TIN TỨC

Triết lý nhân sinh trong cảm thức thơ của Hoàng Vũ Thuật

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-11-16 10:48:19
mail facebook google pos stwis
936 lượt xem

Lê Nga

Đối với thi sĩ, cái tôi trữ tình phần nào đại diện cho những kiếp nhân sinh mà họ quan sát, gặp gỡ và cảm tưởng. Con người thi ca tìm thấy và chịu đựng được khổ đau của mình, nhưng không chịu đựng được khổ đau của nhân loại. Họ cất tiếng thay cho nhân loại, bằng trái tim đã thấm thía những nỗi đời riêng.

Trong hành trang của mỗi con người, cái rung động ngây thơ của tuổi trẻ, cái nổi loạn của thanh xuân trong một lí tưởng hoàn mĩ dần được thay thế bằng sự trầm lắng của con người nhận thức thực tại. Người đời thường chấp nhận rằng thực tại rất khó có thể được cải hoá theo lí tưởng nếu chỉ bằng nỗ lực cá nhân. Nhưng con người thi ca nhận thức sâu hơn điều đó, về tình thế tồn tại của mình, đó là cái thế lẻ loi và cô đơn bắt buộc con người đối diện với hữu thể, với vũ trụ. Tất cả những mơ tưởng ban đầu của thi nhân vốn đã nhuốm một nỗi lo âu bản năng. Thế nên, thi nhân của tuổi sáu mươi và thi nhân của tuổi mười tám gặp nhau không mấy ngượng ngùng. Khi ý nghĩa sống trở về/ ông đứng lên bằng trái tim mặt trời ấm áp tinh khôi/ đi lại bằng đôi chân cha mẹ cho mình (Hồi sinh – Hoàng Vũ Thuật).

Ở nhà thơ Hoàng Vũ Thuật, ta nhận thấy có một điển hình cho cuộc chuyển mình về nhận thức của hai chủ thể: từ con người của đời sống cá nhân đến con người hiện sinh đứng trước vũ trụ. Cái cảm thức hiện sinh của ông cựa quậy và thức giấc trong từng khoảnh khắc, giúp ông bước thẳng từ ngôi nhà, góc phố sang vũ trụ mơ tưởng của riêng mình với đầy những chiêm nghiệm tồn tại: “thân phận của ngày tuồn vào chiếc phễu khổng lồ của đêm (Nhịp của đêm). Tư tưởng của thi sĩ nếu được ví như một mũi tên, thì luôn được định hướng để nhắm đến bí ẩn của tồn tại. Thi nghiệp của Hoàng Vũ Thuật đi từ những trải nghiệm cá nhân, đến hoà nhịp với nhân loại, đến xây dựng thế giới của riêng mình để qua đó đối thoại với vũ trụ và tồn tại.

Âu lo là một trong những phạm trù hiện sinh quan trọng. Âu lo không đơn thuần là một cảm giác. Với thuyết hiện sinh, âu lo hiện rõ như một thái độ sống, bởi lẽ “Con người không sẵn lòng để nghĩ suy về tính vĩnh cửu một cách nghiêm chỉnh, nhưng lo âu về nó. Lo âu có thể bày ra hàng trăm sự thoái thác khác nhau” (Soren Kierkegaard). Cùng với hữu thể, âu lo có trong mỗi con người kể từ khi họ được “quăng ném” vào thế giới. Âu lo về một tương lai không biết trước, về một hiện diện không chắc chắn, về một ý nghĩa sống chưa được cắt nghĩa rõ. Những sinh hoạt hàng ngày lấp đầy đi thời gian, có vẻ như con người tránh né được âu lo hiện sinh. Nhưng âu lo hiện sinh vẫn len lỏi và chẻ vụn ra thành những nỗi niềm riêng của từng cuộc sinh tồn: sự mưu sinh, tình yêu, sự công nhận, sự tôn trọng, được và mất, lưu luyến và đáng quên, thăng hoa và cụt hứng, điểm tô và tránh né… Những giải pháp tạm thời được đưa ra, hoặc để giải tán nỗi lo, hoặc để chấp nhận sự mất mát, thương tổn… tạo nên những diễn ngôn khác nhau về “kinh nghiệm sống”. Nhưng đó chỉ là “phần ngọn”, âu lo hiện sinh không và không bao giờ biến mất. Vì con người vẫn còn ở đó với cuộc đời hữu hạn giữa vũ trụ vô cùng. Có người tìm đến đáy của âu lo và có người tìm cách tránh né âu lo. Với những nghệ sĩ lớn, họ dũng cảm đối diện, ôm ấp và nâng niu nỗi âu lo hiện sinh như một nguồn sống của sáng tạo.

Nhìn sang sự nghiệp thi ca của Hoàng Vũ Thuật, thấy cảm thức âu lo trải dài suốt hành trình viết của ông. Từ trái tim tuổi trẻ đến mái đầu bạc, cái âu lo hiện sinh cứ chực chờ mai phục, biến thế giới thực tại thành một chất liệu để chủ thể hiện sinh sẵn sàng phóng chiếu nỗi lo. Ở những tập thơ Những bông hoa trên cát (1979), Thế giới bàn tay trái (1989) là cảm thức bơ vơ lạc loài trước cuộc đời và tình yêu; đến Một mai gió chở tôi về (2019), Người câu gió (2022) là cảm thức về cái chết trước một thế giới đổ vỡ, là nỗi ảm ảnh hư vô về kiếp nhân sinh.

Ngay từ những tập thơ đầu tiên, trong một Hoàng Vũ Thuật trẻ trung đã sẵn có cảm thức bơ vơ, lạc loài. Cái cảm thức ấy xen giữa ngay những phút giây tưởng như lạc quan nhất:

Hoàng hôn về thành phố trống trơ

Bức tường đổ vùi trong ráng đỏ

Đã hiện lên trên bầu trời thành phố

Những ngôi sao trong truyện cổ xa vời

Những ngôi sao xanh có tiếng bà cười

Bên bếp lửa ngày xưa bà kể lại

Ngoài đường phố đèn giăng lấp láy

Tôi mơ màng lạc giữa rừng sao

(Hoàng hôn trên thành phố – rút từ tập Thơ viết từ mùa hạ, 1984)

Chủ thể trữ tình trong những vần thơ đầu của Hoàng Vũ Thuật là con người mang một nỗi luyến tiếc, hoài vọng về nơi mình thuộc về. Một “cố hương” theo ý nghĩa thực tế. Ở bài thơ trên, một sự sụp đổ đã diễn ra bởi hiện thực sau một cuộc chiến, nhưng cũng từ đó một điều gì mới mẻ được phát lộ. “Những ngôi sao trong truyện cổ xa vời” vụt lên giữa cái mất mát của thực tại, chủ thể trữ tình có ngay một chỗ bám víu mới, thông qua một liên lạc về mặt tinh thần với quá khứ. Hiện hữu chỉ là một thuộc tính của tồn tại. Bức tường – hiện hữu của quê hương – đổ vùi không làm mất đi tồn tại quê hương, khi những yếu tính khác vẫn còn đó: “ngôi sao”, “tiếng bà cười”, “bếp lửa ngày xưa”. Tuy nhiên, ta vẫn nhận thấy có một cái gì đã lay đổ: “tôi mơ màng lạc giữa rừng sao”. Bảy câu thơ đầu đi từ thế giới bên ngoài đến thế giới nội tâm của chủ thể, nhưng phải đến câu thơ thứ tám mới là một sự đối diện. Cái “lạc” kia là của một cái “tôi” bâng khuâng giữa hạnh phúc và mất mát như Lưu Nguyễn đã mất đi đường về Thiên Thai. Nhưng tất cả còn rất chìm lặng và lãng đãng của một âu lo vừa chớm nở. Bài thơ nhìn chung mang cảm hứng lạc quan xen lẫn tiếc nhớ của một người vẫn còn tuổi trẻ và còn đủ thời gian để thâu nhận khám phá những biến đổi của hoàn cảnh bên ngoài lẫn tâm tình bên trong mình.

Men theo sự nghiệp thơ Hoàng Vũ Thuật, thấy cảm thức ấy cứ lớn lên mãi không thôi. Một Hoàng Vũ Thuật bị bứng đi khỏi điểm tựa quê hương không phải bởi ngăn cách không gian, mà bởi trở lực thời gian. Ở tập thơ Đám mây lơ lửng (2000) chẳng hạn, ta bắt gặp một thi nhân thực sự đã tiến gần đến chân trời hiện sinh:

Tôi đã xa

dòng sông chảy ra từ mái tóc thơm huyền thoại

cây cầu bắc ngang cổ tích

người bạn thơ hoàng tộc dỗi hờn

(Tôi đã xa)

Có một gạch nối từ Hoàng hôn trên thành phố đến Tôi đã xa, sau mười sáu năm giữa hai lần xuất bản. “Tôi đã xa” là một mệnh đề chủ động. Cái “tôi” ở đây dường như là cái “tôi” được quan sát, là phần “tôi” được nhìn nhận đã tách mình đi khỏi thế giới tinh thần nguyên sơ không sao cứu vãn được. Đó là tình thế bơ vơ mà chủ thể trữ tình chỉ có thể chọn tư thế quan sát và tường thuật. Nhưng cũng từ đây, thơ Hoàng Vũ Thuật nhuốm màu lạc lõng, một sự lạc lõng ban đầu do một tình thế hiện sinh (tách mình ra khỏi không thời gian cũ), nhưng về sau, lạc lõng như là một quê hương mới. Con người bị bóc khỏi thế giới ý nghĩa, bóc khỏi vũ trụ của những gì tự hiển nhiên hoặc được cho sẵn, được định nghĩa trước. Thế rồi “nghĩa” ấy lung lay dần, và thi nhân phải đối diện với vũ trụ trần trụi của những “cái nhìn thấy”.

Tôi đã xa

bậc cầu thang xoáy hình trôn ốc

sự lặp lại mỏi mệt đời thường

chiếc ổ khoá Hải Phòng dễ mở

để vào ngôi nhà tạm

phên nứa ngăn từng ô

đôi khi tôi bước nhầm qua nhà hàng xóm

thời vua chúa vẫn còn đâu đây

Sự lạc lõng được luỹ thừa lên trong những đoạn thơ tiếp theo, cao trào tập trung ở chính giữa bài thơ: “đôi khi tôi bước nhầm qua nhà hàng xóm”. Cái “mỏi mệt đời thường” không còn làm phiền tác giả nữa, trái lại, nó thuộc về một thế giới quen đã xa rồi. Mảnh vụn ấy của âu lo hiện sinh đã được xếp vào những gì cũ hỏng. Cái cần giải quyết trong cuộc đời bây giờ đã lớn hơn. Dứt khỏi cố hương tinh thần, cái “tôi” trữ tình bước qua không – thời gian và hiện hữu ở một nơi khác: “thời vua chúa vẫn còn đâu đây”. Đây là cuộc dịch chuyển của “tôi” sinh hoạt đời thường và “tôi” hiện sinh. “Tôi” sinh hoạt đời thường là của nhà xưa phố cũ, với “chiếc ổ khoá Hải Phòng”. “Tôi” hiện sinh là một “tôi” khác:

Tôi đã xa cả niềm nhớ nhung

ngày mỗi ngày lớn dậy

như cây bồ đề vụt cao trong những ngôi chùa cổ

như cơn mưa nơi ấy

kéo dài dầm dã tới nơi đây

Từ chối dấu vết đời thường là một cuộc tự suy tư về bản thể:

Anh cũng vậy giữa màn sương phủ

Sánh sao cùng trinh trắng tình em

Hãy chôn đi những vần thơ xấu số

Để trời xanh muôn thuở bình yên

(Những câu thơ tôi viết)

Sinh quyển của thi ca Hoàng Vũ Thuật đầy ắp nỗi buồn và lo âu về thân phận. Thơ ông không có câu chuyện, mà chỉ có những khoảnh khắc bay bổng, nơi chủ thể trữ tình chìm đắm trong cái khắc khoải, sầu muộn không rõ nguyên do. Nỗi buồn và lo âu ấy không phải đến từ một sự vụ cụ thể trong đời, mà nó toát lộ từ những cảnh trạng hiện sinh. Nó là nỗi buồn sâu kín bản thể, tạo ra nền tảng để nhà thơ suy niệm, truy tầm về ý nghĩa của cuộc đời. Ánh mắt của nhà thơ luôn nhìn về phía đó, phía của bí ẩn tồn tại. Thi sĩ vừa tin yêu cuộc đời vừa lo sợ bỏ lỡ những gì đẹp đẽ trác tuyệt của sự sống.

L.N/VNQĐ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mai Quỳnh Nam và một phía
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về thơ Mai Quỳnh Nam
Xem thêm
Một đêm trăng không dễ có ở trên đời!
Bài viết của nhà văn Tuấn Trần.
Xem thêm
Một vọng âm quá khứ hào hùng nhưng lắm đau thương
Đọc “Hòa âm đêm”, Nxb Hội Nhà văn, 2024 của Trương Tuyết Mai
Xem thêm
Khám phá vương triều Tiền Lý qua tiểu thuyết lịch sử
Thượng tá, nhà văn Phùng Văn Khai là người khá đa di năng. Từ lúc bước vào văn nghiệp, anh viết kí, truyện ngắn, làm thơ, cày báo… đều đặn, thuộc dạng “nhạc nào cũng nhảy được” và nhảy khá hay.
Xem thêm
Triệu hạt tâm hồn rót đầy biển tình yêu
Võ Thị Như Mai đọc PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ, Nguyễn Đức Quận, NXB Hội nhà văn, 2024.
Xem thêm
Tiểu luận Võ Quốc Việt: Vài cảm nhận về Cuộc thi Thơ 1-2-3
Cuộc thi Thơ 1-2-3 (The 1-2-3 Poetry Style/ Phannist Poetry) năm 2024 – 2025 đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo các tác giả trong lẫn ngoài nước và đã công bố kết quả. Nhà lý luận phê bình, nhà thơ Võ Quốc Việt – Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thay mặt Ban Chung khảo đã có bài tiểu luận công phu, sâu sắc mang tính tổng kết về cuộc thi. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Xem thêm
Đọc tập thơ Dọc đường máu của Vương Cường
Nguyên Hùng giới thiệu tập thơ mới của Tiến sĩ nhà thơ Vương Cường
Xem thêm
Vũ điệu tái sinh trong từng cơn đau
Bái viết về tập thơ “Nghiêng về phía nỗi đau” tập thơ của Trịnh Bích Ngân (NXB Hội Nhà văn, quý II, 2024)
Xem thêm
“Ai cũng có ngày xưa” của nhà thơ Trần Duy Hiển
Gió vẫn thổi suốt chiều dài trận mạc/ Người nhẹ nhàng nằm lại lúc vượt sông
Xem thêm
“Theo chồng về quê” của Mai Khoa – một bài thơ hay
Bởi yêu chồng từ lúc mới bén duyên/ Như tình biển yêu thuyền thương nhớ
Xem thêm
Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam
Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ (TCVTT/ Trương Văn Dân)
Xem thêm
Thi ca đương đại nhìn từ hệ hình nghệ thuật và chất suy tưởng của thơ
Sáng ngày 12.02.2025 tại Ninh Bình, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức tọa đàm “Trách nhiệm và khát vọng của nhà thơ”. Dưới đây là tham luận của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.
Xem thêm
Tôi đọc bài thơ Đừng sợ một mình của thi sĩ Trần Mạnh Hảo
Trần Mạnh Hảo và thơ ông đã sớm là “tín ngưỡng” đẹp nhất trong lòng của những người yêu thơ, quý chữ nghĩa chân chính. Từ thời còn trên giảng đường đại học, tôi đã từng nghe thầy tôi đọc những câu thơ trong trường ca Đất nước hình tia chớp. Từ đó, tôi bắt đầu săn sóc sự học, sự đọc về thơ ông.
Xem thêm
Hoàng đế Quang Trung, danh tướng bách chiến bách thắng
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, hiếm có một anh hùng nào như Hoàng đế Quang Trung, xuất thân áo vải, cả đời chinh chiến, danh vang bốn biển, đánh giặc lập nước, tôn vinh văn hiến, khuyến học khuyến tài, những bậc quốc sĩ danh thần cảm phục uy danh mà theo về giúp rập. Đặc biệt, trong hai lần đại phá quân Xiêm La và quân Thanh, ông đã bằng vào tài năng quân sự thiên bẩm của mình, đánh cho lũ giặc phía Nam, phía Bắc phải kinh hồn táng đởm. Ông từng hào sảng tuyên ngôn trong Chiếu xuất quân khích lệ tướng sĩ khi hành binh ra Bắc Hà đánh tan 29 vạn quân Thanh
Xem thêm
Mùa Xuân trong thơ Dương Xuân Linh
Bài viết của nhà thơ Phùng Hiệu
Xem thêm
Xuân về, đọc thơ Trương Nam Hương
Tuấn Trần viết về tập thơ “Thời nắng xanh” của Trương Nam Hương
Xem thêm
Tình yêu bển đảo trong thơ Lê Tiến Lợi
Nhà thơ Lê Tiến Mợi là một trong những người gắn bó lâu năm với nghiệp văn chương. Anh đã có số lượng tác phẩm khá lớn, trong đó một số sáng tác của anh đã chiếm được cảm tình của người đọc. Sau đây xin trân trọng gửi tới Ban Biên tập Văn chương thành phố Hồ Chí Minh bài viết về tình yêu biển đảo trong thơ anh. Xin chân thành cảm ơn Ban Biên tập khi được cộng tác với Văn chương thành phố Hồ Chí Minh.
Xem thêm
Mảnh trăng tinh tấn hàng cau trổ buồng
Cảm nhận về tập thơ SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA của Nguyễn Quang Thiều
Xem thêm