TIN TỨC

Nhà thơ Thanh Thảo… Nghĩ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-08 23:53:58
mail facebook google pos stwis
257 lượt xem

Bây giờ, khi đã ngấp nghé tuổi tám mươi, tôi mới nhận ra, khi mình càng về già thì thời gian trôi càng nhanh. Và thời gian là thứ mình không thể khắc chế được. Việc hôm nay chớ để ngày mai mới làm, vì có khi không kịp.

Bằng công việc hàng ngày, nếu mình phân phối hợp lý, để không quá căng hay quá chùng, thì dù không thể chế ngự được thời gian, nhưng sẽ tạo ra được những khoảng thời gian có ích. Thời gian có ích trong một ngày, có khi ngắn có khi dài hơn một chút, nhưng đã có ích thì thời gian ấy tương thích với đồng hồ sinh học của mình. Thời gian có ích là thời gian có thể đo được bằng đồng hồ sinh học, không phải đo bằng đồng hồ Liên Xô hay đồng hồ Thụy Sĩ để nói đồng hồ nào tốt hơn… Chúng ta có thể ngây thơ hay dày dạn, còn thời gian thì không. Đó là một đại lượng bình thản nhất.

Nhà thơ Thanh Thảo

Nghĩ về bản thân

Có một câu danh ngôn của nhà văn vĩ đại Jack London (Mỹ) cứ ám ảnh tôi mãi. Câu danh ngôn ấy như thế này: “Tôi không sống vì điều mà thế giới nghĩ về tôi, nhưng vì điều mà tôi nghĩ về bản thân mình” (I do not live for what the world thinks of me, but for what I think of myself). Câu châm ngôn ấy được viết bằng thứ tiếng Anh thật giản dị, đúng phong cách Jack London, mà một người không biết tiếng Anh như tôi đọc cũng hiểu được. Nhưng nó lại không hề là một câu nói dễ dãi.

Chúng ta nghĩ về bản thân mình như thế nào, trong cuộc đời này?

Câu trả lời không đơn giản, vì hình như không ai nghĩ giống ai về bản thân mình. Chưa kể, có nhiều người chẳng bao giờ nghĩ về bản thân mình cả, trong khi họ vẫn là người rất tốt. Nghĩ về bản thân mình cũng có nhiều kiểu nghĩ. Có khi là nghĩ để tự vấn, có khi nghĩ để tự động viên mình, có khi nghĩ để tìm cách “phấn đấu” vươn lên, có khi nghĩ chỉ vì đơn giản có kẻ nói xấu mình, dè bỉu mình… Còn nghĩ vì uất ức thấy người khác hơn mình cũng là cách nghĩ thường tình, có điều, nó không mang lợi ích gì cho người nghĩ, nhưng có thể mang lại tai họa nếu nghĩ không tới, nghĩ dại dột.

Nhưng sống vì điều mình nghĩ về bản thân, là cách sống bình thản mà đầy nội lực, sống “ăn chịu” khi dám mang chính mình công khai trước thế giới. Công khai những cái tốt, công khai những cái xấu, công khai khát vọng cũng như những giây phút tuyệt vọng của bản thân mình… Đó là cách sống độ lượng với người đời, độ lượng với thế giới, nhưng lại tự hiểu bản thân mình, để không đến nỗi cực đoan bắt bản thân phải làm những điều không thể làm được. Nghĩa là biết độ lượng với chính bản thân mình.

Tôi chỉ nghĩ về bản thân mình khi làm thơ. Làm thơ là một hành động tự tìm tự hiểu tự soi rọi vào bản thân hay bản thể của mình, không có gì tỏ ra quá đáng nhưng cũng không tránh né nhiều lắm khi trình bày những suy nghĩ của mình, về chính mình hay về cuộc đời mình sống. Tôi nói “không tránh né nhiều lắm”, nghĩa là có tránh né. Trừ những người dối trá, còn người thật thà bao giờ cũng công nhận trong cuộc sống, mình cũng phải tránh né nhiều chuyện lắm.

Có những chuyện nhỏ thôi, nhưng vì lý do này lý do khác mình cũng phải tránh né, hoặc chỉ nói “nửa cái bánh mỳ”, mà theo ngạn ngữ Nga, nếu tôi nhớ không nhầm, thì “nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ”, còn “nửa sự thật” mới “không phải là sự thật”. Bánh mỳ với sự thật là hai thực thể khác nhau, dù có thể giống nhau là cùng hiện hữu. Nhưng nửa cái bánh mỳ vẫn ăn được, thậm chỉ một mẩu bánh mỳ trong thành phố Leningad bị phát xít Đức phong tỏa 900 ngày là một báu vật với những người dân đang đói. Nhưng sự thật thì khác. Nếu ta cứ “rỉ” sự thật cho người dân, như kiểu nước máy chảy nhỏ giọt khi người ta đang thiếu nước dùng, thì một là sự thật chúng ta biết chỉ có ngần ấy, hoặc ta chỉ muốn “rỉ” ra ngần ấy cho người đang khát, trong khi ta có cả bể nước, thì hai cái ấy là khác nhau đấy.

Nghĩ về bản thân mình, như Jack London đã nghĩ, là để kiên định con đường mình đã chọn, bất kể cả thế giới nghĩ về mình thế nào. Đó là sự kiên định chân lý mà mình nghĩ đã sở đắc. Mình thấu hiểu nó bằng toàn bộ con người mình, cuộc đời mình. Mình kiên định với sự lựa chọn của mình, vì tin nó đúng. Tôi khâm phục những con người như vậy, kể cả khi lựa chọn của họ là sai. Có thể là sai với số đông, nhưng đúng với họ.

Có 4 câu thơ của Jack London, tôi đã ghi vào trang đầu một cuốn sổ tay của mình, từ tháng 6 năm 1975, ngày mới chấm dứt chiến tranh. Đoạn thơ ấy, không biết dịch giả là ai, nhưng là đoạn thơ đề từ cho một cuốn sách của Jack London:

“Điều này còn lại với đời/ Những người đã sống những/ người đấu tranh/ Họ giành thắng lợi bao lần/ Dù vàng đặt cược dần dần/ mất đi”.

Nói “giành thắng lợi bao lần” là một cách nói lạc quan “kiểu Jack London”, trong thực tế chưa chắc đã được như vậy. Nhưng nói “Dù vàng đặt cược dần dần mất đi” là chính xác, vì trong cuộc chơi ấy, dù thua dù thắng, thì “vàng đặt cược” chính là cuộc đời mình, những gì quí báu nhất của mình, cũng dần “đội nón ra đi”. Nhưng mình không hối tiếc. Chẳng bao giờ hối tiếc.

Nghĩ về thơ

Thế hệ thơ chúng tôi hồi ấy có một điểm xuất phát chung: làm thơ như một hành động sống, một hành động thơ. Như một tỏ bày, tỏ bày thơ. Như một tình yêu: yêu đất nước mình, yêu nhân dân mình, yêu mẹ mình. Một tình yêu trong vắt, không hề biết tính toán. “Yêu Tổ quốc là một điều nghiêm trọng”, chúng tôi thường đọc cho chính mình nghe câu thơ ấy của một nhà thơ Tây Ban Nha.

May mắn thay, bây giờ, sau bao nhiêu năm, tôi vẫn còn giữ được cho mình tình yêu ấy.

Hoá ra, Saddam Hussein trước khi chết dưới giá treo cổ cũng… làm thơ. Đến một anh độc tài vốn coi thơ và nhà thơ chả là cái đinh gì, rồi cuối cùng, khi tuyệt vọng nhất, cũng chỉ biết lấy thơ làm bạn.

Nhiều lúc lẩn thẩn tự nghĩ: nếu không có thơ, mình sẽ có gì. Nếu không làm thơ, mình sẽ làm gì. Câu trả lời chắc không khó, nhưng có lẽ không bao giờ tôi tự trả lời được.

Cứ nghĩ như thế, đã cảm thấy yên lòng. Thơ không mang lại cho mình tiền bạc, danh vọng, chức tước gì, nhưng nó mang lại cho mình… Thơ. Thế thôi.

Tuổi trẻ, tự nó, đã thấm đẫm thơ. Thơ dành cho mọi lứa tuổi, nhưng bao giờ tuổi trẻ cũng được hưởng phần đẹp nhất, tươi rói nhất của thơ. Trẻ mà không làm thơ là uổng lắm!

Nhưng thơ lại không dành cho người háo danh. Thiếu gì cách để nổi tiếng, mà phải víu đến thơ! Hãy để cho thơ được tĩnh lặng, và càng cách xa bao nhiêu càng tốt những tính toán xô bồ, chi li, thê thiết.

Lúc nào không làm được thơ thì thôi, đừng cố. Ăn cố hay uống cố cũng mệt, nữa là làm thơ cố.

Tôi nghĩ, bắt đầu từ thế hệ 8X, 9X, rồi sang thế hệ Z, một chương mới của con người Việt Nam đã được mở, không chỉ trong thơ hay trong văn học. Mọi lĩnh vực của đời sống bắt đầu thay đổi từ chính những thế hệ này. Họ khác thế hệ 4X, 5X chúng tôi, và đó là hồng phúc cho dân tộc Việt.

Tôi chỉ là một người làm thơ hồn nhiên, làm thơ vì thích, vì có thể không biết làm gì khác (ngoài làm báo, như một nghề kiếm sống). Thời còn học đại học, có lúc tôi nghĩ không biết sau này mình làm được gì… May quá, mấy anh em bạn bè học cùng lớp chơi thân với nhau, và “chém gió” với nhau rằng chúng mình phải viết văn, làm thơ, phải thành một nhóm sáng tác như các cụ ta ngày trước. Và muốn thế, phải đi rừng lấy nứa về bán cho các thầy làm chuồng gà, đặng có ít tiền mua trà Thái Nguyên (hồi sơ tán ấy chúng tôi học ở một làng sát chân núi thuộc huyện Đại Từ, Thái Nguyên). Mua trà uống, thức đêm bàn luận văn chương với nhau, đọc sách cùng nhau, đọc những gì mình mới “sáng tác” được cho nhau nghe, rồi lắng nghe bạn mình góp ý… Chúng tôi hồi đó là vậy, ngây thơ lắm, mà thơ viết ra cũng ngây ngơ lắm. Tôi nghĩ, như thế mới là tập làm thơ, mới là thơ trẻ đúng nghĩa là còn trẻ con, còn ngây thơ.

Sau khi ra trường, dòng sống cuốn chúng tôi mỗi người đi mỗi ngả. Có những bạn tôi không làm thơ hay viết văn nữa, nhưng lại thành đạt ở lĩnh vực khác, như ở nghề dạy học, nghề công chức, hay nghề bốc thuốc cứu nhân độ thế. Làm nghề gì cũng được, miễn là lương thiện. Nhưng không biết vào lúc nào, mấy người bạn cũ của tôi có nhớ một thời mình đã từng nuôi khát vọng làm thơ hay viết văn? Có khi nhớ chỉ để mà nhớ, sau một cái lắc đầu, lại quên.

Nhưng thơ vẫn sống trong tâm hồn một số người bạn tôi thuở còn đi học. Trong đó có tôi.

Và bây giờ, già rồi, tôi vẫn làm thơ. Dù chỉ là nhà thơ hồn nhiên hoang dại, chẳng phải “lão thành” gì.

Có một thứ mình không thể khắc chế được

Bây giờ, khi đã ngấp nghé tuổi tám mươi, tôi mới nhận ra, khi mình càng về già thì thời gian trôi càng nhanh. Và thời gian là thứ mình không thể khắc chế được. Việc hôm nay chớ để ngày mai mới làm, vì có khi không kịp. Bằng công việc hàng ngày, nếu mình phân phối hợp lý, để không quá căng hay quá chùng, thì dù không thể chế ngự được thời gian, nhưng sẽ tạo ra được những khoảng thời gian có ích. Thời gian có ích trong một ngày, có khi ngắn có khi dài hơn một chút, nhưng đã có ích thì thời gian ấy tương thích với đồng hồ sinh học của mình. Thời gian có ích là thời gian có thể đo được bằng đồng hồ sinh học, không phải đo bằng đồng hồ Liên Xô hay đồng hồ Thụy Sĩ để nói đồng hồ nào tốt hơn… Chúng ta có thể ngây thơ hay dày dạn, còn thời gian thì không. Đó là một đại lượng bình thản nhất.

Ngày còn trẻ, tôi làm việc theo cảm hứng, còn đi chơi theo thói quen. Đó là khi tôi chỉ sáng tác thơ, dù là thơ ngắn hay trường ca. Có lẽ kiểu sử dụng thời gian như thế hợp với người sáng tác, nhưng không hợp với người làm báo. Viết báo lại đòi hỏi phải sử dụng thời gian theo kiểu khác, và ai cũng biết trong nghề báo có một quy định thắt ngặt gọi là deadline (thời hạn chót). Viết báo, luôn luôn có từ deadline để trước mặt. Còn sáng tác thì không. Lúc nào xong thì xong thôi. Một bài thơ hay một truyện ngắn người ta có thể viết trong vài giờ đồng hồ, lại có thể viết trong vài năm mới xong. Không ai cho đó là chậm hay nhanh cả. Còn viết một bài báo khi có chữ deadline đặt trước mặt, thì phải viết xong và gửi cho tòa soạn đúng thời hạn, tốt nhất là trước deadline một chút để tòa soạn còn thời gian xử lý.

Như vậy, với người sáng tác văn học và người viết báo lại có hai cách đo thời gian khác nhau? Đúng như vậy. Không phải đo bằng hai đồng hồ khác nhau, nhưng hai cách mà thời gian tác động đến ta khi không có sự thúc bách và khi có sự thúc bách quả là khác nhau.

Tôi thì vừa viết báo vừa làm thơ, lúc nào viết được thứ nào thì viết, nhưng viết báo thì được ưu tiên hơn vì không theo cảm hứng, còn làm thơ thì phải có xúc cảm, có cảm hứng mới làm được, nên hai loại thời gian dành cho hai “thể loại” này vẫn khác nhau.

Nhưng, chính trong những lúc viết những bài báo, tôi lại phát hiện ra một điều hơi lạ, là mình viết báo cũng có… cảm hứng, dù cảm hứng ấy không phải để bài báo giống bài thơ, ngược lại, báo vẫn là báo mà thơ vẫn là thơ, nhưng khi có cảm hứng, thì viết báo thấy nhanh hơn, và trong bài viết, có thể có những đoạn văn xuất thần hơn. Viết báo cũng cần cảm hứng là vậy. Dĩ nhiên, viết báo thì cần tư liệu, còn làm thơ, nhất là thơ ngắn, thì không cần. Nhưng nếu anh viết trường ca, mà không chuẩn bị tài liệu, vốn sống, thực tế, hình dung cấu trúc tác phẩm, thì coi như anh chưa viết.

Tôi đã viết nhiều bài thơ ngắn, viết cũng khá nhiều trường ca, viết còn nhiều hơn những bài báo, nên tự nhiên tôi thấy có sự gắn bó khá mật thiết nào đó giữa báo và thơ.

Một nhà thơ viết báo, có vẻ dễ dàng hơn một nhà tiểu thuyết viết báo?

Tôi nghĩ, cũng chưa chắc.

Nhà văn hay nhà thơ không thể khắc chế được thời gian, nhưng có thể khiến thời gian trôi nhanh hơn hay trôi chậm hơn, khi mình đọc những trang viết của họ. Miễn là họ viết thật lòng, viết hết lòng, và chỉ viết khi có những thôi thúc từ bên trong.

Viết một bài báo thời sự chính trị, vẫn rất cần sự thôi thúc từ bên trong ấy, chứ không chỉ làm thơ hay viết văn xuôi mới cần.

THANH THẢO

Văn Nghệ số 39/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nỗi lòng Huyền Trân - Tản văn Nguyễn Linh Giang
Trên đường thiên lý Bắc- Nam, đoạn Quốc lộ 1 giao nhau với Quốc lộ 9 đi về hướng Cửa Việt (tỉnh Quảng Trị), có một bảng chỉ dẫn: “Miếu thờ bà Huyền Trân Công Chúa 500 mét”.
Xem thêm
Thầy tôi - Kho báu của tôi
PGS Chu Xuân Diên thuộc thế hệ những nhà nghiên cứu tiếp thu lý thuyết thế giới qua con đường tiếng Nga và tiếng Pháp. Thầy đã tham gia dịch những công trình kinh điển về folklore học mà đặc biệt phải kể đến bộ sách 2 tập rất dày dặn là Tuyển tập V. Ia. Propp - giới thiệu gần như đầy đủ trước tác của một tác giả quan trọng hàng đầu của trường phái Hình thức Nga và nghiên cứu folklore
Xem thêm
“Cú hattrick” của nhà thơ Triệu Kim Loan
Nhà thơ Triệu Kim Loan sẽ ra mắt độc giả ba quyển sách (hai tập thơ: Khát vọng xanh, Đối thoại đêm và quyển Cảm nhận văn chương)
Xem thêm
Đất có thổ công - Tản văn Nguyễn Linh Giang
Nhà văn Nguyễn Linh Giang quê quán tỉnh Quảng Trị, sinh sống và làm việc 30 năm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội viên Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh năm 2022. Nguyễn Linh Giang vừa xuất bản tập tản văn: “Sông vẫn chảy đời sông” (NXB Thanh niên, 2023). Về tập tản văn này, nhà văn Lê Minh Quốc trong “Tựa” viết cho tập sách đã viết: “Dám nói rằng, con người và vùng đất của mỗi địa phương đều đóng góp cho bộ sử của cả nước đầy đặn hơn, phong phú hơn. Mỗi khi chúng ta nói đến lịch sử một dân tộc là cần hiểu rộng hơn bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán, ẩm thực, v.v… của nhiều vùng đất khác gộp lại. Vì lẽ đó, những quyển sách về đề tài này, bao giờ cũng cần thiết, Nếu khi đọc xong, bạn đọc gật gù, tâm đắc: “À, ước chi có dịp đến nơi ấy một lần nhỉ?”. Được thế. Nhà văn đã thành công. “Sông vẫn chảy đời sông” của Nguyễn Linh Giang là một trong những tập tản văn như thế”.Văn chương TP.Hồ Chí Minh xin giới thiệu tản văn Đất có thổ công được rút từ tập “Sông vẫn chảy đời sông” của nhà văn Nguyễn Linh Giang.
Xem thêm
Em đi tát nước… Tản văn của Nguyễn Linh Giang
Tôi lớn lên, vào những năm sau 1975, ruộng đồng vào mùa khô vẫn phải chống hạn bằng xe đạp nước. Có lần, được ngồi xe đạp nước đêm trăng cùng với cô bạn gái tôi mới biết giọt mồ hôi trên sợi tóc mai cùa cô thôn nữ vừa nghe mằn mặn vừa nồng ngầy ngậy, khó tả. Qua bao mùa trăng, tôi vẫn còn mơ được đi tát nước: “Hôm qua trăng sáng tờ mờ/ Em đi tát nước tình cờ gặp anh” (Ca dao).
Xem thêm
Dọc thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông – Ký của Thanh Thảo
Năm 1973, khi tôi từ chiến trường Nam Lộ Bốn (Mỹ Tho) trở về lại cơ quan binh vận ở R, tôi rất phấn khởi vì cơ quan tôi đã dời về đất Tây Ninh, đóng căn cứ ở Bến Tháp ngay sát sông Vàm Cỏ Đông. Đoạn sông này là biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Campuchia, cũng là thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông. Từ Mỹ Tho, trước khi băng qua đồng Tháp Mười lên chiến khu, chúng tôi đã vượt qua sông Vàm Cỏ Tây, bây giờ lại được ở sát sông Vàm Cỏ Đông, thật thú vị.
Xem thêm
Đỗ Nam Cao - Cô đơn và khắc khoải 
Những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng tôi cùng sống và chiến đấu trên chiến trường Miền Đông gian lao mà anh dũng. Nhà thơ Đỗ Nam Cao công tác ở Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, còn tôi là lính chiến thuộc Công trường 5 (Sư đoàn 5). Rừng Miền Đông bạt ngàn, bom đạn tàn phá, chất độc hóa học trắng rừng, nhưng chúng tôi thường xuyên gặp nhau qua Đài Phát thanh Giải phóng và chương trình Phát thanh Quân Giải phóng miền Nam. Đôi khi, hành quân giữa khuya, nghe đọc bài hoặc ngâm thơ Đỗ Nam Cao trong chương trình văn nghệ, tiếp sức cho cánh lính trẻ chúng tôi xông lên phía trước.
Xem thêm
Nghệ sĩ Bảo Anh đang trên đường trở về quê nhà
“Một đám rước”, dường như có những tương đồng với “đám rước” khi thân xác nghệ sĩ Bảo Anh được trở về quê nhà, về U Minh, Cà Mau, nơi chôn nhau cắt rốn của anh.
Xem thêm
Vũ Quần Phương tiết lộ chuyện đặc biệt về Xuân Diệu, Chế Lan Viên
Nhà thơ Vũ Quần Phương nhớ lại ký ức về những nhà thơ, nhà văn lão thành như Chế Lan Viên, Tố Hữu, Nguyễn Tuân… thế hệ đàn anh – những người đã “lót ổ” cho thế hệ hôm nay dưới mái nhà văn chương.
Xem thêm
Nhà văn Ma Văn Kháng: Sống rồi mới viết
Trong lớp nhà văn cao tuổi hiện nay, có một người tôi luôn chờ đợi đọc những sáng tác mới của ông. Đó là nhà văn Ma Văn Kháng (sinh năm 1936, tên thật Đinh Trọng Đoàn). Chỉ có điều thời gian gần đây tuổi cao đã khiến ông không viết đều, viết nhiều như trước. Thế nhưng, thi thoảng vẫn được đọc những truyện ngắn mới của ông, hay những bài báo gửi gắm trăn trở, suy tư.
Xem thêm
Cuộc chiến nhân tính – Tiểu luận của Hoàng Thuỵ Anh
Nhà văn Hữu Phương là một trong số những cây bút văn xuôi kỳ cựu của miền Trung, đã khẳng định sở trường, sự điêu luyện khi nhìn sâu và cắt nghĩa tính tàn bạo của chiến tranh thông qua những số phận bị chấn thương, bi kịch.
Xem thêm
Nhớ mãi kỷ niệm với nhà văn Nguyễn Quốc Trung
Qua các nguồn tin, được biết Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và Tạp chí Văn nghệ Quân đội chuẩn bị phối hợp tổ chức hoạt động tưởng nhớ nhà văn Nguyễn Quốc Trung sau 2 năm anh rời “cõi tạm” và nhân sự kiện anh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước với tiểu thuyết Đất không đổi màu, tôi cảm thấy vui mừng xen lẫn sự bồi hồi, xao xuyến.
Xem thêm
Tàn thu vắng bóng - Tản văn của Đặng Tường Vy
 Châu Âu thật tuyệt với bốn mùa rõ rệt. Mùa nào cũng có nét quyến rũ riêng, làm người tha hương vơi đi nỗi buồn dịu vợi. ..
Xem thêm
Nhớ Nguyễn Quốc Trung
Nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội nhà văn TP HCM gọi điện thông báo với tôi về việc Hội nhà văn TP HCM phối hợp cùng Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức tưởng nhớ nhà văn Nguyễn Quốc Trung nhân hai năm ông rời cõi tạm và đặc biệt nhà văn được truy tặng giải thưởng Nhà nước về tiểu thuyết Đất không đổi màu.
Xem thêm
Mùa thu đây hỡi cờ hồng vàng sao – Tản văn của Lê Xuân
Tháng Tám cũng là tháng giữa thu, tháng để các em thiếu niên, nhi đồng phá cỗ trông Trăng, mừng Tết Trung thu, rước đèn, múa lân dưới trăng thanh, gió mát…
Xem thêm
Cửa bể Cần Giờ | Bút ký của Nguyễn Minh Ngọc
Bài đăng Báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn VN) số 35+36, ra ngày 2-9-2023
Xem thêm
Tản Mạn Vàm Cỏ Đông - Tùy bút Trần Thế Tuyển 
Có lẽ trên trái đất này, không ở đâu cái giá để có độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc lại đắt như ở Việt Nam. Để có hình hài đất nước, vị thế quốc gia như ngày hôm nay đã có hàng triệu triệu người con ưu tú ngã xuống. Máu xương của họ tan biến thành đất đai tổ quốc và hồn của họ bay lên hóa linh khí quốc gia.
Xem thêm
Người lính làm nên huyền thoại
Phải nói, Trần Ngọc Trác là một cây viết tâm huyết với đề tài truyền thống cách mạng. Gặp  ông cách nay đã vài chục năm, tôi vẫn nhớ dáng đi nhanh nhẹn, giọng nói trầm ấm và ánh nhìn thân thiện của nhà văn. Lúc ấy Trần Ngọc Trác là cán bộ của Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh Lâm Đồng. Đã đọc Trần Ngọc Trác nhưng thực sự khi ông đảm nhiệm làm phim Người lính làm nên huyền thoại   về Đại tá Lê Kích (cậu ruột thứ Tám của vợ tôi), chúng tôi mới gắn bó  như anh em thân thiết. 
Xem thêm