TIN TỨC

Người nữ và con đường tình yêu trong Đối thoại đêm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-05 07:17:52
mail facebook google pos stwis
2228 lượt xem

T.S. NGUYỄN THỊ NHÀN
(Đọc Đối thoại đêm của Triệu Kim Loan, NXB Hội Nhà văn, 2023)
 

Tôi không biết sẽ bắt đầu từ đâu, viết gì trước, khi ngôn từ líu ríu và những tứ thơ, những vần thơ đẹp của nữ sĩ Triệu Kim Loan đang chảy trong suy ngẫm?

Chỉ là một độc giả bình thường, yêu thơ ca và trân quí, nâng niu những tài hoa sáng tạo, còn để phẩm bình về thi ca lại là câu chuyện khác.

Tuy vậy, tôi cứ mạo muội nhờ chút câu chữ nói hộ cảm xúc chân thành, những tri nhận cá nhân tôi khi đọc Đối thoại đêm.

Phía trước tôi đã có “công trình” đầy đặn, giới thiệu tập thơ này. Đó là bài “tựa” công phu ở đầu tập của nhà thơ Bùi Phan Thảo. Cuối tập có “lời bạt” của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã về chùm thơ Đà Lạt. Họ đều sành thơ, tri âm, tri kỷ của chị Loan, họ viết về chị ắt là chí tình, chí thơ!

Đối thoại đêm, như tôi luôn hình dung đâu đó, gần xa, một người nữ thanh xuân, tươi trẻ, lá đang biếc mùa xanh; lại như hiện hữu một cây đời trải qua dông gió dập vùi, những buồn vui, khắc khoải, những nghiệm sinh còn mất; dang dở và khao khát vươn về phía thiện mỹ trần gian. Chân dung người nữ trong thơ đậm sắc màu văn hóa cội nguồn. 

Người nữ ấy đi trên con đường tình yêu. Chị yêu thiên nhiên, yêu quê hương xứ sở, chị yêu người,…

Quê hương nơi chị sinh ra và lớn lên, trong xa cách, tha phương, nỗi đau đáu không cùng. Niềm yêu quê chưa bao giờ vơi cạn, ngủ yên. Nó thao thức, luôn đâm chồi nụ tái sinh, như rong “rêu nảy mầm lối cũ”. Nó xót xa trong thiên họa dập vùi, hình hài quê dấu yêu biến dạng, phận người trồi sụt, nổi nênh, sinh tử, nghèo đói: Nắng òa khóc núi chơ vơ/ Rừng loang lổ cháy suối trơ cạn dòng; Đầu nguồn con sóng mồ côi/ Đục ngầu cuối bãi, phận người lênh đênh (Thương quê). Và dĩ nhiên cả những trong trẻo, yên bình như quê hương nguyên sơ bao đời nay vẫn vậy. Đó là một “trung du lấp lánh” trong thương xa của một người con sống xa quê luôn vọng niệm. Đây là một phố núi thời đèn dầu mà tối “chẳng thắp đèn”; là hình ảnh cái “ngõ hun hút”; là ngọt ngào giọng mẹ ầu ơ theo nhịp võng “nhặt thưa dịu nồng”; là hương hoa cau ngan ngát “đợi nắng thắp sao hôm”: là âm thanh đồng quê quen thuộc bao đời trong “sáo diều cao vút”. Đặc biệt, một miền quê đất cằn sỏi đá vẫn thầm gieo những hạt mầm khỏe khoắn, khao khát hiến dâng, khao khát vươn lên, để một ngày cây trổ hoa, kết trái ngọt ngào cho đời: Khát vọng xanh em giấu dưới cọ mềm / Đồi đá sỏi nghiêng em – ngày trổ biếc (Khát vọng xanh).

Trái tim nghệ sĩ luôn nhạy cảm, vọng động trước những éo le, bất trắc của phận người. Người thơ trong Đối thoại đêm luôn là như thế. Tôi ấn tượng với các thi phẩm chị viết về thân phận người nữ trong tập này: Gánh đàn bà, Khỏa sóng đời, Đừng gió, Mẹ chồng tôi, Bóng mẹ, Nhang khói dẫn đường con… Phải chăng nẻo nữ nhân, đàn bà xưa nay, luôn là những thăm thẳm đa đoan? Họ ngoài đời và trong nghệ thuật nói chung, trong văn chương luôn ám ảnh nghệ sĩ.

Tôi trân quí, sẻ chia cảm thông cái mong manh của người nữ trong Đừng gió. Những chênh chao, xao lòng từ những kỷ niệm đẹp xưa cũ dội về, hay một bóng hình nào đó gặp gỡ giữa đường đời là chuyện không hiếm. Ranh giới giữa đôi bờ hạnh phúc và bất hạnh cũng mong manh yếu ớt như tâm hồn người nữ. Con thuyền chòng chành rồi chìm trong sóng gió hay bình yên quay về bến bờ? Tự cật vấn, tự tình khúc gọi đò, sang đò, người nữ đã bỏ lại những mê dụ khoảnh khắc để con thuyền quay về bến quen, vun trồng cây trái xum xuê vườn nhà. Nghe thì ngỡ như nhẹ tênh mà người trong cuộc vật vã, khắc khoải vượt thoát góc u uẩn, đa đoan chính mình: Em lựa chiều sóng đổ/ Vỗ tròn bờ đa đoan/ Phù sa em ngút ngàn/ Bồi đắp miền chồng vợ/ Hạnh phúc ngàn hoa nở/ Trái chín đầy tay thơm (Đừng gió).

Thơ Triệu Kim Loan luôn là những người nữ lấy vị tha, lấy hy sinh những niềm vui vị kỷ để đổi lấy hạnh phúc cho mọi người. Dù họ là tình nhân, là người vợ hay người mẹ. Nết hạnh truyền thống đó khiến người nữ trong thơ chị nghiêng về chân dung nữ nhân thời xưa, vừa u buồn vừa tội tình, xa xót, vừa cảm phục: Những mùa dài buốt lạnh/ Chị và đêm lưu đày/…, Đêm trăng tàn giã gạo/ Cố quên mình đang xanh…, Vùi đau vào nốt nhớ/ Gió thốc miền trống không (Khỏa sóng đời).

Chị viết về Gánh đàn bà Những người nữ cứ thương khó, tần tảo lặng lẽ trên đời như chẳng sống. Họ như cây mọc lên từ sỏi đá cỗi cằn, không tưới tắm mà tự tươi tốt lạ thường, phi thường. Sức sống ấy được nuôi dưỡng từ đức hy sinh vị tha, tự suối nguồn đạo hạnh trong trẻo nơi dân tộc ngàn đời. Không kỳ vĩ, không trời cao biển rộng, không từ bình yên nhung lụa, người đàn bà trần gian lặn ngập trong những nhọc nhằn gánh nặng mưu sinh cơm áo; họ gánh chồng con trong gắng gỏi tạo dựng đời sống tinh thần, quên thân để đổi nụ cười êm ấm gia đình; họ tự nhuộm đắng đót mình cho ngọt bùi thơm thảo phía người thân; họ quên sống hôm nay vì một đời sống tốt đẹp phía tương lai … Họ tồn tại trong nghĩa lý quên sống. Họ chỉ như cát bụi vô hình. Họ chỉ luôn hao khuyết. Như đôi bờ sông bên lở, bên bồi, phía nữ nhân luôn nhận về bên lở. Bờ bãi bồi tròn đầy, mỡ màu, họ dành tặng chồng con. Viết về giới mình như vậy, thơ chị có nhức nhối những bất nhẫn và những phận bạc dưới trời? Trong nỗi lặng thầm nhẫn nhịn bao dung, ắt chứa những sầu đau cô lẻ! Hóa ra, nước mắt lặn vào trong thì muôn đời vẫn thế. Hồ Xuân Hương xưa, “khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt”, “cô Kiều khóc trên bốn dây ly biệt” khi bán mình chuộc cha. Dù cho nàng dứt tình và “hạ tình” như thế, song đêm trao duyên, chữ tình nức nở, thật bi ai… Gánh đàn bà thời nào cũng vậy! Họ gánh đa đoan trên mảnh thân gầy, đi con đường dằng dặc buồn, xuyên suốt ngàn năm lễ giáo ngặt nghèo. Vẫn một sắc màu thủy chung, lam làm, thương khó, nhẫn nhịn, vị tha mà bước qua vị kỷ: Cơn lốc cuộc đời cuộn xoáy những trái ngang. Người đàn bà tất tả trong khó nhọc mưu sinh…Họ giấu nỗi đau sau những nụ cười… đối diện đêm hàn đón ánh bình minh (Gánh đàn bà).

Viết đến Gánh đàn bà thì dường như, những dáng hình nữ khác trong thơ Triệu Kim Loan giống chồi nhánh chung một gốc. Bởi suy cho cùng, vì một sắc màu yêu thương vị tha vô hạn mà người đàn bà đã quên đi bản thân ở trên đời. Những run rẩy, nồng nàn yêu đương, nỗi nhớ thương đầy vơi hay niềm đau vẫn chỉ nghiêng về phía trống vắng bản thân mình: Em nồng nàn - một ngăn nhớ - riêng anh (Mưa thơm ngày cũ); Cố quên mình đang xanh…/ Vì các con - thôi đành (Khỏa sóng đời).

Người nữ tự tình, tự vui buồn, tự vụn vỡ, tự thấy bẽ bàng, tự đắng đót: Em thương mình buốt gió/ Ngọn nến tàn buốt lệ suốt quanh năm (Dấu chấm hỏi), Dẫu ngày mai trắng tay câu duyên nợ/ Em vẫn mình xa xót. Một hoang xưa (Ngược gió) Xa xót quá/ ngày tình yêu góa bụa/ Tự ru mình sao chua chát / cứ lên ngôi… Một ngày - anh thành khách trọ/ Một ngày đau/ Em vụn vỡ/dưới chân đền (Ngày tình yêu góa bụa).

Và rồi, họ tự chữa lành vết đau, tự đứng lên và tiếp tục kiếm tìm trong đợi chờ hy vọng, khát khao vẫn xanh ngời: Hoa đợi ngày biếc tím/ Bến đợi cánh buồm nâu (Chợ tình), Giữa dòng đời xô lệch / Lòng vẫn nguyên ánh rằm (Ngược mùa), Em qua mùa tuổi chín/ Bão đời trôi phũ phàng/ Hình như còn ủ kín / Nỗi khát tìm mênh mang (Ríu ran mùa).

Tôi đã gặp những người nữ vừa u sầu, vừa khao khát sống như thế trong Đối thoại đêm. Tôi cứ liên tưởng, trong cuộc người giữa trần ai này, những sự tình như thế có gọi tên là mảnh cô đơn trong nhu mềm và cứng cỏi ? Người nữ mềm như cỏ, người nữ vi diệu như nước nhưng trong họ vẫn cất giữ phẩm chất tùng bách để chống chọi, không quị ngã giữa đời, để giữ lửa tình yêu cuộc sống. Âm và dương, mặt trời và mặt trăng, sao hôm và sao mai… tưởng như cơ hồ đối lập mà không thể thiếu khuyết làm nên chân dung thế giới và cuộc sống.

Đối thoại đêm có 50 thi phẩm. Dòng chảy tràn là tình yêu thương con người. Tình yêu lứa đôi nhiều “sóng ở đáy sông”. Thân phận tình yêu gắn với nụ cười và nước mắt, những day trở kiếm tìm cái đẹp và hạnh phúc.

Tôi yêu một hồn thơ nữ nhạy cảm, dịu dàng, tinh tế trước thiên nhiên, gọi ngôn từ họa những hình ảnh đẹp; bông “hoa nắng”, “sắc phượng bung lửa”, “hạt chiều bay”, “vệt nắng tím”, “Sông như võng”, “cải dịu dàng gối ngực triền đê”…“lá trở mình”, “mùi đất trời nồng nã”…

Tôi cũng sẻ chia lối suy tư sâu sắc trong một số liên tưởng so sánh ám ảnh, ấn tượng. Chị ví phận mồ côi như “lá héo bên đường” (Mồ côi); ví vạt hoa cải vàng triền đê như người nữ dịu dàng mềm mại, chút nũng nịu “Cải dịu dàng gối ngực triền đê” (Bùa mê hoa cải); chiếc lá rụng về đất mà vui niềm vui tái sinh trong lặng thầm tận hiến; “Mắt lá hướng lên trời hát khẽ/ Tận hiến mình cho chồi biếc mai sau”… (Mắt lá )…

Những cảnh sắc thiên nhiên luôn được thi sĩ thổi vào đó những đa điệu “tâm hồn” nhờ nhân hóa: “nắng khóc”, “vạt nắng đùa”, “sóng phân vân”, “lá trở mình”, “nắng thương mưa”, “nén nhang trầm thương nhớ đầy vơi, “Hoa đợi ngày biếc tím”…

Tôi nâng niu những thi phẩm đẹp giản dị mà sâu sắc, tứ thơ sáng, dù có khi không hẳn mới, hay sáng tạo. Bởi nó thật rưng rưng, chạm đến nỗi người nhân bản, nhân văn; Gánh đàn bà, Khỏa sóng đời, Mồ côi, Thương quê, Ngày tình yêu góa bụa, Rêu nảy mầm lối cũ, Đừng gió, Chợ tình… Có lẽ, tôi thiên vị cái đẹp cổ điển, giản dị mà sâu sắc thi điệu khúc ca dao quê kiểng!

Độc thoại đêm sẽ thật thú vị, hoàn hảo, giá như một số thi phẩm đã tinh tế, ngôn từ đẹp, song, độc giả muốn nhận diện tứ thơ sáng hơn, cách viết bớt đi chút cầu kỳ, tập trung hơn. Mặc dù, ở những sáng tác đó, nhan đề mách bảo khá rõ: (Ngày em đến, Chiều xanh gió, Giấc mơ em,..). Nhưng, mơ ước luôn là cái đẹp để ta vươn tới hoàn thiện. Từ Khoảng lặng, Suy tư chiều, Khát vọng xanh đến Đối thoại đêm, nhà thơ Triệu Kim Loan đã đi qua chính mình, suy tư sâu lắng hơn, ngày càng tinh tế. Chúng ta mong qua Đối thoại đêm, người thơ Triệu Kim Loan luôn đến được, có được những bình minh, đam mê sáng tạo trên con đường chị đang đi tới nhiều ánh sáng.

  Viết tại miền Kinh Bắc, mùa heo may Quý Mão.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm