TIN TỨC

Triết lý nhân sinh trong cảm thức thơ của Hoàng Vũ Thuật

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-11-16 10:48:19
mail facebook google pos stwis
1746 lượt xem

Lê Nga

Đối với thi sĩ, cái tôi trữ tình phần nào đại diện cho những kiếp nhân sinh mà họ quan sát, gặp gỡ và cảm tưởng. Con người thi ca tìm thấy và chịu đựng được khổ đau của mình, nhưng không chịu đựng được khổ đau của nhân loại. Họ cất tiếng thay cho nhân loại, bằng trái tim đã thấm thía những nỗi đời riêng.

Trong hành trang của mỗi con người, cái rung động ngây thơ của tuổi trẻ, cái nổi loạn của thanh xuân trong một lí tưởng hoàn mĩ dần được thay thế bằng sự trầm lắng của con người nhận thức thực tại. Người đời thường chấp nhận rằng thực tại rất khó có thể được cải hoá theo lí tưởng nếu chỉ bằng nỗ lực cá nhân. Nhưng con người thi ca nhận thức sâu hơn điều đó, về tình thế tồn tại của mình, đó là cái thế lẻ loi và cô đơn bắt buộc con người đối diện với hữu thể, với vũ trụ. Tất cả những mơ tưởng ban đầu của thi nhân vốn đã nhuốm một nỗi lo âu bản năng. Thế nên, thi nhân của tuổi sáu mươi và thi nhân của tuổi mười tám gặp nhau không mấy ngượng ngùng. Khi ý nghĩa sống trở về/ ông đứng lên bằng trái tim mặt trời ấm áp tinh khôi/ đi lại bằng đôi chân cha mẹ cho mình (Hồi sinh – Hoàng Vũ Thuật).

Ở nhà thơ Hoàng Vũ Thuật, ta nhận thấy có một điển hình cho cuộc chuyển mình về nhận thức của hai chủ thể: từ con người của đời sống cá nhân đến con người hiện sinh đứng trước vũ trụ. Cái cảm thức hiện sinh của ông cựa quậy và thức giấc trong từng khoảnh khắc, giúp ông bước thẳng từ ngôi nhà, góc phố sang vũ trụ mơ tưởng của riêng mình với đầy những chiêm nghiệm tồn tại: “thân phận của ngày tuồn vào chiếc phễu khổng lồ của đêm (Nhịp của đêm). Tư tưởng của thi sĩ nếu được ví như một mũi tên, thì luôn được định hướng để nhắm đến bí ẩn của tồn tại. Thi nghiệp của Hoàng Vũ Thuật đi từ những trải nghiệm cá nhân, đến hoà nhịp với nhân loại, đến xây dựng thế giới của riêng mình để qua đó đối thoại với vũ trụ và tồn tại.

Âu lo là một trong những phạm trù hiện sinh quan trọng. Âu lo không đơn thuần là một cảm giác. Với thuyết hiện sinh, âu lo hiện rõ như một thái độ sống, bởi lẽ “Con người không sẵn lòng để nghĩ suy về tính vĩnh cửu một cách nghiêm chỉnh, nhưng lo âu về nó. Lo âu có thể bày ra hàng trăm sự thoái thác khác nhau” (Soren Kierkegaard). Cùng với hữu thể, âu lo có trong mỗi con người kể từ khi họ được “quăng ném” vào thế giới. Âu lo về một tương lai không biết trước, về một hiện diện không chắc chắn, về một ý nghĩa sống chưa được cắt nghĩa rõ. Những sinh hoạt hàng ngày lấp đầy đi thời gian, có vẻ như con người tránh né được âu lo hiện sinh. Nhưng âu lo hiện sinh vẫn len lỏi và chẻ vụn ra thành những nỗi niềm riêng của từng cuộc sinh tồn: sự mưu sinh, tình yêu, sự công nhận, sự tôn trọng, được và mất, lưu luyến và đáng quên, thăng hoa và cụt hứng, điểm tô và tránh né… Những giải pháp tạm thời được đưa ra, hoặc để giải tán nỗi lo, hoặc để chấp nhận sự mất mát, thương tổn… tạo nên những diễn ngôn khác nhau về “kinh nghiệm sống”. Nhưng đó chỉ là “phần ngọn”, âu lo hiện sinh không và không bao giờ biến mất. Vì con người vẫn còn ở đó với cuộc đời hữu hạn giữa vũ trụ vô cùng. Có người tìm đến đáy của âu lo và có người tìm cách tránh né âu lo. Với những nghệ sĩ lớn, họ dũng cảm đối diện, ôm ấp và nâng niu nỗi âu lo hiện sinh như một nguồn sống của sáng tạo.

Nhìn sang sự nghiệp thi ca của Hoàng Vũ Thuật, thấy cảm thức âu lo trải dài suốt hành trình viết của ông. Từ trái tim tuổi trẻ đến mái đầu bạc, cái âu lo hiện sinh cứ chực chờ mai phục, biến thế giới thực tại thành một chất liệu để chủ thể hiện sinh sẵn sàng phóng chiếu nỗi lo. Ở những tập thơ Những bông hoa trên cát (1979), Thế giới bàn tay trái (1989) là cảm thức bơ vơ lạc loài trước cuộc đời và tình yêu; đến Một mai gió chở tôi về (2019), Người câu gió (2022) là cảm thức về cái chết trước một thế giới đổ vỡ, là nỗi ảm ảnh hư vô về kiếp nhân sinh.

Ngay từ những tập thơ đầu tiên, trong một Hoàng Vũ Thuật trẻ trung đã sẵn có cảm thức bơ vơ, lạc loài. Cái cảm thức ấy xen giữa ngay những phút giây tưởng như lạc quan nhất:

Hoàng hôn về thành phố trống trơ

Bức tường đổ vùi trong ráng đỏ

Đã hiện lên trên bầu trời thành phố

Những ngôi sao trong truyện cổ xa vời

Những ngôi sao xanh có tiếng bà cười

Bên bếp lửa ngày xưa bà kể lại

Ngoài đường phố đèn giăng lấp láy

Tôi mơ màng lạc giữa rừng sao

(Hoàng hôn trên thành phố – rút từ tập Thơ viết từ mùa hạ, 1984)

Chủ thể trữ tình trong những vần thơ đầu của Hoàng Vũ Thuật là con người mang một nỗi luyến tiếc, hoài vọng về nơi mình thuộc về. Một “cố hương” theo ý nghĩa thực tế. Ở bài thơ trên, một sự sụp đổ đã diễn ra bởi hiện thực sau một cuộc chiến, nhưng cũng từ đó một điều gì mới mẻ được phát lộ. “Những ngôi sao trong truyện cổ xa vời” vụt lên giữa cái mất mát của thực tại, chủ thể trữ tình có ngay một chỗ bám víu mới, thông qua một liên lạc về mặt tinh thần với quá khứ. Hiện hữu chỉ là một thuộc tính của tồn tại. Bức tường – hiện hữu của quê hương – đổ vùi không làm mất đi tồn tại quê hương, khi những yếu tính khác vẫn còn đó: “ngôi sao”, “tiếng bà cười”, “bếp lửa ngày xưa”. Tuy nhiên, ta vẫn nhận thấy có một cái gì đã lay đổ: “tôi mơ màng lạc giữa rừng sao”. Bảy câu thơ đầu đi từ thế giới bên ngoài đến thế giới nội tâm của chủ thể, nhưng phải đến câu thơ thứ tám mới là một sự đối diện. Cái “lạc” kia là của một cái “tôi” bâng khuâng giữa hạnh phúc và mất mát như Lưu Nguyễn đã mất đi đường về Thiên Thai. Nhưng tất cả còn rất chìm lặng và lãng đãng của một âu lo vừa chớm nở. Bài thơ nhìn chung mang cảm hứng lạc quan xen lẫn tiếc nhớ của một người vẫn còn tuổi trẻ và còn đủ thời gian để thâu nhận khám phá những biến đổi của hoàn cảnh bên ngoài lẫn tâm tình bên trong mình.

Men theo sự nghiệp thơ Hoàng Vũ Thuật, thấy cảm thức ấy cứ lớn lên mãi không thôi. Một Hoàng Vũ Thuật bị bứng đi khỏi điểm tựa quê hương không phải bởi ngăn cách không gian, mà bởi trở lực thời gian. Ở tập thơ Đám mây lơ lửng (2000) chẳng hạn, ta bắt gặp một thi nhân thực sự đã tiến gần đến chân trời hiện sinh:

Tôi đã xa

dòng sông chảy ra từ mái tóc thơm huyền thoại

cây cầu bắc ngang cổ tích

người bạn thơ hoàng tộc dỗi hờn

(Tôi đã xa)

Có một gạch nối từ Hoàng hôn trên thành phố đến Tôi đã xa, sau mười sáu năm giữa hai lần xuất bản. “Tôi đã xa” là một mệnh đề chủ động. Cái “tôi” ở đây dường như là cái “tôi” được quan sát, là phần “tôi” được nhìn nhận đã tách mình đi khỏi thế giới tinh thần nguyên sơ không sao cứu vãn được. Đó là tình thế bơ vơ mà chủ thể trữ tình chỉ có thể chọn tư thế quan sát và tường thuật. Nhưng cũng từ đây, thơ Hoàng Vũ Thuật nhuốm màu lạc lõng, một sự lạc lõng ban đầu do một tình thế hiện sinh (tách mình ra khỏi không thời gian cũ), nhưng về sau, lạc lõng như là một quê hương mới. Con người bị bóc khỏi thế giới ý nghĩa, bóc khỏi vũ trụ của những gì tự hiển nhiên hoặc được cho sẵn, được định nghĩa trước. Thế rồi “nghĩa” ấy lung lay dần, và thi nhân phải đối diện với vũ trụ trần trụi của những “cái nhìn thấy”.

Tôi đã xa

bậc cầu thang xoáy hình trôn ốc

sự lặp lại mỏi mệt đời thường

chiếc ổ khoá Hải Phòng dễ mở

để vào ngôi nhà tạm

phên nứa ngăn từng ô

đôi khi tôi bước nhầm qua nhà hàng xóm

thời vua chúa vẫn còn đâu đây

Sự lạc lõng được luỹ thừa lên trong những đoạn thơ tiếp theo, cao trào tập trung ở chính giữa bài thơ: “đôi khi tôi bước nhầm qua nhà hàng xóm”. Cái “mỏi mệt đời thường” không còn làm phiền tác giả nữa, trái lại, nó thuộc về một thế giới quen đã xa rồi. Mảnh vụn ấy của âu lo hiện sinh đã được xếp vào những gì cũ hỏng. Cái cần giải quyết trong cuộc đời bây giờ đã lớn hơn. Dứt khỏi cố hương tinh thần, cái “tôi” trữ tình bước qua không – thời gian và hiện hữu ở một nơi khác: “thời vua chúa vẫn còn đâu đây”. Đây là cuộc dịch chuyển của “tôi” sinh hoạt đời thường và “tôi” hiện sinh. “Tôi” sinh hoạt đời thường là của nhà xưa phố cũ, với “chiếc ổ khoá Hải Phòng”. “Tôi” hiện sinh là một “tôi” khác:

Tôi đã xa cả niềm nhớ nhung

ngày mỗi ngày lớn dậy

như cây bồ đề vụt cao trong những ngôi chùa cổ

như cơn mưa nơi ấy

kéo dài dầm dã tới nơi đây

Từ chối dấu vết đời thường là một cuộc tự suy tư về bản thể:

Anh cũng vậy giữa màn sương phủ

Sánh sao cùng trinh trắng tình em

Hãy chôn đi những vần thơ xấu số

Để trời xanh muôn thuở bình yên

(Những câu thơ tôi viết)

Sinh quyển của thi ca Hoàng Vũ Thuật đầy ắp nỗi buồn và lo âu về thân phận. Thơ ông không có câu chuyện, mà chỉ có những khoảnh khắc bay bổng, nơi chủ thể trữ tình chìm đắm trong cái khắc khoải, sầu muộn không rõ nguyên do. Nỗi buồn và lo âu ấy không phải đến từ một sự vụ cụ thể trong đời, mà nó toát lộ từ những cảnh trạng hiện sinh. Nó là nỗi buồn sâu kín bản thể, tạo ra nền tảng để nhà thơ suy niệm, truy tầm về ý nghĩa của cuộc đời. Ánh mắt của nhà thơ luôn nhìn về phía đó, phía của bí ẩn tồn tại. Thi sĩ vừa tin yêu cuộc đời vừa lo sợ bỏ lỡ những gì đẹp đẽ trác tuyệt của sự sống.

L.N/VNQĐ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm