TIN TỨC

Mỗi truyện như một giếng sâu...

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2021-10-23 08:29:13
mail facebook google pos stwis
2681 lượt xem

Đọc Khai khẩu, tập truyện ngắn của Nguyễn Trường, Nxb Thanh niên, 2019.           

BÙI VIỆT THẮNG                              

Khai Khẩu, tập truyện mới của Nguyễn Trường gồm 8 truyện. Trong số này có chùm ba truyện dự thi Cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ (2015-2017) đoạt Giải Nhất: Vương quốc mộng mơ, Mùa thanh long Quà tặng tương lai. Phụ bản số Tết Tân Sửu 2021 báo Văn nghệ chọn đăng truyện Quá khứ của hôm nay của Nguyễn Trường.

Có thể nói, Nguyễn Trường đang là cây bút văn xuôi có nội lực, giàu tiềm năng và có nhiều bạn đọc trên văn đàn hiện nay. Ai đó thì nói rõ hơn, sát hơn: Nguyễn Trường là người có duyên văn. Anh viết ít, nhưng “cái” nào cũng tạo sóng dư luận trên văn đàn. Ví như cái truyện Khai khẩu, in trên báo Văn nghệ, ngay lập tức sau đó có lời bình (in đầy 1 trang) của các đồng nghiệp văn chương Hoàng Quốc Hải (Nguyễn Trường với truyện ngắn Khai khẩu), Bùi Việt Thắng (Khai khẩu – khai tâm) và Lê Thanh Huệ (Một bút pháp mới lạ). Tám truyện trong tập Khai khẩu được Nguyễn Trường viết vào những thời điểm khác nhau. Như truyện Đêm chiến tranh viết cách nay vài chục năm, còn Khai khẩuQuá khứ của hôm nay thì còn nóng hổi trên mặt báo Văn nghệ thời gian gần đây (2018-2019). Như vậy có thể nói Khai khẩu là một “bộ sưu tập” (collection) những truyện ngắn hay của Nguyễn Trường sáng tác trong vệt thời gian hơn hai chục năm. Đây là tập truyện ngắn thứ hai của Nguyễn Trường, sau Thiên nhãn (1996, tái bản 2003). Nếu so sánh với Võ Thị Xuân Hà (người giữ kỷ lục, tính đến năm 2019 đã in 20 tập truyện ngắn) thì sẽ thấy Nguyễn Trường viết chậm, ít, có vẻ như khiêm tốn. Nhưng chậm mà chắc. Cũng giống thể thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay. Ai cầm bút mới vào nghề viết văn cũng đều có thể tung hoành viết truyện ngắn. Nhưng viết cho được vài ba truyện tầm cỡ như Vương quốc mộng mơ, Khai khẩu, hay Quá khứ của hôm nay thì quả thật không dễ dàng gì, khác nào vượt vũ môn (!?).

Truyện của Nguyễn Trường, theo tôi, đứng được (hay nói như đại chúng là “bắt mắt”) vì có “cấu tứ” độc đáo. Trong nghề viết văn thì việc tìm “tứ” rất quan trọng, đặc biệt với người làm thơ. Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu đã viết hẳn một tiểu luận Tìm tứ cho một bài thơ. Thi sĩ nhấn mạnh: “Lao động thơ, trước hết là kiếm tìm tứ (...). Ý là của chung mọi người, tứ mới là của riêng mỗi thi sĩ” (Xuân Diệu tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.189-190).Tứ quan trọng không chỉ với thơ, quan trọng cả với truyện (ngắn, vừa, dài). Nhà văn Dạ Ngân có nói một ý hay: Truyện thiếu “tứ” như người đàn ông thắng một bộ complet rất “mode” nhưng chân lại... đi dép... không quai hậu. Nghĩa là nó cọc cạch, nó phản nhau, nó khập khiễng, nó không ra...thể loại gì (!?). Mỗi truyện trong Khai khẩu đều lấp lánh một “cấu tứ” vừa thâm hậu, vừa sát sườn đời sống, vừa có chiều sâu tư tưởng – nghệ thuật, và quan trọng là đọc xong tạo dư ba, liên tưởng, ám ảnh. Có thể còn nhiều ý kiến bình luận khác nhau, nhưng tựu trung bạn đọc đều “khoái trá” với cấu tứ của truyện Khai khẩu. Tất nhiên cấu tứ đó phải sống lại qua một câu chuyện cụ thể, sinh động, vừa có ý nghĩa triết lý, vừa có ý nghĩa nhân sinh. Ở đây là câu chuyện về nhân vật Nguyễn Thành Nam (tức ông Đạo Dừa). Nguyên văn câu ông Đạo Dừa nói với Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm: “Thua dân thì còn, thắng dân thì mất”.

Những truyện hay của Nguyễn Trường, theo tôi, trước hết nhờ ở những “cấu tứ” có hấp lực với bạn đọc. Vương quốc mộng mơ là một ví dụ. Vẫn là chuyện ông Đạo Dừa. Nhưng trong truyện này, “cấu tứ” lại gắn chặt với nhân vật đắc đạo, ảo tưởng có thể xây dựng mẫu hình một vương quốc theo ý muốn, giải quyết mọi xung đột bằng lý thuyết “bất chiến tự nhiên thành” (bất bạo động). Tất nhiên, ông Đạo Dừa chỉ là một cá thể (con người này), nhưng tâm lý của ông là tâm lý điển hình cho số đông - ảo tưởng, thiếu thực tiễn, duy ý chí (tất cả những khiếm khuyết này một thời gian dài như là căn tính thời nay của người Việt).

Trong cuộc Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức (năm 2002), nhà văn Ma Văn Kháng trong tham luận của mình có nói đến tình trạng “không tải” (thiếu tính/tầm tư tưởng) của văn chương nói chung, tiểu thuyết nói riêng. Trong cuộc Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết, cũng do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức gần đây (2-2018) tình trạng/yếu kém kể trên vẫn được nhắc lại, thu hút sự quan tâm của văn giới. Ở đây, theo chúng tôi, tùy thuộc vào “căn cốt văn hóa” của cả nền văn chương cũng như từng nhà văn cụ thể. Mỗi năm chúng ta xuất bản hàng nghìn tác phẩm (đủ các thể loại) nhưng còn đọng lại, chịu được sự thử thách của thời gian và sự phán quyết, lựa chọn của bạn đọc là rất ít. Không ít tác phẩm vừa chào đời đã rơi ngay vào im lặng, vào sự quên lãng đáng sợ của người đọc. Nói như thi sĩ Xuân Diệu: “Thời gian vặt lông tất cả!”. Lựa trong số các cây bút văn xuôi hiện nay còn có nhiều người đọc, còn giữ được sức bền của ngòi bút, theo cảm nhận của riêng tôi – Lê Minh Khuê và Nguyễn Trường là hai tên tuổi nổi trội thuộc đội hình U60, U70.

Trở lại câu chuyện vì sao Nguyễn Trường giữ chân được bạn đọc, như đã nói, anh cố gắng phấn đầu viết ra mỗi tác phẩm (ngoài sự kể chuyện hay), còn phải gửi đến bạn đọc một thông điệp nghệ thuật nào đó khả dĩ lay chuyển những thành trì bảo thủ, những định kiến nhất thành bất biến về xã hội, con người, nhân tình thế thái.Quá khứ của hôm nay là một truyện, đọc xong, khó thoát ra khỏi nó (cái cấu tứ “Lòng yêu nước không của riêng ai”). Có nhiều cách ứng xử với quá khứ. Một cách như là “ăn mày dĩ vãng” (dựa theo cái gọi là “ăn mày cửa Phật”) – tìm thấy trong quá khứ những bài học hữu ích, hữu dụng cho hôm nay. Đó là ký ức lương thiện. Một con người, một thế hệ, một dân tộc nếu chà đạp/ xóa bỏ ký ức lương thiện là mấp mé bờ hủy diệt. Suốt một thời gian dài chúng ta ứng xử cực đoan, bất công với quá khứ (coi quá khứ như một thứ  “bóng đè”). Sau khi đọc xong truyện Giếng sâu, tôi nhắn tin ngay cho tác giả “một truyện ám ảnh, gây đau!”, cũng bởi cái tứ “Mặt nước lặng sóng chưa chắc không có sóng ngầm dưới đáy”. Hóa ra tất cả chúng ta đều có cái nguy cơ mắc vào những “bi kịch chất đống” do hoàn cảnh tạo ra, trong đó đôi khi con người chỉ như là tù binh của hoàn cảnh.Cái chết của Liên trong truyện như một lời cảnh tỉnh không phải về sự sa ngã của con người (ở đây là Quảng, anh chồng Liên, quan hệ với em dâu), mà là những tấm lưới vô tình giăng mắc trong đời không phải lúc nào cũng dễ tránh. Nhiều trường hợp ranh giới giữa hạnh phúc và bất hạnh chỉ là một...sợi tóc.Nhưng cũng có trường hợp như Mùa thanh long, “cấu tứ” được tác giả giấu kín/ kỹ, người đọc phải chịu khó truy tầm, mãi rồi chính tôi mới nhận ra sự thâm trầm của tác giả khi anh “buông/cài” vào truyện một tiếng thở dài về cái tình cảnh, nỗi khổ tâm “đi làm mướn cho người khác” mà chính chúng ta đôi khi vô tình (hay cố tình) không nhận ra, không thoát ra được(!?).

Truyện của Nguyễn Trường trong Khai khẩu thể hiện độ chín của ngòi bút. Riêng về truyện ngắn, tôi có thể tin tưởng để nói, Nguyễn Trường viết truyện ngắn có nghề. Nhưng phải nói ngay rằng trước khi bàn chuyện “nghề” thì phải nói đến nhân tố hàng đầu quyết định thành bại của sự viết – đó là vốn sống, vốn văn hóa của nhà văn. Ở đây nhân tố thứ hai cực kỳ quan trọng. Có điều kiện tiếp xúc với nhiều nhà văn thuộc nhiều thế hệ, tôi nhận ra ngay “sở trường” của những ai có căn cốt văn hóa và “sở đoản” của những ai cạn nguồn vốn này trong thực hành viết. Truyện ngắn Nguyễn Trường có biệt sắc gì? Một số bạn đọc đã hỏi tôi (kiểu như phỏng vấn) sau khi nhà văn chiếm giải khôi nguyên Cuộc thi truyện ngắn 2015-2017 của tuần báo Văn nghệ. Không khó để nói truyện ngắn Nguyễn Trường có mầm mống tiểu thuyết (hay là những “mảnh vỡ” của tiểu thuyết). Trong cách hình dung/định nghĩa truyện ngắn lâu nay người ta nghiêng về cái gọi là “mô – măng” (Khoảnh khắc, chốc lát) như là một đặc trưng quan trọng của thể loại (có người thích nói là “thi pháp”). Nhà văn Nguyễn Thành Long cho rằng nghệ thuật truyện ngắn là cách đưa con người/ nhân vật vào tình huống (mô - măng). Ông đã tường trình quan niệm này bằng một bài viết thú vị, xét về nghề viết truyện ngắn – Trường hợp viết Lặng lẽ Sa Pa.Tôi thấy, Nguyễn Trường khi viết truyện ngắn đi ra ngoài “phên giậu” của quy tắc này. Anh không dừng lại, xoáy sâu vào các “mô- măng”. Trái lại, anh chú ý đến chu trình/ quá trình của câu chuyện, xâu chuỗi các biến cố/ sự kiện, kiến thiết cốt truyện để làm nổi bật một cuộc đời/ kiếp người trong tính nhân - quả của nó. Vương quốc mộng mơ, Quà tặng tương lai, Giếng sâu, Quá khứ của hôm nay, Người  Hoa, Khai khẩu, là những truyện ngắn trĩu nặng một số phận, kiếp người. Từ những “cái” ngắn này có thể nhân/ nâng lên thành những tiểu thuyết ngắn chừng vài trăm trang, rất hợp thời với cơ chế và thị hiếu đọc hôm nay.

Truyện ngắn Nguyễn Trường có hấp lực, theo tôi, còn nhờ vào những tình huống truyện điển hình (đôi lúc nghẹt thở). Đêm chiến tranh là một ví dụ điển hình. Nó là một câu chuyện, một trường hợp, một “ca” tâm lý xảy ra trong chiến tranh giữa một anh lính Giải phóng (Bằng) và một “người tù binh” (sỹ quan cấp chỉ huy) của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Đi trong đêm mưa, lại rơi vào bãi mìn do du kích cài, tình thế thật như cưỡi trên lưng cọp. Không may cho tù binh bị vướng mìn, bị thương nhẹ ở chân. Và chính Bằng cũng bị thương vào vai phải. Trên cánh đồng đêm đầy chết chóc chỉ có hai người. Bằng quyết định cởi trói cho tù binh và nhờ anh ta băng bó cho mình. Tình huống khiến hai người vốn ở hai chiến tuyến nay “Gã nghĩ đúng. Gã cần có Bằng cũng như bây giờ Bằng cần có gã. Hai người không giúp nhau lúc này thì cả hai cùng chết”. Trong chiến tranh những tình huống như thế không hiếm. Nhưng khi đi vào văn chương thì cái nhìn và cách viết của nhà văn mới thực sự quan trọng – nhà văn viết dưới ánh sáng nào? Cuối cùng thì cả hai người lính (dù ở phía nào) thì cũng đều là con người. Tôi thích cái kết của truyện bằng một đối thoại, có thể ai đó không để ý: “Anh nở một nụ cười nói với gã sỹ quan:

-Trời sáng rồi à?

- Dạ, sáng rồi!”

“Sáng rồi”, nghĩa trực tiếp nói về thời gian (trời sáng, đêm qua). Nhưng còn nghĩa bóng (ngộ ra, nhận ra) một điều gì lớn lao qua cái đêm khủng khiếp của chiến tranh – con người cần hòa bình như cần khí trời, nước uống.

Truyện ngắn Nguyễn Trường hấp dẫn bạn đọc còn nhờ được viết bằng một bút pháp biến ảo: phối kết hợp thực và ảo/ “thần thực” như cách nói của nhà văn Trung Quốc đương đại Diêm Liên Khoa (Vương quốc mộng mơ, Khai khẩu, Quá khứ của hôm nay), hiện thực nghiêm ngặt (Mùa thanh long, Quà tặng tương lai, Giếng sâu, Đêm chiến tranh), trữ tình (Quà tặng tương lai), biếm họa (Người Hoa). Ai đó nói chí lý, khi chú ý đến thay đổi bút pháp tức nhà văn đã quan tâm đến bạn đọc với tư cáchngười đồng sáng tạo theo lý thuyết tiếp nhận nghệ thuật. Tôi tin Nguyễn Trường còn đi xa hơn nữa, còn cống hiến cho bạn đọc nhiều hơn nữa những tác phẩm giàu sức hấp dẫn.

Hà Nội, tháng 9-2019

BVT.

Nguồn: Thời báo Văn học Nghệ thuật số 27, ngày 08/7/2021.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm