TIN TỨC

Nghĩa trang Trường Sơn - Mãi còn đây những linh hồn bất tử

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-11-17 21:09:26
mail facebook google pos stwis
4867 lượt xem

Tạp chí Văn nghệ TPHCM: Tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn trong chuyến Hành trình về nguồn “Âm vang Trường Sơn” do Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM tổ chức, MC Quỳnh Hoa đã đọc 2 bài thơ xúc động, trong đó có bài “Một thoáng Nghĩa trang Trường Sơn” của nhà thơ Nguyên Hùng, một thành viên trong Đoàn, và sau đây là cảm nhận của đồng nghiệp về bài thơ này.
 


Phó Ban tuyên giáo Thành ủy Nguyễn Thọ Truyền phát biểu tại buổi lễ dâng hương

PHAN NGỌC QUANG

 MỘT THOÁNG NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN

Khi ngã xuống
Các anh còn rất trẻ
Chưa một ngày vui
Chưa một mối tình...

Các anh nằm giữa núi rừng lặng lẽ
Vai kề vai trong đội ngũ điệp trùng
Các anh nằm giữa thương đau Đất Mẹ
Bao nỗi niềm bia đá cũng rưng rưng.

(Nguyên Hùng)

Cách đây vài hôm ghé vào “trạm dừng chân” Cánh buồm thao thức trên chặng cao tốc thơ văn của trang Bạn bè văn nghệ, tôi bắt gặp bài Nghĩa trang Trường Sơn. Nhìn vào “giấy khai sinh” đứa con tinh thần của Nguyên Hùng mới biết bài thơ ra đời trước ngày anh tham gia chuyến Hành trình về nguồn “Âm vang Trường Sơn” do Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM tổ chức từ ngày 7/11/2022.

Tuy không có xuất xứ nhưng ai cũng nhận diện được đây chính là cảm xúc trào dâng của thi sĩ khi đứng trước hàng ngàn bia mộ ở một chiều Nghĩa trang Trường Sơn. Có biết bao bài thơ viết về nỗi thương cảm của người đang sống đối với một cả thế hệ đã ngã xuống trong thời mưa bom bão đạn để giành lấy từng tấc đất tự do hòa bình cho Tổ quốc nhưng bài thơ của Nguyên Hùng vẫn để lại những nỗi niềm sâu lắng về những con người đang nằm dưới cỏ trong giấc ngủ ngàn thu. Chỉ với 2 khổ thơ, một tác phẩm khó có thể diễn đạt được những gì mà tác giả muốn gửi gắm. Và tôi nghĩ, trong bài thơ này cũng vậy. Nhưng Nguyên Hùng đã biết đem cái lạ vào thơ mình bởi 2 khổ thơ với 2 giọng điệu riêng biệt. Không hẳn là thơ 4 chữ cũng không hoàn toàn là thơ 8 chữ vì nếu thế chẳng có chi để bàn. Tôi thích bài thơ là ở ngay kết cấu, nền tảng vẫn là truyền thống nhưng đã có phá cách trong lời nói chuyện với độc giả. “Khi ngã xuống/ Các anh còn rất trẻ”. Ở tuổi 20 các anh đã hiến dâng đời mình cho cuộc chiến tranh đầy khốc liệt và chấp nhận sự hy sinh. Câu thơ làm nên tiếng nấc trước sự thật đau lòng và tiếc nuối. Sự tiếc nuối càng được nhân lên khi có 2 câu thơ 3, 4 tiếp giãi bày: “Chưa một ngày vui/ chưa một mối tình”. Đã có lúc tôi muốn hỏi Nguyên Hùng rõ hơn câu thơ: “Chưa một ngày vui” nhưng tôi đành tự hiểu vì không muốn gợi lại nỗi đau của người đã khuất. Còn gì phũ phàng hơn mà sống trọn cuộc đời mà chưa có một ngày vui. Ngày vui đó là ngày được ngủ ngon một giấc nồng trên ruộng lúa quê hương, Ngày vui đó là ngày thấy nụ cười cha mẹ khi đất trời rợp bóng cờ sao. Đó cũng là ngày vui tràn ngập hạnh phúc của đôi uyên ương trong ngày hôn lễ và cả trong đêm đuốc hoa. Mãi mãi ngày vui đó không còn, đã đi theo các anh vĩnh viễn. Làm sao bù đắp hết sự thiệt thòi của những chàng trai trẻ tuổi đầy nhựa sống.

Có lẽ vì thương các anh hùng liệt sĩ quá nên tác giả viết tiếp câu: “Các anh nằm giữa núi rừng, lặng lẽ/ Vai kề vai trong đội ngũ điệp trùng”. Câu thơ vẽ nên bức tranh toàn cảnh Nghĩa trang Trường Sơn không thể đếm hết mộ phần giữa núi rừng heo hút dù ai chưa đặt chân tới cũng có thể hình dung được. Nhưng đó lại là những linh hồn bất tử, những cuộc đời còn sống mãi với thời gian vì họ vẫn đi trong đoàn quân trong tư thế oai nghiêm của người chiến sĩ. Mỗi nắm đất nơi đây đã hóa thành nắm thương đau và cả yêu thương của Đất Mẹ. Tổ quốc non sông hình chữ S đã làm thành chiếc nôi ru các anh giấc ngủ muôn đời.

Dù được động viên bằng những niềm an ủi của ngày hôm nay nhưng có ai khi bước chân đến đây khó cầm được dòng lệ không khóc mà vẫn tuôn trào vì thương nhớ. Không khóc sao được khi bia đá nơi đây cũng rưng rưng vì niềm xúc động mà không nói được nên lời. Tôi thích Nguyên Hùng ở những câu thơ như thế, anh không nói nhiều nhưng “ý tại ngôn ngoại” trong từng câu chữ bay ra làm bạn đọc day dứt, suy nghĩ không nguôi. Cả bài thơ không hề nói đến nén nhang nhưng đọc lên vẫn cảm nhận được hương thơm của một tấm lòng khó nói hết thành lời còn phảng phất đâu đây. Hay chăng đó là hương thơm của lòng ngưỡng vọng và sự tri ân đối với những linh hồn bất tử ở một nghĩa trang mà nơi đó không chỉ có mộ phần.

Nghĩ mình chưa thỏa hết nỗi lòng, Nguyên Hùng còn có thêm chùm 2 bài Về thăm lại chiến trường xưa. Bài 1 có nhiều cảm nhận tinh tế khi anh viết: “Tà Cơn vừa nắng đã mưa A Sầu”. Đây là một thực tế ở vùng núi Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn. Hai năm trước khi ở Đông Hà tôi tính hủy chuyến đi ngược lên đường 9 để ghé Khe sanh vì mưa trắng cả trời TP Quảng Trị, thế nhưng tôi thật sự ngỡ ngàng khi người thân báo trên này vẫn nắng chang chang. Đến nơi tôi mới thấm thía câu thơ của Tố Hữu: “Trường Sơn đông nắng, tây mưa/ Ai chưa đến đó như chưa rõ mình” mình biết cách đây gần nửa thế kỷ. Và anh bộ đội năm xưa chỉ cần đến Đakrông là đã bắt gặp được thời lửa đạn năm xưa hiện về: “Đakrông nối lại nhịp cầu/ Ngược thời lửa đạn tìm nhau những ngày...”. Khổ 2 gắn nhiều kỷ niệm với tác giả bởi những bữa cơm rừng và cả đồng đội đã hy sinh đến nay vẫn thèm một bát canh rau rừng. Dù giữa đại ngàn Trường Sơn ngọn lửa hòa bình đã được nhen lên nhưng tác giả vẫn không quên tháng ngày gian khó. Hy sinh mất mát đi qua để cho nụ cười hạnh phúc hôm nay nở mãi như đóa hoa rừng. Một lần nữa xin cảm ơn các anh và cảm ơn tác giả.
 

NSƯT Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin, dâng hương.


Các nghệ sĩ Trần Xuân Tiến, Lê Thiện, Cẩm Thúy, Lâm Lê Dũng giao lưu với các VNS.


Ông Nguyễn Thọ Truyền thắp nến tại các phần mộ tại Nghĩa trang Trường Sơn.

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 50 (ngày 17/11/2022)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm