TIN TỨC

Sức bền của ngòi bút

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-03-29 16:57:07
mail facebook google pos stwis
2850 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

(Nghĩ từ Mây hồng, tập truyện ngắn của Nguyễn Trường, Nxb Thanh niên, 2023)


Duyên văn, hay là sức bền của ngòi bút

Nhà văn Nguyễn Trường đoạt ngôi Khôi nguyên Cuộc thi truyện ngắn 2015-2017 báo Văn nghệ với chùm truyện Vương quốc mộng mơ, Quà tặng tương lai, Mùa thanh long. Giải thưởng văn chương như là một thứ “vương miện” của nghệ thuật ngôn từ, một cuộc vượt vũ môn ngoạn mục trong nghề chữ. Nhưng bằng trải nghiệm văn chương, những độc giả tinh tường sẽ không thỏa mãn với “mức xà” mà nhà văn mình yêu thích vừa vượt qua, trái lại luôn hồi hộp đón chờ và kỳ vọng vào những thành tích mới, kỷ lục mới của người đó trong tương lai gần và xa. Tính đến năm 2023, nhà văn Nguyễn Trường đã làm chủ một “văn sản” không hẳn đã đầy đặn về số lượng nhưng rõ ràng tiệm tiến chất lượng nghệ thuật, hay nói cách khác là thặng dư hàm lượng văn hóa: bốn tiểu thuyết (Hơn cả tình yêu, Mộng đế vương,  Đi qua thời áo trắng, Tâm linh) và ba tập truyện ngắn (Thiên nhãn, Khai khẩu, Mây hồng), chưa kể đến một tập tiểu luận - phê bình viết chắc tay Văn học - Một hướng nhìn. Riêng viết truyện ngắn, kể từ Đêm chiến tranh in vào đầu những năm chín mươi thế kỷ trước đến nay, nhà văn đã có một “pho” chừng khoảng bốn chục “cái”. Nói duyên văn hay dấu ấn Nguyễn Trường trên văn đàn đương đại, hẳn là nhờ vào truyện ngắn. Tôi nghĩ, sau Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Bảo Ninh có Sương Nguyệt Minh, Trần Thùy Mai, Nguyễn Trường, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thi Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư đã góp công tôn cao cái nền vững chắc của truyện ngắn dân tộc thờì nay.

 Cổ nhân hay nói đến chữ “duyên” áp vào mỗi số phận con người, nếu vận vào lĩnh vực văn học nghệ thuật lại càng sát thực. Thi sĩ Xuân Diệu có bài Thơ duyên rất hay, càng đọc càng thấy ý vị (cái duyên tạo nên sự hấp dẫn của thơ ca cũng như cái duyên tạo nên sự hấp dẫn của một cô gái dẫu nhan sắc chưa đến độ “nghiêng nước nghiêng thành”). Đọc rồi vận vào chuyện viết lách của giới văn chương  càng thấm thía. Theo cách diễn đạt của giới lý luận - phê bình thì đó là năng lực “neo chữ” của người viết khiến cho chữ được “neo” vào ký ức độc giả. Không nhiều nhà văn như Nguyễn Trường trong bốn năm liền được chọn Top 10 truyện ngắn hay báo Văn nghệ (2016, 2017, 2018, 2020). Đặc biệt hơn, báo Văn nghệ đã ưu ái dành hẳn một trang đăng ý kiến của độc giả và nhà văn về thiên truyện Khai khẩu (đăng báo Văn nghệ số 35+36, ra ngày 1/9/2018), đây là  một trong những “cái ngắn” đậm đà phong cách Nguyễn Trường (tâm lý - triết lý - trữ tình). Trên báo Văn nghệ số Tết Giáp Thìn, nhà văn Nguyễn Trường đứng chân truyện ngắn Tác phẩm còn lại. Với “cái ngắn” này, tôi nghĩ, số báo Văn nghệ Tết càng thêm “bắt mắt”, thậm chí nhiều bạn văn còn nói có thể còn tăng tirage (số lượng in) nữa.
 

 Đi tìm sự thật trong những mảnh vỡ của số phận

Mây hồng là tập truyện ngắn thứ ba của nhà văn Nguyễn Trường, gồm 12 truyện (Di cảo của cha, Người từ nước Mỹ trở về, Người của đảo, Bữa cơm chiều ba mươi tết, Người trong cõi mộng, Đồi Phượng Hoàng, Minh châu tỏa sáng, Mây hồng, Chuyện trên biển Cần Giờ,  Người viết sử, Điểm gặp lịch sử, Quà tặng tương lai). Mỗi truyện, trừ truyện Mây hồng được dùng làm đặt tên cho cả tập, tôi hình dung, như là những “mảnh vỡ” của số phận, của kiếp người, như là những “góc khuất” của đời sống xã hội và con người trong cõi nhân gian lắm cuộc bể dâu, tang thương ngẫu lục. Có thể thấy chủ đề xuyên suốt nhiều truyện trong Mây hồng là nỗi niềm và khát vọng của con người trên hành trình đi tìm sự thật, cao hơn và cuối cùng là chân lý. Di cảo của cha là một thiên truyện cô đặc được chủ đề trung tâm và quan  trọng này - sự thật mang tính khách quan hay mang tính chủ quan, luôn luôn là một câu hỏi lớn và khó với con người mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi thế hệ. Sau bao biến cố thăng trầm, sau nhiều trải nghiệm người con mới ngộ ra “Nhưng Cha ơi, việc của đời xưa từng mơ hồ, lẫn lộn, phải tìm ra sự thật mới được vinh danh”. Truyện Người từ nước Mỹ trở về, theo tôi, là một “biến tấu chữ” trong cách viết của Nguyễn Trường, nếu có thể nói thì nó hao hao dạng thức “xã hội ba đào ký” trước 1945 do nhà văn Nguyễn Công Hoan cầm trịch trên báo chí từng làm sôi động văn đàn. Người Việt có lắm giấc mộng nào là thành đế vương, nào là thành triệu phú, nào là thành nhân tài, thành “sao”,....Nhưng đa số lại thiếu hẳn cái căn cơ là tinh thần thực tiễn nên mới ăn quả đắng như nhân vật anh chàng Thắng trong truyện, như lời nhận xét của cô bạn gái có cảm tình  với anh chàng đi tìm miền đất hứa “Tại bạn không cố gắng. Sống được trên nước Mỹ yêu cầu người ta phải có nghị lực ghê gớm vì đó là cả một cuộc cạnh tranh khốc liệt để làm giàu, còn bạn vẫn không thoát ra khỏi những chiến thắng hư ảo”.

 Trong Mây hồng, ngòi bút của nhà văn hướng tới một mạch (dòng chảy) đời sống khác - nơi những con người bình thường nhưng tử tế trú ngụ, tỏa sáng, giữ tròn thiên lương, bảo tồn nhân cách trong bất kỳ tình huống nào của đời sống. Theo tôi, nước ta hiện không thiếu những người thông minh (cứ xem số lượng mấy chục nghìn tiến sĩ thì rõ), song le đáng tiếc ta còn thiếu những người tử tế. Nên đời sống cứ loanh quanh, eo xèo, đôi khi như là bế tắc, kiểu như “mảnh đất lắm người nhiều ma” vậy. Đi tìm con người tử tế, nâng cao vị thế của nó trong nghệ thuật ngôn từ, với nhà văn Nguyễn Trường, theo tôi là một niềm say mê có tính bẩm sinh cốt cách từ trong máu huyết, sau đó hiện hình trên từng trang văn ngày càng rõ ràng như dưới thanh thiên bạch nhật. Quà tặng tương lai (một trong ba truyện ngắn được giải thưởng báo Văn nghệ 2017, như đã nói ở trên) đã làm phát lộ phương diện quan trọng của sự viết văn - đề cao tình nghĩa của con người tử tế trong lối sống, văn hóa ứng xử. Nhân vật người Mẹ trong truyện hiện lên như một liệt nữ. Viết theo hướng này thực sự nhà văn đã thể hiện cái ý thức chắt chiu cái đẹp. Người Mẹ trong truyện không bao giờ phản bội lý tưởng về cái đẹp của mình, dẫu có thể là bản năng và tự phát, vì suốt đời bà đã trung thành tuyệt đối với nhân nghĩa. Bà Mẹ là một mẫu mực của con người bảo lưu  được ký ức lương thiện. Các nhân vật ấn tượng nổi bật khác như Danh Tốt trong Người của đảo, Mỹ Hương trong Chuyện trên biển Cần Giờ,...đều là những con người bình thường, thậm chí đôi khi bị khuất lấp giữa dòng đời được nhà văn đặc biệt quan tâm với nhiệt hứng khích lệ, cổ vũ, thậm chí có sự phóng đại (khuyếch đại) thẩm mỹ cái tốt và cái đẹp, theo sự dẫn dắt của nguyên lý tối thượng “cái đẹp chính là đời sống’.

Nhân vật được ghi vào sử sách trong truyện ngắn Nguyễn Trường có cái đặc tính “hòa âm” giữa bản năng và lý trí, giữa khả năng thích nghi thời cuộc, tầm nhìn lịch sử và tinh thần tiết tháo kẻ sĩ, tiêu biểu như nhân vật Đại tướng Dương Văn Minh - trên ngôi vị Tổng thống cuối cùng (chỉ trong ba ngày) của Việt Nam Cộng hòa (Chính quyền Sài Gòn) trong truyện Điểm gặp lịch sử. Đồng ý rằng đã là truyện đều hư cấu, song Điểm gặp lịch sử gây ấn tượng với độc giả như thể một phóng sự văn học thú vị “Dương Văn Minh cầm tấm ảnh mà ông đạo Dừa đã trả lại ngẫm nghĩ “Chỉ có con đường thuận theo lòng dân là thắng”; ông đã thẳng thắn trả lời Francoiis Vanussème - Tướng tình báo ở Đại sứ quán Pháp tại Sài Gòn “Tôi từng làm việc cho Pháp, rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi, bây giờ không dại gì sa vào bẫy của nước lớn”. Lời nhận xét của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt về Đại tướng Dương Văn Minh quả là nhân ái và công tâm “Còn ông đã góp phần cứu Sài Gòn này không bị đổ nát, cứu sinh mạng hàng vạn con người. Nhất là không đưa đất nước lại rơi vào vòng xoáy chiến tranh”. Chắc hẳn nhiều người đã thích thú đọc sách Dương Văn Minh - Tổng thống cuối cùng của Chính quyền Sài Gòn của nhà báo - nhà văn Nguyễn Trần Thiết. Nhưng nếu cần một ấn tượng duy nhất và ám ảnh thì có thể đọc thiên truyện Điểm gặp lịch sử của nhà văn Nguyễn Trường, cũng có thể đủ đầy.
 

Những biến tấu chữ hay là sự linh hoạt bút pháp

Trong các bài viết trực tiếp hay có liên quan đến nhà văn Nguyễn Trường, tôi từng khẳng định rằng, dường như “ông” này hoàn toàn xa lạ với các chủ nghĩa (ism) thời thượng đang như một cơn sốt từ nhẹ chuyển sang nặng trong văn giới nước nhà, rõ nhất ở thế hệ F+ (7X, 8X, 9X) - nào là Hậu hiện đại, Hậu thực dân, Nữ quyền luận, nào là Phi lý, Phân tâm học, Sinh thái học,... đang như nấm mọc mùa xuân. Những động thái này biểu hiện sự xa rời hay cắt đứt với truyền thống dân tộc trong sự nỗ lực (hay là nôn nóng thì đúng hơn) hiện đại hóa nghệ thuật ngôn từ nhưng đáng tiếc thiếu sự chính cương, thiếu sự hợp lý hợp tình, hẳn vì nghệ thuật không phải là thời trang.

Đọc văn Nguyễn Trường (tiểu thuyết, truyện ngắn) tôi thấy nhà văn dường như thể cứ đủng đỉnh, tự tại, tự tin “lối cũ ta về” khi viết. Cốt cách này lần nữa hiện hình rất đậm đà trong tập truyện ngắn thứ ba có tựa Mây hồng. Tính truyền thống của các thiên truyện chính là nương tựa (dựa hẳn) vào các “tích trò”, “sự tích”, “chuyện” hiện tồn trong thực tế, hoặc giả trở thành như là những giả định về đức tin của tâm linh. Những thiên truyện như Di cảo của cha, Quà tặng tương lai gần với mô hình cổ tích, nhưng là cổ tích thời hiện đại; lại có những “cái ngắn” gần với tích tuồng như Người từ nước Mỹ trở về;  có cái ngắn gần với thể truyền kỳ như Người trong cõi mộng, Mây hồng,...

Nếu nói phong cách văn xuôi Nguyễn Trường được xác nhận trong khung khổ “tâm lý - triết lý - trữ tình” thì quả thực tập truyện Mây hồng đã thực thi được cái gọi là “neo chữ”, cũng bởi sự biến ảo của bút pháp. Mười hai truyện trong tập nương theo những mạch cảm hứng khác nhau kiến tạo nên những bút pháp linh hoạt: lúc hoạt kê (Người từ nước Mỹ trở về), lúc huyền kỳ (Người trong cõi mộng), lúc tân văn (Điểm gặp lịch sử), lúc trữ tình (Quà tặng tương lai), lúc triết luận (Di cảo của cha), lúc tâm lý (Đồi phượng hoàng),...

Nguyễn Trường có hai truyện viết rất kỹ và thú vị về nghề văn: Di cảo của chaTác phẩm còn lại (in trên báo Văn nghệ số Tết Giáp Thìn). Hai thiên truyện này, theo tôi, có yếu tố tự truyện. Đọc hai thiên này tôi liên hệ tới bài viết hàm súc và sâu sắc của Nguyễn Minh Châu, có tựa Nam Cao “Thật thế, cuối cùng, ta có thể nói rằng cả một đời cầm bút của Nam Cao cứ đau đáu nhìn vào cái nhân cách. (....). Văn chương Nam Cao làm người ta “mệt” vì thế, vì những dòng văn xuôi của ông như một sợi dây thừng cứ bện lấy chúng ta, không cho phép một ai trong chúng ta  rời khỏi chính mình, quay lưng lại với phần lương tâm nhân cách của chính mình, hoặc tự nhìn mình bằng con mắt bông phèng hoặc nửa vời, để có thể sống vô trách nhiệm, buông thả” (Nguyễn Minh Châu toàn tập, năm tập, tập V, Nxb Văn học, 2001).

Mây hồng của nhà văn Nguyễn Trường dĩ nhiên chưa phải là một cái gì toàn bích, dễ hiểu vì tất cả chỉ là tương đối. Nhưng có thể khẳng định, tác phẩm góp một tiếng nói nghệ thuật mới mẻ, đầy trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ nhân cách như một hoạt động tinh thần mang ý nghĩa văn hóa. Vì tột cùng văn hóa là con người.

Hà Nội, 2-2024/B.V.T

Nguồn: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 116, ngày 21/3/2024

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm