TIN TỨC

Sức bền của ngòi bút

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-03-29 16:57:07
mail facebook google pos stwis
2809 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

(Nghĩ từ Mây hồng, tập truyện ngắn của Nguyễn Trường, Nxb Thanh niên, 2023)


Duyên văn, hay là sức bền của ngòi bút

Nhà văn Nguyễn Trường đoạt ngôi Khôi nguyên Cuộc thi truyện ngắn 2015-2017 báo Văn nghệ với chùm truyện Vương quốc mộng mơ, Quà tặng tương lai, Mùa thanh long. Giải thưởng văn chương như là một thứ “vương miện” của nghệ thuật ngôn từ, một cuộc vượt vũ môn ngoạn mục trong nghề chữ. Nhưng bằng trải nghiệm văn chương, những độc giả tinh tường sẽ không thỏa mãn với “mức xà” mà nhà văn mình yêu thích vừa vượt qua, trái lại luôn hồi hộp đón chờ và kỳ vọng vào những thành tích mới, kỷ lục mới của người đó trong tương lai gần và xa. Tính đến năm 2023, nhà văn Nguyễn Trường đã làm chủ một “văn sản” không hẳn đã đầy đặn về số lượng nhưng rõ ràng tiệm tiến chất lượng nghệ thuật, hay nói cách khác là thặng dư hàm lượng văn hóa: bốn tiểu thuyết (Hơn cả tình yêu, Mộng đế vương,  Đi qua thời áo trắng, Tâm linh) và ba tập truyện ngắn (Thiên nhãn, Khai khẩu, Mây hồng), chưa kể đến một tập tiểu luận - phê bình viết chắc tay Văn học - Một hướng nhìn. Riêng viết truyện ngắn, kể từ Đêm chiến tranh in vào đầu những năm chín mươi thế kỷ trước đến nay, nhà văn đã có một “pho” chừng khoảng bốn chục “cái”. Nói duyên văn hay dấu ấn Nguyễn Trường trên văn đàn đương đại, hẳn là nhờ vào truyện ngắn. Tôi nghĩ, sau Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Bảo Ninh có Sương Nguyệt Minh, Trần Thùy Mai, Nguyễn Trường, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thi Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư đã góp công tôn cao cái nền vững chắc của truyện ngắn dân tộc thờì nay.

 Cổ nhân hay nói đến chữ “duyên” áp vào mỗi số phận con người, nếu vận vào lĩnh vực văn học nghệ thuật lại càng sát thực. Thi sĩ Xuân Diệu có bài Thơ duyên rất hay, càng đọc càng thấy ý vị (cái duyên tạo nên sự hấp dẫn của thơ ca cũng như cái duyên tạo nên sự hấp dẫn của một cô gái dẫu nhan sắc chưa đến độ “nghiêng nước nghiêng thành”). Đọc rồi vận vào chuyện viết lách của giới văn chương  càng thấm thía. Theo cách diễn đạt của giới lý luận - phê bình thì đó là năng lực “neo chữ” của người viết khiến cho chữ được “neo” vào ký ức độc giả. Không nhiều nhà văn như Nguyễn Trường trong bốn năm liền được chọn Top 10 truyện ngắn hay báo Văn nghệ (2016, 2017, 2018, 2020). Đặc biệt hơn, báo Văn nghệ đã ưu ái dành hẳn một trang đăng ý kiến của độc giả và nhà văn về thiên truyện Khai khẩu (đăng báo Văn nghệ số 35+36, ra ngày 1/9/2018), đây là  một trong những “cái ngắn” đậm đà phong cách Nguyễn Trường (tâm lý - triết lý - trữ tình). Trên báo Văn nghệ số Tết Giáp Thìn, nhà văn Nguyễn Trường đứng chân truyện ngắn Tác phẩm còn lại. Với “cái ngắn” này, tôi nghĩ, số báo Văn nghệ Tết càng thêm “bắt mắt”, thậm chí nhiều bạn văn còn nói có thể còn tăng tirage (số lượng in) nữa.
 

 Đi tìm sự thật trong những mảnh vỡ của số phận

Mây hồng là tập truyện ngắn thứ ba của nhà văn Nguyễn Trường, gồm 12 truyện (Di cảo của cha, Người từ nước Mỹ trở về, Người của đảo, Bữa cơm chiều ba mươi tết, Người trong cõi mộng, Đồi Phượng Hoàng, Minh châu tỏa sáng, Mây hồng, Chuyện trên biển Cần Giờ,  Người viết sử, Điểm gặp lịch sử, Quà tặng tương lai). Mỗi truyện, trừ truyện Mây hồng được dùng làm đặt tên cho cả tập, tôi hình dung, như là những “mảnh vỡ” của số phận, của kiếp người, như là những “góc khuất” của đời sống xã hội và con người trong cõi nhân gian lắm cuộc bể dâu, tang thương ngẫu lục. Có thể thấy chủ đề xuyên suốt nhiều truyện trong Mây hồng là nỗi niềm và khát vọng của con người trên hành trình đi tìm sự thật, cao hơn và cuối cùng là chân lý. Di cảo của cha là một thiên truyện cô đặc được chủ đề trung tâm và quan  trọng này - sự thật mang tính khách quan hay mang tính chủ quan, luôn luôn là một câu hỏi lớn và khó với con người mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi thế hệ. Sau bao biến cố thăng trầm, sau nhiều trải nghiệm người con mới ngộ ra “Nhưng Cha ơi, việc của đời xưa từng mơ hồ, lẫn lộn, phải tìm ra sự thật mới được vinh danh”. Truyện Người từ nước Mỹ trở về, theo tôi, là một “biến tấu chữ” trong cách viết của Nguyễn Trường, nếu có thể nói thì nó hao hao dạng thức “xã hội ba đào ký” trước 1945 do nhà văn Nguyễn Công Hoan cầm trịch trên báo chí từng làm sôi động văn đàn. Người Việt có lắm giấc mộng nào là thành đế vương, nào là thành triệu phú, nào là thành nhân tài, thành “sao”,....Nhưng đa số lại thiếu hẳn cái căn cơ là tinh thần thực tiễn nên mới ăn quả đắng như nhân vật anh chàng Thắng trong truyện, như lời nhận xét của cô bạn gái có cảm tình  với anh chàng đi tìm miền đất hứa “Tại bạn không cố gắng. Sống được trên nước Mỹ yêu cầu người ta phải có nghị lực ghê gớm vì đó là cả một cuộc cạnh tranh khốc liệt để làm giàu, còn bạn vẫn không thoát ra khỏi những chiến thắng hư ảo”.

 Trong Mây hồng, ngòi bút của nhà văn hướng tới một mạch (dòng chảy) đời sống khác - nơi những con người bình thường nhưng tử tế trú ngụ, tỏa sáng, giữ tròn thiên lương, bảo tồn nhân cách trong bất kỳ tình huống nào của đời sống. Theo tôi, nước ta hiện không thiếu những người thông minh (cứ xem số lượng mấy chục nghìn tiến sĩ thì rõ), song le đáng tiếc ta còn thiếu những người tử tế. Nên đời sống cứ loanh quanh, eo xèo, đôi khi như là bế tắc, kiểu như “mảnh đất lắm người nhiều ma” vậy. Đi tìm con người tử tế, nâng cao vị thế của nó trong nghệ thuật ngôn từ, với nhà văn Nguyễn Trường, theo tôi là một niềm say mê có tính bẩm sinh cốt cách từ trong máu huyết, sau đó hiện hình trên từng trang văn ngày càng rõ ràng như dưới thanh thiên bạch nhật. Quà tặng tương lai (một trong ba truyện ngắn được giải thưởng báo Văn nghệ 2017, như đã nói ở trên) đã làm phát lộ phương diện quan trọng của sự viết văn - đề cao tình nghĩa của con người tử tế trong lối sống, văn hóa ứng xử. Nhân vật người Mẹ trong truyện hiện lên như một liệt nữ. Viết theo hướng này thực sự nhà văn đã thể hiện cái ý thức chắt chiu cái đẹp. Người Mẹ trong truyện không bao giờ phản bội lý tưởng về cái đẹp của mình, dẫu có thể là bản năng và tự phát, vì suốt đời bà đã trung thành tuyệt đối với nhân nghĩa. Bà Mẹ là một mẫu mực của con người bảo lưu  được ký ức lương thiện. Các nhân vật ấn tượng nổi bật khác như Danh Tốt trong Người của đảo, Mỹ Hương trong Chuyện trên biển Cần Giờ,...đều là những con người bình thường, thậm chí đôi khi bị khuất lấp giữa dòng đời được nhà văn đặc biệt quan tâm với nhiệt hứng khích lệ, cổ vũ, thậm chí có sự phóng đại (khuyếch đại) thẩm mỹ cái tốt và cái đẹp, theo sự dẫn dắt của nguyên lý tối thượng “cái đẹp chính là đời sống’.

Nhân vật được ghi vào sử sách trong truyện ngắn Nguyễn Trường có cái đặc tính “hòa âm” giữa bản năng và lý trí, giữa khả năng thích nghi thời cuộc, tầm nhìn lịch sử và tinh thần tiết tháo kẻ sĩ, tiêu biểu như nhân vật Đại tướng Dương Văn Minh - trên ngôi vị Tổng thống cuối cùng (chỉ trong ba ngày) của Việt Nam Cộng hòa (Chính quyền Sài Gòn) trong truyện Điểm gặp lịch sử. Đồng ý rằng đã là truyện đều hư cấu, song Điểm gặp lịch sử gây ấn tượng với độc giả như thể một phóng sự văn học thú vị “Dương Văn Minh cầm tấm ảnh mà ông đạo Dừa đã trả lại ngẫm nghĩ “Chỉ có con đường thuận theo lòng dân là thắng”; ông đã thẳng thắn trả lời Francoiis Vanussème - Tướng tình báo ở Đại sứ quán Pháp tại Sài Gòn “Tôi từng làm việc cho Pháp, rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi, bây giờ không dại gì sa vào bẫy của nước lớn”. Lời nhận xét của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt về Đại tướng Dương Văn Minh quả là nhân ái và công tâm “Còn ông đã góp phần cứu Sài Gòn này không bị đổ nát, cứu sinh mạng hàng vạn con người. Nhất là không đưa đất nước lại rơi vào vòng xoáy chiến tranh”. Chắc hẳn nhiều người đã thích thú đọc sách Dương Văn Minh - Tổng thống cuối cùng của Chính quyền Sài Gòn của nhà báo - nhà văn Nguyễn Trần Thiết. Nhưng nếu cần một ấn tượng duy nhất và ám ảnh thì có thể đọc thiên truyện Điểm gặp lịch sử của nhà văn Nguyễn Trường, cũng có thể đủ đầy.
 

Những biến tấu chữ hay là sự linh hoạt bút pháp

Trong các bài viết trực tiếp hay có liên quan đến nhà văn Nguyễn Trường, tôi từng khẳng định rằng, dường như “ông” này hoàn toàn xa lạ với các chủ nghĩa (ism) thời thượng đang như một cơn sốt từ nhẹ chuyển sang nặng trong văn giới nước nhà, rõ nhất ở thế hệ F+ (7X, 8X, 9X) - nào là Hậu hiện đại, Hậu thực dân, Nữ quyền luận, nào là Phi lý, Phân tâm học, Sinh thái học,... đang như nấm mọc mùa xuân. Những động thái này biểu hiện sự xa rời hay cắt đứt với truyền thống dân tộc trong sự nỗ lực (hay là nôn nóng thì đúng hơn) hiện đại hóa nghệ thuật ngôn từ nhưng đáng tiếc thiếu sự chính cương, thiếu sự hợp lý hợp tình, hẳn vì nghệ thuật không phải là thời trang.

Đọc văn Nguyễn Trường (tiểu thuyết, truyện ngắn) tôi thấy nhà văn dường như thể cứ đủng đỉnh, tự tại, tự tin “lối cũ ta về” khi viết. Cốt cách này lần nữa hiện hình rất đậm đà trong tập truyện ngắn thứ ba có tựa Mây hồng. Tính truyền thống của các thiên truyện chính là nương tựa (dựa hẳn) vào các “tích trò”, “sự tích”, “chuyện” hiện tồn trong thực tế, hoặc giả trở thành như là những giả định về đức tin của tâm linh. Những thiên truyện như Di cảo của cha, Quà tặng tương lai gần với mô hình cổ tích, nhưng là cổ tích thời hiện đại; lại có những “cái ngắn” gần với tích tuồng như Người từ nước Mỹ trở về;  có cái ngắn gần với thể truyền kỳ như Người trong cõi mộng, Mây hồng,...

Nếu nói phong cách văn xuôi Nguyễn Trường được xác nhận trong khung khổ “tâm lý - triết lý - trữ tình” thì quả thực tập truyện Mây hồng đã thực thi được cái gọi là “neo chữ”, cũng bởi sự biến ảo của bút pháp. Mười hai truyện trong tập nương theo những mạch cảm hứng khác nhau kiến tạo nên những bút pháp linh hoạt: lúc hoạt kê (Người từ nước Mỹ trở về), lúc huyền kỳ (Người trong cõi mộng), lúc tân văn (Điểm gặp lịch sử), lúc trữ tình (Quà tặng tương lai), lúc triết luận (Di cảo của cha), lúc tâm lý (Đồi phượng hoàng),...

Nguyễn Trường có hai truyện viết rất kỹ và thú vị về nghề văn: Di cảo của chaTác phẩm còn lại (in trên báo Văn nghệ số Tết Giáp Thìn). Hai thiên truyện này, theo tôi, có yếu tố tự truyện. Đọc hai thiên này tôi liên hệ tới bài viết hàm súc và sâu sắc của Nguyễn Minh Châu, có tựa Nam Cao “Thật thế, cuối cùng, ta có thể nói rằng cả một đời cầm bút của Nam Cao cứ đau đáu nhìn vào cái nhân cách. (....). Văn chương Nam Cao làm người ta “mệt” vì thế, vì những dòng văn xuôi của ông như một sợi dây thừng cứ bện lấy chúng ta, không cho phép một ai trong chúng ta  rời khỏi chính mình, quay lưng lại với phần lương tâm nhân cách của chính mình, hoặc tự nhìn mình bằng con mắt bông phèng hoặc nửa vời, để có thể sống vô trách nhiệm, buông thả” (Nguyễn Minh Châu toàn tập, năm tập, tập V, Nxb Văn học, 2001).

Mây hồng của nhà văn Nguyễn Trường dĩ nhiên chưa phải là một cái gì toàn bích, dễ hiểu vì tất cả chỉ là tương đối. Nhưng có thể khẳng định, tác phẩm góp một tiếng nói nghệ thuật mới mẻ, đầy trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ nhân cách như một hoạt động tinh thần mang ý nghĩa văn hóa. Vì tột cùng văn hóa là con người.

Hà Nội, 2-2024/B.V.T

Nguồn: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 116, ngày 21/3/2024

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm