TIN TỨC

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng tìm chi tiết nhỏ cho cuộc đời lớn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-09 08:47:06
mail facebook google pos stwis
1445 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đi qua làng văn bằng một cái dáng thấp đậm, vừa gần gũi chan hoà vừa nghiêng ngả phóng túng. Chính tính cách Nguyễn Quang Sáng làm phong phú thêm hương vị cho tác phẩm Nguyễn Quang Sáng. Công chúng thân quen thường lấy lối sống Nguyễn Quang Sáng mà soi vào trang viết Nguyễn Quang Sáng để thấy được những màu sắc lấp lánh khác nhau. Tuy nhiên, khi bình tâm đọc văn Nguyễn Quang Sáng thật khách quan, thì không thể nào phủ nhận ông luôn biết cách tìm kiếm những chi tiết nhỏ để vun đắp một cuộc đời lớn!

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng chọn bút pháp phản ánh hiện thực xuyên suốt hành trình sáng tạo. Trí tưởng tượng đối với ông giống như một món hàng xa xỉ, vì ông tích cực lặn ngụp trong dòng chảy đa dạng và bất tận của đời thường. Nhánh sông Tiền chảy qua ngôi nhà chôn nhau cắt rốn của ông không chỉ xuất hiện trong truyện dài thiếu nhi “Dòng sông thơ ấu” mà liên tục cồn cào sóng gió trong nhiều tác phẩm của ông. Vui buồn quê nhà dắt Nguyễn Quang Sáng vào văn chương bằng truyện ngắn đầu tay “Con chim vàng” viết tháng 6/1956 với bối cảnh hoài niệm “Cây trứng cá trước sân nhà đã hết mùa, sâu đo xanh đỏ thoăn thoắt qua những cành lá li ti màu phấn mốc…”. Nghĩa là, nhà văn Nam bộ Nguyễn Quang Sáng khởi nghiệp trong âm vang văn hoá sông Hồng!

22 tuổi, tập kết ra Bắc, Nguyễn Quang Sáng chỉ có một ưu điểm là đánh bóng bàn rất giỏi. Thế nhưng, khi cư ngụ ở ngôi nhà số 2 phố Cổ Tân – Hà Nội, Nguyễn Quang Sáng đã bái vọng quê nhà bằng hai tiểu thuyết “Nhật ký người ở lại” viết năm 1961 và “Đất lửa” viết năm 1963. Vì sao khẳng định như vậy? Vì bối cảnh của cả hai tiểu thuyết đều là xứ sở mà Nguyễn Quang Sáng từng sinh ra và lớn lên. Nhân vật Quang trong “Nhật ký người ở lại” sau giây phút bịn rịn tiễn những đồng chí đi tập kết đã quay về làng Mỹ Hưng hoạt động cách mạng và hy sinh oanh liệt. Nhân vật Sáu Sỏi trong “Đất lửa” cũng trở lại làng Mỹ Long Hưng vận động tín đồ Hoà Hảo đoàn kết đánh Pháp. Làng Mỹ Hưng của “Nhật ký người ở lại” và làng Mỹ Long Hưng trong “Đất lửa” đều lấy nguyên mẫu từ xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang mà Nguyễn Quang Sáng đã cất tiếng khóc chào đời ngày 12/1/1932.

14 tuổi, Nguyễn Quang Sáng thoát ly theo cách mạng và được học ở Trường trung học chiến khu Nguyễn Văn Tố trong rừng U Minh. Tuy nhiên, nền tảng viết văn của Nguyễn Quang Sáng đều học ở thực tế, thực tế tranh đấu và thực tế xã hội. Những tác phẩm tiêu biểu như “Ông Năm Hạng”, “Tư Quắn”, “Quán rượu người câm” thời khói lửa và “Bàn thờ tổ của một cô đào”, “Người đàn bà đức hạnh”, “Về lại bức tranh xưa” thời hoà bình, đều được Nguyễn Quang Sáng chưng cất từ thực tế trải nghiệm sinh động.

Hầu như toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng không câu nệ vào sách vở và tuyệt đối vắng bóng điển tích. Nguyễn Quang Sáng trực tiếp va đập với cuộc sống để nhìn, để nghe và để viết. Chỉ cần gạn lọc được chi tiết, thì Nguyễn Quang Sáng lập tức có những trang văn trần thuật hấp dẫn, như ông bộc bạch “Tôi mê chi tiết. Viết văn không chi tiết, chỉ nói như xã luận, thì còn ra gì”.

Sự khắc nghiệt của thời gian chắn chắn làm mai một nhiều giá trị mang thông điệp minh hoạ cho một giai đoạn văn chương nào đó. Thế nhưng, Nguyễn Quang Sáng nhờ vào thực tế kháng chiến của quân dân Nam bộ, đã có được truyện ngắn “Chiếc lược ngà” xuất sắc. Đầu năm 1965, Nguyễn Quang Sáng vượt Trường Sơn vào Căn cứ trung ương cục miền Nam, thì tháng 9/1966 ông viết được “Chiếc lược ngà”.

Đại diện cho những trang văn trần thuật kiểu Nguyễn Quang Sáng, “Chiếc lược ngà” kết cấu bằng lời kể của một đồng chí già. Cách dẫn dụ “Các bạn ạ” của đồng chí già chia không gian “Chiếc lược ngà” ra làm hai lát cắt với khoảng cách 12 năm, nhân vật ông Ba gặp cô bé bơ vơ Thu 8 tuổi và tái ngộ cô giao liên Thu 20 tuổi. Tín vật kết nối cho khoảng cách 12 năm là chiếc lược làm từ ngà voi của ông Sáu dành riêng tặng con gái mình. Giữa hai lần Thu xuất hiện, Nguyễn Quang Sáng cài cắm hai chi tiết gây xúc động mạnh mẽ.

Chi tiết thứ nhất: Lúc Thu 8 tuổi, ông Sáu về thăm nhà sau 7 năm xa biệt. Cô bé Thu không chịu gọi “ba” vì trên mặt ông Sáu có vết sẹo do bị bom giặc, không giống người cha chụp ảnh chung với má mà cô bé vẫn thường thấy. Suốt ba ngày ông Sáu nghỉ phép sum họp gia đình, Thu không nhận cha. Khi ông Sáu đi, thì Thu thét gọi “ba” nghẹn ngào “tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “Ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm, tiếng “Ba” như vỡ tung ra từ lòng nó, nó vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên và dang tay ôm chặt cổ ba nó”. Cuộc hội ngộ ngắn ngủi kia, cô bé Thu gửi theo một mong mỏi “Ba về, ba mua cho con một cây lược nghe ba!”.

Chi tiết thứ hai: Lúc Thu 20 tuổi, làm giao liên đưa cán bộ qua sông. Trước khi hy sinh, ông Sáu giao lại chiếc lược mà đích thân dùng miếng ngà voi và cái cưa làm từ vỏ đạn để chế tác nên hình nên dáng. Ông Sáu trao chiếc lược ngà cho Thu với lời nói dối thiện chí: “Ba cháu vẫn khoẻ, ba cháu không về được, nên gởi cho bác!” mà không thể ngờ Thu đã biết sự thật “Cháu chịu đựng được, bác đừng ngại, cháu nghe tin ba cháu chết đã hai năm rồi, sau đó thì cháu xin má cháu đi giao liên”. Và cái kết ấm áp từ hành động của ông Ba là “nhìn cháu, tôi bỗng buột miệng nói: Thôi, ba đi nghe con!”.

Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” có độ dài gần 7 ngàn chữ, không chỉ chia theo khoảng cách 12 năm mà còn chia thành hai câu chuyện: câu chuyện về tình cha con của ông Sáu với Thu, và câu chuyện tài trí của giao liên Thu. Một câu chuyện văn học và một câu chuyện điện ảnh. Nếu tách câu chuyện điện ảnh ra khỏi câu chuyện văn học, thì phẩm chất thẩm mỹ của truyện ngắn “Chiếc lược ngà” vẫn không ảnh hưởng gì. Thế nhưng, chính những trang miêu tả tỉ mỉ sự dũng cảm và khéo léo của giao liên Thu với nhiều hình ảnh ấn tượng, đã hé lộ khả năng một nhà biên kịch ở Nguyễn Quang Sáng. Do đó, ai đã đọc “Chiếc lược ngà” ngay thời điểm truyện ngắn này ra đời, chắc chắn sẽ không ngạc nhiên khi sau ngày đất nước thống nhất thì Nguyễn Quang Sáng thăng hoa tên tuổi qua các kịch bản phim “Mùa gió chướng” hoặc “Cánh đồng hoang”.

Cùng với “Chiếc lược ngà”, Nguyễn Quang Sáng có một tác phẩm nữa viết ở chiến khu Tân Biên cần phải nhắc đến, là truyện ngắn “Chị Nhung”. Ngay trong đợt 1 của cuộc nổi dậy Mậu Thân, Nguyễn Quang Sáng và Lê Văn Thảo là hai nhà văn được trực tiếp tham gia. Ngoài vài bút ký, truyện ngắn “Chị Nhung” là thu hoạch của Nguyễn Quang Sáng từ thực tế khốc liệt tấn công vào đô thị Sài Gòn.

“Chiếc lược ngà” và “Chị Nhung” khá giống nhau về mô-tip. Nếu “Chiếc lược ngà” được kể bởi một đồng chí già, thì “Chị Nhung” được kể bởi chính trị viên tiểu đoàn Tám Sơn. Thu trong “Chiếc lược ngà” xuất hiện với hình ảnh một cô bé bơ vơ và một nữ giao liên gan dạ, thì Nhung trong “Chị Nhung” cũng xuất hiện với hình ảnh một cô bé đơn côi và một nữ giao liên can trường.

Nếu như Thu đưa cán bộ qua sông an toàn “cô vừa chặn địch, vừa bước ra khỏi chỗ nguy hiểm mà mặt cứ phơi phới…Con gái hai mươi tuổi không thể có cặp mắt trong sáng như thế, và cô mới ngây thơ làm sao, cô vẫn còn đeo bông tòn ten, cô đi dần về phía tôi…” thì Nhung mở đường cho bộ đội rút lui “trong trận đánh vào Bộ tổng tham mưu của Mỹ- Ngụy, lúc đánh trả lại các đợt phản kích của xe tăng địch, có một chiến sĩ bắn B.40 thọc họng súng qua các cửa sổ bắn đến viên đạn thứ mười sáu. Thấy hai bên tai anh rỉ máu, một chị chạy đến không cho anh bắn nữa. Chị giật súng trên tay anh và bắn tiếp. Nghe nói chị ấy cũng tên Nhung. Tôi muốn gặp chị để hỏi lại những chuyện ấy cho rõ hơn và do tính tò mò, tôi muốn gặp tận mắt một cô gái người Sài Gòn”.

Truyện ngắn “Chị Nhung” viết sau truyện ngắn “Chiếc lược ngà” khoảng 2 năm, yếu tố lịch sử của “Chị Nhung” cụ thể hơn “Chiếc lược ngà”, nhưng tính cách nhân vật nữ và cảm hứng sáng tác rất giống nhau. Nét độc đáo là nhà văn Nguyễn Quang Sáng đều khắc khoải được sẻ chia niềm che chở của tình phụ tử cho Thu và Nhung, vì hai cô bé đều có cha biền biệt kháng chiến.

Trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là sự bồi hồi “Lúc chia tay, tôi không nghe cháu gọi tôi là ba. Nhưng những lúc nằm một mình, nhớ lại thì tôi nghe tiếng gọi “ba” của cháu, và tiếng “ba” như vang lên từ trong tâm tôi”, còn trong truyện ngắn “Chị Nhung” là sự xao xuyến “Bây giờ tôi thấy mình như một người cha đứng trước một đứa con. Tôi bước lại gần cháu, đưa tay vỗ nhẹ lên vai cháu…”.

Ngoài ra, nhà văn Nguyễn Quang Sáng còn có chút riêng tư dành cho Thu và Nhung, khi ông cố ý dời “hộ khẩu” cả hai nhân vật được thai nghén ngẫu nhiên ấy, cùng về quê nhà An Giang của ông. Nhân vật Thu thì nguyên quán “Cù lao Giêng, quận Chợ Mới, tỉnh Long Châu Sa”, còn nhân vật Nhung thì “cháu là người Tân Phú Đông, tỉnh Long Châu Sa”. Có lẽ, cần ghi chú thêm rằng, tỉnh An Giang có lúc chuyển đổi thành tỉnh Long Châu Sa, là địa danh hành chính gộp lại của Long Xuyên, Châu Đốc và Sa Đéc. Rõ ràng, nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một người con nặng lòng với cội nguồn.

Tuy không được đưa vào sách giáo khoa để phổ cập rộng rãi bằng truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, nhưng truyện ngắn “Chị Nhung” ngay sau khi công bố cuối năm 1968 đã có tiếng vang rất lớn. Năm 1970, Hãng phim truyện VN đã đưa truyện ngắn “Chị Nhung” lên màn bạc, do Nguyễn Đức Hinh và Đặng Nhật Minh làm đạo diễn, Lê Vân đóng vai nữ chính! Nhà văn Nguyễn Quang Sáng thổ lộ nhờ cơ duyên đó “như mở thêm cho tôi một con đường viết kịch bản phim”.



MỘT VÀI HÌNH ẢNH TẠI HỘI THẢO NGUYỄN QUANG SÁNG - CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Bài viết liên quan

Xem thêm
Julio Cortázar và tập truyện ngắn bị “bỏ quên”
Mới đây, A Certain Lucas đã tái xuất sau nhiều thập kỉ, mở ra cánh cửa khám phá nhà văn vĩ đại người Argentina Julio Cortázar cũng như ảnh hưởng vượt khỏi châu Mĩ của cây bút này.
Xem thêm
Đọc tác phẩm “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu dưới góc nhìn từ đời thường
Bài viết của nhà văn Nguyên Bình tác phẩm “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu
Xem thêm
Nước mắt trong Lục Bát Mẹ
Nhà thơ Đỗ Thành Đồng vừa làm lễ kỉ niệm 5 năm ngày mất của mạ, và dịp này anh ra mắt tập thơ thứ 9 “Lục bát mẹ”. Hơn 100 trang sách với 42 bài thơ lục bát viết về mẹ (mẹ anh sinh năm 1942), mỗi bài thơ là một cung bậc cảm xúc, cũng là những khúc ru của một người con hiếu đạo đối với mẹ ở nơi cõi Phật.
Xem thêm
Một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa lạ vừa quen trong hai tác phẩm mới
Một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa lạ vừa quen trong hai tác phẩm mới
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chua ngọt một đời cầm bút
Văn Chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ, nhà lý luận phê bình Lê Thiếu Nhơn như một tiếp nối của cuộc trò chuyện đẹp này.
Xem thêm
Hoàng Đăng Khoa và nỗi buồn đương đại trong tập thơ mới
Có thể nói, buồn là phẩm chất thuộc tính thương hiệu của thi nhân. Tản Đà từ khoảng 1916 đã viết “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi”, 20 năm sau, khoảng 1936, Xuân Diệu “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Cũng khoảng ấy, nhưng trước một hai năm, Thế Lữ cũng “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi! xa vắng mênh mông là buồn”. Ngay cả Tố Hữu, cùng thời gian, viết: “Buồn ta là của buồn đời/ Buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn/ Buồn ta, ấy lửa đang nhen/ Buồn ta, ấy rượu lên men say nồng”. Đều buồn cả.
Xem thêm
Quá trình tự vượt lên chính mình
Tôi nhận được thư mời của Ban Tổ chức buổi Giao lưu - Tặng sách vào buổi chiều hôm nay (16/11) tại tư dinh của họa sỹ Nguyễn Đình Ánh ở Việt Trì, Phú Thọ. Ban Tổ chức có nhã ý mời tôi phát biểu ở buổi gặp mặt. Thật vinh dự nhưng quá khó với tôi: Lại phải xây dựng thói quen “Biến không thành có, biến khó thành dễ, biến cái không thể thành cái có thể…” như Thủ tướng Phạm Minh Chính thường nói!
Xem thêm
Nguyễn Thanh Quang - Giọng thơ trầm lắng từ miền sông nước An Giang
Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, mỗi vùng đất đều mang trong mình một mạch nguồn riêng, âm thầm mà bền bỉ, lặng lẽ mà dai dẳng như chính nhịp sống của con người nơi đó. Và trong không gian thi ca rộng lớn ấy, An Giang như một miền phù sa bồi đắp bởi nhánh sông Hậu, bởi dãy Thất Sơn thâm u, bởi những cánh đồng lúa bát ngát, bởi mênh mang sóng biển và bởi những phận người chất phác, luôn có một sắc thái thi ca rất riêng. Đó là vẻ đẹp của sự hiền hòa xen chút sắc bén, của nỗi lặng thầm pha chút đa đoan, của những suy tư tưởng như bình dị mà lại chứa cả thẳm sâu nhân thế.
Xem thêm
Thơ Thảo Vi và cội nguồn ánh sáng yêu thương
Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.
Xem thêm
Những chấn thương nội tâm trong “Mã độc báo thù”
“Mã độc báo thù” là tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Nguyễn Văn Học, vừa được NXB Công an nhân dân phát hành. Đây là một trong vài tiểu thuyết đầu tiên viết về đề tài tội phạm công nghệ cao ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhà văn không chỉ nói về tội phạm, mà còn xoáy sâu về những tổn thương của con người trong thời đại số.
Xem thêm
Huệ Triệu, một nhà giáo, nhà thơ
Cả hai tư cách, nhà giáo và thi nhân, Huệ Triệu là một gương mặt sáng giá.
Xem thêm
Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình?
Văn học, cũng như các lĩnh vực khác, theo tôi đều có những dòng chảy nối tiếp âm thầm, tạo nên nhiều sự giao thoa, đan cài giữa cũ và mới, quen thuộc và khác lạ
Xem thêm
Biểu tượng nước trong thơ Vũ Mai Phong
“Nước” trong văn hóa phương Đông là thủy – khởi nguyên của sự sống, mang phẩm chất mềm mại – bền bỉ – linh hoạt biến hóa của triết lý nhu thắng cương. Trong thi ca Việt Nam, “nước” gắn với dòng chảy thời gian tâm thức dân tộc, văn hóa lịch sử và tâm linh
Xem thêm
“Hư Thực” của Phùng Văn Khai: Tiếng nói Hậu Hiện Đại và Dấu Ấn Văn Chương Đương Đại Việt Nam
Văn học luôn là tấm gương phản chiếu xã hội, là nơi ghi lại những biến chuyển của thời đại và tâm hồn con người. Trong lịch sử văn học Việt Nam, mỗi thời kỳ đều có những tác phẩm tiêu biểu, vừa mang dấu ấn thời đại, vừa để lại những giá trị trường tồn cho đời sau. Tuy nhiên, khi thế giới bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa và đa dạng văn hóa, các giá trị truyền thống gặp nhiều thử thách. Đặc biệt, với sự bùng nổ thông tin và biến động xã hội, con người ngày nay không còn sống trong một thế giới đơn giản, rạch ròi mà là một thế giới đa chiều, hỗn loạn và khó đoán định.
Xem thêm
Thế giới kỳ vĩ của thơ
Thế giới của thơ, với thi sỹ là bến đậu của tâm hồn, là cánh đồng gieo trồng cảm xúc và chữ nghĩa, là bầu trời để cất cánh ước mơ và thả hồn phiêu lãng; với đọc giả là nhịp cầu kết nối con tim, là dòng sông soi rọi, tắm táp tâm hồn để được nâng đỡ và bay cao.
Xem thêm
Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI
Nói đến văn học dịch những thập niên đầu thế kỉ 21, có lẽ, trước hết, phải nhắc tới việc rất nhiều tác phẩm thuộc hàng “tinh hoa”, “kinh điển”, hay các tác phẩm đạt được các giải thưởng văn chương danh giá (Nobel, Pulitzer, Man Booker...) đã được chú trọng chuyển ngữ trong giai đoạn này.
Xem thêm
Vài nhận thức về trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều
Tôi hỏi nhiều nhà thơ và văn, rằng họ thấy trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều như thế nào và đặng họ có thể khai sáng chút gì cho tôi nhưng không ai có câu trả lời khiến tôi thỏa mãn, đa phần đều nói “Ái chà, Lò mổ của Nguyễn Quang Thiều hả, bọn tớ cũng chỉ nghe dư luận ồn ào trên mạng thôi chứ có sách đọc đâu!”.
Xem thêm
Nguyễn Duy – Vịn thi ca vượt thác thời gian...
Bài đăng Văn nghệ Công an số ra ngày 13/11/2025
Xem thêm
Thơ có nghĩa là “thương” - Tiếng thơ Đặng Nguyệt Anh
Một bài viết thấm đẫm nhân tình của Tuấn Trần – người trẻ viết về Đặng Nguyệt Anh, “ngoại” của thơ và của lòng nhân hậu. Từ câu chữ đến cảm xúc, bài viết là một lời tri ân chân thành dành cho thế hệ cầm bút đã “đem trái tim yêu thương gánh ghì số phận chung”, để hôm nay, thơ của họ vẫn còn làm dịu đi những cơn bão đời người.
Xem thêm
Chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam hiện đại
Bài viết này xin phép được tiếp tục trình bày một xu hướng vận động chủ đạo của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam sau 1975: dân tộc hóa ca khúc Việt Nam.
Xem thêm