trong truyện này, “cấu tứ” lại gắn chặt với nhân vật đắc đạo, ảo tưởng có thể xây dựng mẫu hình một vương quốc theo ý muốn, giải quyết mọi xung đột bằng lý thuyết “bất chiến tự nhiên thành” (bất bạo động). Tất nhiên, ông Đạo Dừa chỉ là một cá thể (con người này), nhưng tâm lý của ông là tâm lý điển hình cho số đông - ảo tưởng, thiếu thực tiễn, duy ý chí (tất cả những khiếm khuyết này một thời gian dài như là căn tính thời nay của người Việt).

Trong cuộc Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức (năm 2002), nhà văn Ma Văn Kháng trong tham luận của mình có nói đến tình trạng “không tải” (thiếu tính/tầm tư tưởng) của văn chương nói chung, tiểu thuyết nói riêng. Trong cuộc Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết, cũng do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức gần đây (2-2018) tình trạng/yếu kém kể trên vẫn được nhắc lại, thu hút sự quan tâm của văn giới. Ở đây, theo chúng tôi, tùy thuộc vào “căn cốt văn hóa” của cả nền văn chương cũng như từng nhà văn cụ thể. Mỗi năm chúng ta xuất bản hàng nghìn tác phẩm (đủ các thể loại) nhưng còn đọng lại, chịu được sự thử thách của thời gian và sự phán quyết, lựa chọn của bạn đọc là rất ít. Không ít tác phẩm vừa chào đời đã rơi ngay vào im lặng, vào sự quên lãng đáng sợ của người đọc. Nói như thi sĩ Xuân Diệu: “Thời gian vặt lông tất cả!”. Lựa trong số các cây bút văn xuôi hiện nay còn có nhiều người đọc, còn giữ được sức bền của ngòi bút, theo cảm nhận của riêng tôi – Lê Minh Khuê và Nguyễn Trường là hai tên tuổi nổi trội thuộc đội hình U60, U70.

Trở lại câu chuyện vì sao Nguyễn Trường giữ chân được bạn đọc, như đã nói, anh cố gắng phấn đầu viết ra mỗi tác phẩm (ngoài sự kể chuyện hay), còn phải gửi đến bạn đọc một thông điệp nghệ thuật nào đó khả dĩ lay chuyển những thành trì bảo thủ, những định kiến nhất thành bất biến về xã hội, con người, nhân tình thế thái.Quá khứ của hôm nay là một truyện, đọc xong, khó thoát ra khỏi nó (cái cấu tứ “Lòng yêu nước không của riêng ai”). Có nhiều cách ứng xử với quá khứ. Một cách như là “ăn mày dĩ vãng” (dựa theo cái gọi là “ăn mày cửa Phật”) – tìm thấy trong quá khứ những bài học hữu ích, hữu dụng cho hôm nay. Đó là ký ức lương thiện. Một con người, một thế hệ, một dân tộc nếu chà đạp/ xóa bỏ ký ức lương thiện là mấp mé bờ hủy diệt. Suốt một thời gian dài chúng ta ứng xử cực đoan, bất công với quá khứ (coi quá khứ như một thứ  “bóng đè”). Sau khi đọc xong truyện Giếng sâu, tôi nhắn tin ngay cho tác giả “một truyện ám ảnh, gây đau!”, cũng bởi cái tứ “Mặt nước lặng sóng chưa chắc không có sóng ngầm dưới đáy”. Hóa ra tất cả chúng ta đều có cái nguy cơ mắc vào những “bi kịch chất đống” do hoàn cảnh tạo ra, trong đó đôi khi con người chỉ như là tù binh của hoàn cảnh.Cái chết của Liên trong truyện như một lời cảnh tỉnh không phải về sự sa ngã của con người (ở đây là Quảng, anh chồng Liên, quan hệ với em dâu), mà là những tấm lưới vô tình giăng mắc trong đời không phải lúc nào cũng dễ tránh. Nhiều trường hợp ranh giới giữa hạnh phúc và bất hạnh chỉ là một...sợi tóc.Nhưng cũng có trường hợp như Mùa thanh long, “cấu tứ” được tác giả giấu kín/ kỹ, người đọc phải chịu khó truy tầm, mãi rồi chính tôi mới nhận ra sự thâm trầm của tác giả khi anh “buông/cài” vào truyện một tiếng thở dài về cái tình cảnh, nỗi khổ tâm “đi làm mướn cho người khác” mà chính chúng ta đôi khi vô tình (hay cố tình) không nhận ra, không thoát ra được(!?).

Truyện của Nguyễn Trường trong Khai khẩu thể hiện độ chín của ngòi bút. Riêng về truyện ngắn, tôi có thể tin tưởng để nói, Nguyễn Trường viết truyện ngắn có nghề. Nhưng phải nói ngay rằng trước khi bàn chuyện “nghề” thì phải nói đến nhân tố hàng đầu quyết định thành bại của sự viết – đó là vốn sống, vốn văn hóa của nhà văn. Ở đây nhân tố thứ hai cực kỳ quan trọng. Có điều kiện tiếp xúc với nhiều nhà văn thuộc nhiều thế hệ, tôi nhận ra ngay “sở trường” của những ai có căn cốt văn hóa và “sở đoản” của những ai cạn nguồn vốn này trong thực hành viết. Truyện ngắn Nguyễn Trường có biệt sắc gì? Một số bạn đọc đã hỏi tôi (kiểu như phỏng vấn) sau khi nhà văn chiếm giải khôi nguyên Cuộc thi truyện ngắn 2015-2017 của tuần báo Văn nghệ. Không khó để nói truyện ngắn Nguyễn Trường có mầm mống tiểu thuyết (hay là những “mảnh vỡ” của tiểu thuyết). Trong cách hình dung/định nghĩa truyện ngắn lâu nay người ta nghiêng về cái gọi là “mô – măng” (Khoảnh khắc, chốc lát) như là một đặc trưng quan trọng của thể loại (có người thích nói là “thi pháp”). Nhà văn Nguyễn Thành Long cho rằng nghệ thuật truyện ngắn là cách đưa con người/ nhân vật vào tình huống (mô - măng). Ông đã tường trình quan niệm này bằng một bài viết thú vị, xét về nghề viết truyện ngắn – Trường hợp viết Lặng lẽ Sa Pa.Tôi thấy, Nguyễn Trường khi viết truyện ngắn đi ra ngoài “phên giậu” của quy tắc này. Anh không dừng lại, xoáy sâu vào các “mô- măng”. Trái lại, anh chú ý đến chu trình/ quá trình của câu chuyện, xâu chuỗi các biến cố/ sự kiện, kiến thiết cốt truyện để làm nổi bật một cuộc đời/ kiếp người trong tính nhân - quả của nó. Vương quốc mộng mơ, Quà tặng tương lai, Giếng sâu, Quá khứ của hôm nay, Người  Hoa, Khai khẩu, là những truyện ngắn trĩu nặng một số phận, kiếp người. Từ những “cái” ngắn này có thể nhân/ nâng lên thành những tiểu thuyết ngắn chừng vài trăm trang, rất hợp thời với cơ chế và thị hiếu đọc hôm nay.

Truyện ngắn Nguyễn Trường có hấp lực, theo tôi, còn nhờ vào những tình huống truyện điển hình (đôi lúc nghẹt thở). Đêm chiến tranh là một ví dụ điển hình. Nó là một câu chuyện, một trường hợp, một “ca” tâm lý xảy ra trong chiến tranh giữa một anh lính Giải phóng (Bằng) và một “người tù binh” (sỹ quan cấp chỉ huy) của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Đi trong đêm mưa, lại rơi vào bãi mìn do du kích cài, tình thế thật như cưỡi trên lưng cọp. Không may cho tù binh bị vướng mìn, bị thương nhẹ ở chân. Và chính Bằng cũng bị thương vào vai phải. Trên cánh đồng đêm đầy chết chóc chỉ có hai người. Bằng quyết định cởi trói cho tù binh và nhờ anh ta băng bó cho mình. Tình huống khiến hai người vốn ở hai chiến tuyến nay “Gã nghĩ đúng. Gã cần có Bằng cũng như bây giờ Bằng cần có gã. Hai người không giúp nhau lúc này thì cả hai cùng chết”. Trong chiến tranh những tình huống như thế không hiếm. Nhưng khi đi vào văn chương thì cái nhìn và cách viết của nhà văn mới thực sự quan trọng – nhà văn viết dưới ánh sáng nào? Cuối cùng thì cả hai người lính (dù ở phía nào) thì cũng đều là con người. Tôi thích cái kết của truyện bằng một đối thoại, có thể ai đó không để ý: “Anh nở một nụ cười nói với gã sỹ quan:

-Trời sáng rồi à?

- Dạ, sáng rồi!”

“Sáng rồi”, nghĩa trực tiếp nói về thời gian (trời sáng, đêm qua). Nhưng còn nghĩa bóng (ngộ ra, nhận ra) một điều gì lớn lao qua cái đêm khủng khiếp của chiến tranh – con người cần hòa bình như cần khí trời, nước uống.

Truyện ngắn Nguyễn Trường hấp dẫn bạn đọc còn nhờ được viết bằng một bút pháp biến ảo: phối kết hợp thực và ảo/ “thần thực” như cách nói của nhà văn Trung Quốc đương đại Diêm Liên Khoa (Vương quốc mộng mơ, Khai khẩu, Quá khứ của hôm nay), hiện thực nghiêm ngặt (Mùa thanh long, Quà tặng tương lai, Giếng sâu, Đêm chiến tranh), trữ tình (Quà tặng tương lai), biếm họa (Người Hoa). Ai đó nói chí lý, khi chú ý đến thay đổi bút pháp tức nhà văn đã quan tâm đến bạn đọc với tư cáchngười đồng sáng tạo theo lý thuyết tiếp nhận nghệ thuật. Tôi tin Nguyễn Trường còn đi xa hơn nữa, còn cống hiến cho bạn đọc nhiều hơn nữa những tác phẩm giàu sức hấp dẫn.

Hà Nội, tháng 9-2019

BVT.

Nguồn: Thời báo Văn học Nghệ thuật số 27, ngày 08/7/2021.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Julio Cortázar và tập truyện ngắn bị “bỏ quên”
Mới đây, A Certain Lucas đã tái xuất sau nhiều thập kỉ, mở ra cánh cửa khám phá nhà văn vĩ đại người Argentina Julio Cortázar cũng như ảnh hưởng vượt khỏi châu Mĩ của cây bút này.
Xem thêm
Đọc tác phẩm “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu dưới góc nhìn từ đời thường
Bài viết của nhà văn Nguyên Bình tác phẩm “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu
Xem thêm
Nước mắt trong Lục Bát Mẹ
Nhà thơ Đỗ Thành Đồng vừa làm lễ kỉ niệm 5 năm ngày mất của mạ, và dịp này anh ra mắt tập thơ thứ 9 “Lục bát mẹ”. Hơn 100 trang sách với 42 bài thơ lục bát viết về mẹ (mẹ anh sinh năm 1942), mỗi bài thơ là một cung bậc cảm xúc, cũng là những khúc ru của một người con hiếu đạo đối với mẹ ở nơi cõi Phật.
Xem thêm
Một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa lạ vừa quen trong hai tác phẩm mới
Một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa lạ vừa quen trong hai tác phẩm mới
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chua ngọt một đời cầm bút
Văn Chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ, nhà lý luận phê bình Lê Thiếu Nhơn như một tiếp nối của cuộc trò chuyện đẹp này.
Xem thêm
Hoàng Đăng Khoa và nỗi buồn đương đại trong tập thơ mới
Có thể nói, buồn là phẩm chất thuộc tính thương hiệu của thi nhân. Tản Đà từ khoảng 1916 đã viết “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi”, 20 năm sau, khoảng 1936, Xuân Diệu “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Cũng khoảng ấy, nhưng trước một hai năm, Thế Lữ cũng “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi! xa vắng mênh mông là buồn”. Ngay cả Tố Hữu, cùng thời gian, viết: “Buồn ta là của buồn đời/ Buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn/ Buồn ta, ấy lửa đang nhen/ Buồn ta, ấy rượu lên men say nồng”. Đều buồn cả.
Xem thêm
Quá trình tự vượt lên chính mình
Tôi nhận được thư mời của Ban Tổ chức buổi Giao lưu - Tặng sách vào buổi chiều hôm nay (16/11) tại tư dinh của họa sỹ Nguyễn Đình Ánh ở Việt Trì, Phú Thọ. Ban Tổ chức có nhã ý mời tôi phát biểu ở buổi gặp mặt. Thật vinh dự nhưng quá khó với tôi: Lại phải xây dựng thói quen “Biến không thành có, biến khó thành dễ, biến cái không thể thành cái có thể…” như Thủ tướng Phạm Minh Chính thường nói!
Xem thêm
Nguyễn Thanh Quang - Giọng thơ trầm lắng từ miền sông nước An Giang
Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, mỗi vùng đất đều mang trong mình một mạch nguồn riêng, âm thầm mà bền bỉ, lặng lẽ mà dai dẳng như chính nhịp sống của con người nơi đó. Và trong không gian thi ca rộng lớn ấy, An Giang như một miền phù sa bồi đắp bởi nhánh sông Hậu, bởi dãy Thất Sơn thâm u, bởi những cánh đồng lúa bát ngát, bởi mênh mang sóng biển và bởi những phận người chất phác, luôn có một sắc thái thi ca rất riêng. Đó là vẻ đẹp của sự hiền hòa xen chút sắc bén, của nỗi lặng thầm pha chút đa đoan, của những suy tư tưởng như bình dị mà lại chứa cả thẳm sâu nhân thế.
Xem thêm
Thơ Thảo Vi và cội nguồn ánh sáng yêu thương
Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.
Xem thêm
Những chấn thương nội tâm trong “Mã độc báo thù”
“Mã độc báo thù” là tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Nguyễn Văn Học, vừa được NXB Công an nhân dân phát hành. Đây là một trong vài tiểu thuyết đầu tiên viết về đề tài tội phạm công nghệ cao ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhà văn không chỉ nói về tội phạm, mà còn xoáy sâu về những tổn thương của con người trong thời đại số.
Xem thêm
Huệ Triệu, một nhà giáo, nhà thơ
Cả hai tư cách, nhà giáo và thi nhân, Huệ Triệu là một gương mặt sáng giá.
Xem thêm
Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình?
Văn học, cũng như các lĩnh vực khác, theo tôi đều có những dòng chảy nối tiếp âm thầm, tạo nên nhiều sự giao thoa, đan cài giữa cũ và mới, quen thuộc và khác lạ
Xem thêm
Biểu tượng nước trong thơ Vũ Mai Phong
“Nước” trong văn hóa phương Đông là thủy – khởi nguyên của sự sống, mang phẩm chất mềm mại – bền bỉ – linh hoạt biến hóa của triết lý nhu thắng cương. Trong thi ca Việt Nam, “nước” gắn với dòng chảy thời gian tâm thức dân tộc, văn hóa lịch sử và tâm linh
Xem thêm
“Hư Thực” của Phùng Văn Khai: Tiếng nói Hậu Hiện Đại và Dấu Ấn Văn Chương Đương Đại Việt Nam
Văn học luôn là tấm gương phản chiếu xã hội, là nơi ghi lại những biến chuyển của thời đại và tâm hồn con người. Trong lịch sử văn học Việt Nam, mỗi thời kỳ đều có những tác phẩm tiêu biểu, vừa mang dấu ấn thời đại, vừa để lại những giá trị trường tồn cho đời sau. Tuy nhiên, khi thế giới bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa và đa dạng văn hóa, các giá trị truyền thống gặp nhiều thử thách. Đặc biệt, với sự bùng nổ thông tin và biến động xã hội, con người ngày nay không còn sống trong một thế giới đơn giản, rạch ròi mà là một thế giới đa chiều, hỗn loạn và khó đoán định.
Xem thêm
Thế giới kỳ vĩ của thơ
Thế giới của thơ, với thi sỹ là bến đậu của tâm hồn, là cánh đồng gieo trồng cảm xúc và chữ nghĩa, là bầu trời để cất cánh ước mơ và thả hồn phiêu lãng; với đọc giả là nhịp cầu kết nối con tim, là dòng sông soi rọi, tắm táp tâm hồn để được nâng đỡ và bay cao.
Xem thêm
Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI
Nói đến văn học dịch những thập niên đầu thế kỉ 21, có lẽ, trước hết, phải nhắc tới việc rất nhiều tác phẩm thuộc hàng “tinh hoa”, “kinh điển”, hay các tác phẩm đạt được các giải thưởng văn chương danh giá (Nobel, Pulitzer, Man Booker...) đã được chú trọng chuyển ngữ trong giai đoạn này.
Xem thêm
Vài nhận thức về trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều
Tôi hỏi nhiều nhà thơ và văn, rằng họ thấy trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều như thế nào và đặng họ có thể khai sáng chút gì cho tôi nhưng không ai có câu trả lời khiến tôi thỏa mãn, đa phần đều nói “Ái chà, Lò mổ của Nguyễn Quang Thiều hả, bọn tớ cũng chỉ nghe dư luận ồn ào trên mạng thôi chứ có sách đọc đâu!”.
Xem thêm
Nguyễn Duy – Vịn thi ca vượt thác thời gian...
Bài đăng Văn nghệ Công an số ra ngày 13/11/2025
Xem thêm
Thơ có nghĩa là “thương” - Tiếng thơ Đặng Nguyệt Anh
Một bài viết thấm đẫm nhân tình của Tuấn Trần – người trẻ viết về Đặng Nguyệt Anh, “ngoại” của thơ và của lòng nhân hậu. Từ câu chữ đến cảm xúc, bài viết là một lời tri ân chân thành dành cho thế hệ cầm bút đã “đem trái tim yêu thương gánh ghì số phận chung”, để hôm nay, thơ của họ vẫn còn làm dịu đi những cơn bão đời người.
Xem thêm
Chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam hiện đại
Bài viết này xin phép được tiếp tục trình bày một xu hướng vận động chủ đạo của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam sau 1975: dân tộc hóa ca khúc Việt Nam.
Xem thêm