TIN TỨC

Nhà thơ Thanh Thảo… Nghĩ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-08 23:53:38
mail facebook google pos stwis
2383 lượt xem

Bây giờ, khi đã ngấp nghé tuổi tám mươi, tôi mới nhận ra, khi mình càng về già thì thời gian trôi càng nhanh. Và thời gian là thứ mình không thể khắc chế được. Việc hôm nay chớ để ngày mai mới làm, vì có khi không kịp.

Bằng công việc hàng ngày, nếu mình phân phối hợp lý, để không quá căng hay quá chùng, thì dù không thể chế ngự được thời gian, nhưng sẽ tạo ra được những khoảng thời gian có ích. Thời gian có ích trong một ngày, có khi ngắn có khi dài hơn một chút, nhưng đã có ích thì thời gian ấy tương thích với đồng hồ sinh học của mình. Thời gian có ích là thời gian có thể đo được bằng đồng hồ sinh học, không phải đo bằng đồng hồ Liên Xô hay đồng hồ Thụy Sĩ để nói đồng hồ nào tốt hơn… Chúng ta có thể ngây thơ hay dày dạn, còn thời gian thì không. Đó là một đại lượng bình thản nhất.

Nhà thơ Thanh Thảo

Nghĩ về bản thân

Có một câu danh ngôn của nhà văn vĩ đại Jack London (Mỹ) cứ ám ảnh tôi mãi. Câu danh ngôn ấy như thế này: “Tôi không sống vì điều mà thế giới nghĩ về tôi, nhưng vì điều mà tôi nghĩ về bản thân mình” (I do not live for what the world thinks of me, but for what I think of myself). Câu châm ngôn ấy được viết bằng thứ tiếng Anh thật giản dị, đúng phong cách Jack London, mà một người không biết tiếng Anh như tôi đọc cũng hiểu được. Nhưng nó lại không hề là một câu nói dễ dãi.

Chúng ta nghĩ về bản thân mình như thế nào, trong cuộc đời này?

Câu trả lời không đơn giản, vì hình như không ai nghĩ giống ai về bản thân mình. Chưa kể, có nhiều người chẳng bao giờ nghĩ về bản thân mình cả, trong khi họ vẫn là người rất tốt. Nghĩ về bản thân mình cũng có nhiều kiểu nghĩ. Có khi là nghĩ để tự vấn, có khi nghĩ để tự động viên mình, có khi nghĩ để tìm cách “phấn đấu” vươn lên, có khi nghĩ chỉ vì đơn giản có kẻ nói xấu mình, dè bỉu mình… Còn nghĩ vì uất ức thấy người khác hơn mình cũng là cách nghĩ thường tình, có điều, nó không mang lợi ích gì cho người nghĩ, nhưng có thể mang lại tai họa nếu nghĩ không tới, nghĩ dại dột.

Nhưng sống vì điều mình nghĩ về bản thân, là cách sống bình thản mà đầy nội lực, sống “ăn chịu” khi dám mang chính mình công khai trước thế giới. Công khai những cái tốt, công khai những cái xấu, công khai khát vọng cũng như những giây phút tuyệt vọng của bản thân mình… Đó là cách sống độ lượng với người đời, độ lượng với thế giới, nhưng lại tự hiểu bản thân mình, để không đến nỗi cực đoan bắt bản thân phải làm những điều không thể làm được. Nghĩa là biết độ lượng với chính bản thân mình.

Tôi chỉ nghĩ về bản thân mình khi làm thơ. Làm thơ là một hành động tự tìm tự hiểu tự soi rọi vào bản thân hay bản thể của mình, không có gì tỏ ra quá đáng nhưng cũng không tránh né nhiều lắm khi trình bày những suy nghĩ của mình, về chính mình hay về cuộc đời mình sống. Tôi nói “không tránh né nhiều lắm”, nghĩa là có tránh né. Trừ những người dối trá, còn người thật thà bao giờ cũng công nhận trong cuộc sống, mình cũng phải tránh né nhiều chuyện lắm.

Có những chuyện nhỏ thôi, nhưng vì lý do này lý do khác mình cũng phải tránh né, hoặc chỉ nói “nửa cái bánh mỳ”, mà theo ngạn ngữ Nga, nếu tôi nhớ không nhầm, thì “nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ”, còn “nửa sự thật” mới “không phải là sự thật”. Bánh mỳ với sự thật là hai thực thể khác nhau, dù có thể giống nhau là cùng hiện hữu. Nhưng nửa cái bánh mỳ vẫn ăn được, thậm chỉ một mẩu bánh mỳ trong thành phố Leningad bị phát xít Đức phong tỏa 900 ngày là một báu vật với những người dân đang đói. Nhưng sự thật thì khác. Nếu ta cứ “rỉ” sự thật cho người dân, như kiểu nước máy chảy nhỏ giọt khi người ta đang thiếu nước dùng, thì một là sự thật chúng ta biết chỉ có ngần ấy, hoặc ta chỉ muốn “rỉ” ra ngần ấy cho người đang khát, trong khi ta có cả bể nước, thì hai cái ấy là khác nhau đấy.

Nghĩ về bản thân mình, như Jack London đã nghĩ, là để kiên định con đường mình đã chọn, bất kể cả thế giới nghĩ về mình thế nào. Đó là sự kiên định chân lý mà mình nghĩ đã sở đắc. Mình thấu hiểu nó bằng toàn bộ con người mình, cuộc đời mình. Mình kiên định với sự lựa chọn của mình, vì tin nó đúng. Tôi khâm phục những con người như vậy, kể cả khi lựa chọn của họ là sai. Có thể là sai với số đông, nhưng đúng với họ.

Có 4 câu thơ của Jack London, tôi đã ghi vào trang đầu một cuốn sổ tay của mình, từ tháng 6 năm 1975, ngày mới chấm dứt chiến tranh. Đoạn thơ ấy, không biết dịch giả là ai, nhưng là đoạn thơ đề từ cho một cuốn sách của Jack London:

“Điều này còn lại với đời/ Những người đã sống những/ người đấu tranh/ Họ giành thắng lợi bao lần/ Dù vàng đặt cược dần dần/ mất đi”.

Nói “giành thắng lợi bao lần” là một cách nói lạc quan “kiểu Jack London”, trong thực tế chưa chắc đã được như vậy. Nhưng nói “Dù vàng đặt cược dần dần mất đi” là chính xác, vì trong cuộc chơi ấy, dù thua dù thắng, thì “vàng đặt cược” chính là cuộc đời mình, những gì quí báu nhất của mình, cũng dần “đội nón ra đi”. Nhưng mình không hối tiếc. Chẳng bao giờ hối tiếc.

Nghĩ về thơ

Thế hệ thơ chúng tôi hồi ấy có một điểm xuất phát chung: làm thơ như một hành động sống, một hành động thơ. Như một tỏ bày, tỏ bày thơ. Như một tình yêu: yêu đất nước mình, yêu nhân dân mình, yêu mẹ mình. Một tình yêu trong vắt, không hề biết tính toán. “Yêu Tổ quốc là một điều nghiêm trọng”, chúng tôi thường đọc cho chính mình nghe câu thơ ấy của một nhà thơ Tây Ban Nha.

May mắn thay, bây giờ, sau bao nhiêu năm, tôi vẫn còn giữ được cho mình tình yêu ấy.

Hoá ra, Saddam Hussein trước khi chết dưới giá treo cổ cũng… làm thơ. Đến một anh độc tài vốn coi thơ và nhà thơ chả là cái đinh gì, rồi cuối cùng, khi tuyệt vọng nhất, cũng chỉ biết lấy thơ làm bạn.

Nhiều lúc lẩn thẩn tự nghĩ: nếu không có thơ, mình sẽ có gì. Nếu không làm thơ, mình sẽ làm gì. Câu trả lời chắc không khó, nhưng có lẽ không bao giờ tôi tự trả lời được.

Cứ nghĩ như thế, đã cảm thấy yên lòng. Thơ không mang lại cho mình tiền bạc, danh vọng, chức tước gì, nhưng nó mang lại cho mình… Thơ. Thế thôi.

Tuổi trẻ, tự nó, đã thấm đẫm thơ. Thơ dành cho mọi lứa tuổi, nhưng bao giờ tuổi trẻ cũng được hưởng phần đẹp nhất, tươi rói nhất của thơ. Trẻ mà không làm thơ là uổng lắm!

Nhưng thơ lại không dành cho người háo danh. Thiếu gì cách để nổi tiếng, mà phải víu đến thơ! Hãy để cho thơ được tĩnh lặng, và càng cách xa bao nhiêu càng tốt những tính toán xô bồ, chi li, thê thiết.

Lúc nào không làm được thơ thì thôi, đừng cố. Ăn cố hay uống cố cũng mệt, nữa là làm thơ cố.

Tôi nghĩ, bắt đầu từ thế hệ 8X, 9X, rồi sang thế hệ Z, một chương mới của con người Việt Nam đã được mở, không chỉ trong thơ hay trong văn học. Mọi lĩnh vực của đời sống bắt đầu thay đổi từ chính những thế hệ này. Họ khác thế hệ 4X, 5X chúng tôi, và đó là hồng phúc cho dân tộc Việt.

Tôi chỉ là một người làm thơ hồn nhiên, làm thơ vì thích, vì có thể không biết làm gì khác (ngoài làm báo, như một nghề kiếm sống). Thời còn học đại học, có lúc tôi nghĩ không biết sau này mình làm được gì… May quá, mấy anh em bạn bè học cùng lớp chơi thân với nhau, và “chém gió” với nhau rằng chúng mình phải viết văn, làm thơ, phải thành một nhóm sáng tác như các cụ ta ngày trước. Và muốn thế, phải đi rừng lấy nứa về bán cho các thầy làm chuồng gà, đặng có ít tiền mua trà Thái Nguyên (hồi sơ tán ấy chúng tôi học ở một làng sát chân núi thuộc huyện Đại Từ, Thái Nguyên). Mua trà uống, thức đêm bàn luận văn chương với nhau, đọc sách cùng nhau, đọc những gì mình mới “sáng tác” được cho nhau nghe, rồi lắng nghe bạn mình góp ý… Chúng tôi hồi đó là vậy, ngây thơ lắm, mà thơ viết ra cũng ngây ngơ lắm. Tôi nghĩ, như thế mới là tập làm thơ, mới là thơ trẻ đúng nghĩa là còn trẻ con, còn ngây thơ.

Sau khi ra trường, dòng sống cuốn chúng tôi mỗi người đi mỗi ngả. Có những bạn tôi không làm thơ hay viết văn nữa, nhưng lại thành đạt ở lĩnh vực khác, như ở nghề dạy học, nghề công chức, hay nghề bốc thuốc cứu nhân độ thế. Làm nghề gì cũng được, miễn là lương thiện. Nhưng không biết vào lúc nào, mấy người bạn cũ của tôi có nhớ một thời mình đã từng nuôi khát vọng làm thơ hay viết văn? Có khi nhớ chỉ để mà nhớ, sau một cái lắc đầu, lại quên.

Nhưng thơ vẫn sống trong tâm hồn một số người bạn tôi thuở còn đi học. Trong đó có tôi.

Và bây giờ, già rồi, tôi vẫn làm thơ. Dù chỉ là nhà thơ hồn nhiên hoang dại, chẳng phải “lão thành” gì.

Có một thứ mình không thể khắc chế được

Bây giờ, khi đã ngấp nghé tuổi tám mươi, tôi mới nhận ra, khi mình càng về già thì thời gian trôi càng nhanh. Và thời gian là thứ mình không thể khắc chế được. Việc hôm nay chớ để ngày mai mới làm, vì có khi không kịp. Bằng công việc hàng ngày, nếu mình phân phối hợp lý, để không quá căng hay quá chùng, thì dù không thể chế ngự được thời gian, nhưng sẽ tạo ra được những khoảng thời gian có ích. Thời gian có ích trong một ngày, có khi ngắn có khi dài hơn một chút, nhưng đã có ích thì thời gian ấy tương thích với đồng hồ sinh học của mình. Thời gian có ích là thời gian có thể đo được bằng đồng hồ sinh học, không phải đo bằng đồng hồ Liên Xô hay đồng hồ Thụy Sĩ để nói đồng hồ nào tốt hơn… Chúng ta có thể ngây thơ hay dày dạn, còn thời gian thì không. Đó là một đại lượng bình thản nhất.

Ngày còn trẻ, tôi làm việc theo cảm hứng, còn đi chơi theo thói quen. Đó là khi tôi chỉ sáng tác thơ, dù là thơ ngắn hay trường ca. Có lẽ kiểu sử dụng thời gian như thế hợp với người sáng tác, nhưng không hợp với người làm báo. Viết báo lại đòi hỏi phải sử dụng thời gian theo kiểu khác, và ai cũng biết trong nghề báo có một quy định thắt ngặt gọi là deadline (thời hạn chót). Viết báo, luôn luôn có từ deadline để trước mặt. Còn sáng tác thì không. Lúc nào xong thì xong thôi. Một bài thơ hay một truyện ngắn người ta có thể viết trong vài giờ đồng hồ, lại có thể viết trong vài năm mới xong. Không ai cho đó là chậm hay nhanh cả. Còn viết một bài báo khi có chữ deadline đặt trước mặt, thì phải viết xong và gửi cho tòa soạn đúng thời hạn, tốt nhất là trước deadline một chút để tòa soạn còn thời gian xử lý.

Như vậy, với người sáng tác văn học và người viết báo lại có hai cách đo thời gian khác nhau? Đúng như vậy. Không phải đo bằng hai đồng hồ khác nhau, nhưng hai cách mà thời gian tác động đến ta khi không có sự thúc bách và khi có sự thúc bách quả là khác nhau.

Tôi thì vừa viết báo vừa làm thơ, lúc nào viết được thứ nào thì viết, nhưng viết báo thì được ưu tiên hơn vì không theo cảm hứng, còn làm thơ thì phải có xúc cảm, có cảm hứng mới làm được, nên hai loại thời gian dành cho hai “thể loại” này vẫn khác nhau.

Nhưng, chính trong những lúc viết những bài báo, tôi lại phát hiện ra một điều hơi lạ, là mình viết báo cũng có… cảm hứng, dù cảm hứng ấy không phải để bài báo giống bài thơ, ngược lại, báo vẫn là báo mà thơ vẫn là thơ, nhưng khi có cảm hứng, thì viết báo thấy nhanh hơn, và trong bài viết, có thể có những đoạn văn xuất thần hơn. Viết báo cũng cần cảm hứng là vậy. Dĩ nhiên, viết báo thì cần tư liệu, còn làm thơ, nhất là thơ ngắn, thì không cần. Nhưng nếu anh viết trường ca, mà không chuẩn bị tài liệu, vốn sống, thực tế, hình dung cấu trúc tác phẩm, thì coi như anh chưa viết.

Tôi đã viết nhiều bài thơ ngắn, viết cũng khá nhiều trường ca, viết còn nhiều hơn những bài báo, nên tự nhiên tôi thấy có sự gắn bó khá mật thiết nào đó giữa báo và thơ.

Một nhà thơ viết báo, có vẻ dễ dàng hơn một nhà tiểu thuyết viết báo?

Tôi nghĩ, cũng chưa chắc.

Nhà văn hay nhà thơ không thể khắc chế được thời gian, nhưng có thể khiến thời gian trôi nhanh hơn hay trôi chậm hơn, khi mình đọc những trang viết của họ. Miễn là họ viết thật lòng, viết hết lòng, và chỉ viết khi có những thôi thúc từ bên trong.

Viết một bài báo thời sự chính trị, vẫn rất cần sự thôi thúc từ bên trong ấy, chứ không chỉ làm thơ hay viết văn xuôi mới cần.

THANH THẢO

Văn Nghệ số 39/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm