TIN TỨC

“Sóng pha lê” trong thơ Mai Khoa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-22 10:09:56
mail facebook google pos stwis
2414 lượt xem

TUỆ MỸ

Xuất hiện trong dòng thơ Việt đương đại, nữ thi sĩ Mai Khoa cũng có nhiều bài thơ viết về sóng. Nhưng không phải sóng thiên nhiên đã từng thấy trong thơ của các thế hệ nhà thơ mà ngòi bút của chị chỉ nghiêng về một loại sóng đặc biệt: Sóng pha lê.

Hình tượng “Sóng pha lê” (xuất hiện trong một số bài thơ in trong tập “Sóng pha lê” năm 2011 của Mai Khoa) vừa thực vừa hư, vừa hữu hình cũng vừa vô hình. Hữu hình trong mắt người “Pha lê trong suốt hình hài thực”, “Pha lê rất mỏng”. Nhưng ngòi bút của thi sĩ nào phải viết về “hình hài thực” của pha lê mà chủ yếu nói đến cái không thực là “sóng”- Sóng pha lê. Pha lê thì làm sao tạo nên sóng? Thứ “sóng” mà Mai Khoa muốn nói ở đây có phải là “sóng lòng”, “sóng tình”? Vâng, chỉ có thể là thế. Mà nói đến sóng, người ta lại nghĩ ngay đến sự dữ dội, cuộn trào. Nhưng sóng pha lê của Mai Khoa thì không thế “Sóng nhỏ thôi bởi pha lê rất mỏng/ Mỏng như lời anh rơi xuống chạm vào thơ.Pha lê mỏng”, có lý. Nhưng “Mỏng như lời anh rơi xuống chạm vào thơ” thì phi lý. Chỉ phi lý trong nhận thức thôi chứ rất có lý đối với trái tim thi sĩ. Bởi “lời anh” là lời yêu, lời thì thầm của trái tim yêu. Chỉ thì thầm, nhỏ nhẹ, mỏng manh vậy thôi nhưng một khi lời yêu ấy “rơi xuống chạm vào thơ”, chạm vào tim Em thì tức khắc biến thành “sóng”- sóng pha lê. Phải, có ai không thấy lòng rung động, xao xuyến, bồi hồi khi đón nhận lời yêu từ người mình yêu thích? Một tình yêu trong trẻo, tinh khôi đã dậy lên trong trái tim Em từ lời yêu anh nói. “Sóng nhỏ thôi” nhưng có sức làm rung động đến miền sâu thẳm và lan tỏa đến vô cùng trái tim Em. Dùng phương thức chuyển hóa cái vô hình “lời anh” thành cái hữu hình “mỏng” không phải Mai Khoa là người đầu tiên nhưng thủ pháp ấy đã thực sự gây ấn tượng về một tình yêu rất nữ tính: Đón nhận lời yêu của anh, Em vô cùng hạnh phúc, rung cảm dạt dào nhưng không ồn ào, vồ vập.

Sóng pha lê, sóng tình yêu trỗi dậy trong lòng người con gái khi bước vào yêu cứ thế tiếp tục lan tỏa theo mạch cảm xúc của Mai Khoa:

 Những vòng sóng tưởng vô cùng bình lặng

Lại khởi đầu của thương nhớ pha lê

Đã gọi là “sóng” thì làm sao mà “bình lặng” được. Nếu không dữ dội, cuộn trào thì cũng dào dạt say mê. Đúng vậy, pha lê lúc này đã hóa thành rượu. Một thứ “Rượu cất lên chất chứa ân tình” khiến cho người trong cuộc không thể “Ngửa cổ lên cùng pha lê uống cạn”. Uống cạn rượu pha lê cũng chính là “uống lời yêu say đắm”, là “giọt tình em nhấp cạn”. Nói đến giọt tình, chợt nhớ đến “giọt Valentine” trong thơ Nguyễn Ngọc Hưng “Em là rượu của tinh hoa trời đất/ Một giọt thôi đủ một kiếp lưu đày/ Một giọt thôi đủ nghìn năm chếnh choáng”. Thế đấy, chỉ một giọt tình thôi mà đánh đổi cả một đời kiếp con người khi sống trên cõi thế gian. Vậy bảo sao Em không tự nguyện “làm kiếp sóng pha lê” để yêu và được yêu. Một khi “uống cạn” lời yêu, “nhấp cạn” giọt tình thì làm sao tránh khỏi “Chút nồng nàn khiến con tim náo loạn”. “Sóng” đã nổi lên rồi đấy dù chỉ nhận được “chút nồng nàn” thôi. Bởi có con tim nào không loạn nhịp khi yêu? Chẳng phải “Những vòng sóng tưởng vô cùng bình lặng”, tưởng vô cùng dịu dàng, nữ tính ấy cũng “náo loạn” rồi đấy sao. Có gì lạ đâu khi con người sống thật với trái tim mình, không lừa dối bản năng. Lúc này “Pha lê thấu tận cùng ước mong” của Em, của hai trái tim yêu nên “Pha lê nguyện làm nơi hò hẹn/ Chứa men say sóng sánh sắc màu”. Đẹp quá! Pha lê “sóng lên màu”, pha lê “sóng sánh sắc màu”. Đó là màu tình yêu lứa đôi trong sáng, tinh khôi say đắm vô ngần.

Pha lê trong suốt, rất dễ vỡ nhưng pha lê của Mai Khoa thì rất khác:

Pha lê mỏng mà dẻo dai bền chặt

Thủy tinh em bất biến với lửa hồng

Hóa ra pha lê của Mai Khoa không phải làm nên từ cát mà nó được làm bằng sợi - sợi tình để “buộc đời nhau” của đôi lứa yêu nhau nên mới “dẻo dai, bền chặt” và “bất biến” dù có tác động của bao thử thách giữa cuộc đời.

Khi yêu, người con gái có lo ngại gì không? Có đấy: “Sóng pha lê lại lần nữa đi tìm/Nơi môi em đặt dấu son bờ vực”. “Dấu son bờ vực” là một hình tượng thơ giàu sức gợi và đã mở ra chiều kích khác trong nội tâm người thiếu nữ khi yêu: bước vào đường yêu, em đứng trước cửa thiên đường hay đứng bên “bờ vực” thẳm? Tình yêu liệu có phải chỉ hoàn toàn là trái ngọt? Liệu em có cùng người yêu đi đến cuối đường tình? Nếu tình yêu đổ vỡ, thiệt thòi chẳng phải chỉ em mang... Những lo nghĩ băn khoăn ấy cũng rất nữ tính. Rõ ràng, chỉ là phụ nữ mới hiểu tâm lý của giới mình sâu sắc và tinh tế đến vậy. Nhưng nỗi lo ngại ấy chỉ thoáng qua thôi chứ trong thâm tâm em “Biết rằng mình đang yêu và đang được yêu làm cho cuộc sốngý nghĩa, ấm áp và giàu có, điều mà ngoài tình yêu ra, không có gì có thể làmđược” (Danh ngôn). Và Em hiểu rằng một lần với tay chạm đến pha lê là “Với một lần chạm cả trời sao”. Phải, chạm đến tình yêu là chạm đến thứ hạnh phúc lớn lao nhất, lãng mạn nhất và đẹp đẽ vô cùng.

Hình tượng “Sóng pha lê” là hóa thân của nhân vật trữ tình (nhà thơ). Khi thì nhập thân trực tiếp vào pha lê để tận hưởng, chiêm nghiệm tình yêu ngọt ngào. Lúc thì phân thân đối diện, đối thoại với pha lê để suy tư, ngẫm ngợi về tình yêu. Cũng có khi pha lê là hiện thân của tình yêu, là đối tượng cũng là đích đến của nhân vật trữ tình. Chính vì thế mà “Sóng pha lê” chuyển động trong không gian thơ Mai Khoa mang nhiều màu sắc khác nhau, với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Khi thì rạo rực say mê, khi thì dịu êm, nhỏ nhẹ, lúc lại trầm tĩnh lắng sâu. Cũng chính vì thế mà “Sóng pha lê” hiện lên qua trang thơ Mai Khoa không đơn điệu. Nó cứ tự nhiên dắt tay người đọc đi vào khám phá thế giới nội tâm của nhân vật trữ tình. Khám phá và đã nghe được âm thanh của “Sóng pha lê”. Đó là âm vọng của trái tim người phụ nữ chan chứa tình yêu đối với con người và cuộc đời, âm vọng của khát khao sống. Sống là yêu, là dâng hiến cho đời. Tình yêu ấy, khát khao ấy sáng trong, đẹp đẽ như pha lê. Tuy đã ở tuổi chiều mà âm vọng của “Sóng pha lê” Mai Khoa vẫn còn âm vang, lan tỏa. Tình yêu người, yêu đời của người phụ nữ tuổi chiều vẫn nồng nàn, ý nhị, thâm trầm.

Thơ Mai Khoa thực sự chưa mới trong ngôn ngữ thơ, trong cách thể hiện và trong xây dựng hình tượng thơ cũng chưa nhiều sáng tạo. Nhưng với “Sóng pha lê”, có thể nói đó là hình tượng thơ ghi dấu ấn sáng tạo của nhà thơ Mai Khoa.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm