TIN TỨC
  • Truyện
  • Trôi về phía nào cũng buồn – Truyện ngắn của Đào Ngọc Vinh

Trôi về phía nào cũng buồn – Truyện ngắn của Đào Ngọc Vinh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-30 02:16:06
mail facebook google pos stwis
2174 lượt xem

Chị Hai điện thoại kêu tôi về gần một tuần nay mà bây giờ tôi mới có mặt ở đây. Chị không giận lẫy như mọi lần, mà nhẹ nhàng.

– Vất vả dữ hả em, kiếm sống được không?

Tôi cười.

– Giàu có gì  cái thằng viết văn nửa mùa như em,  thì cũng phải bươi quào sống cho qua ngày vậy mà. Ờ, chị điện thoại cho em gấp có chuyện gì không?

– Nhớ mầy điện về chơi, chứ nồi bún riêu của tao lúc này ít có ế lắm, không có để hưởng “sái” đâu em à.

Nhà văn Đào Ngọc Vinh 

Nhắc chuyện bún riêu tôi mới nhớ, hồi còn ở nhà, mỗi lần chị Hai bán bún riêu ế đều chạy qua kêu tôi: Mầy chạy qua phụ chị mầy chuyện này cái coi. Tôi lật đật chạy qua thì thấy chị dọn một bàn nào bún, rau, nước mắm, giá sống…

– Ăn đi, bữa nay chị em mình ăn bún trừ cơm. Trời quên, chưa trụn cho mầy mớ chuối bào. Cái thằng gì mà ngu hơn bò, không bao giờ chịu ăn rau sống.

Ăn bún riêu của chị riết, khi đi xa, thèm một tô bún riêu, tôi ăn cho nhớ mùi chứ không thích. Tô bún riêu của chị rất đặc biệt, không để thịt hoặc giò heo, cũng không để gan phèo như bây giờ, mà chỉ để một ít thịt cua đồng, vài miếng huyết vịt và thêm vài lát cà chua. Vậy mà ngon, nó không lẫn với thứ bún riêu bày biện cầu kỳ thường thấy ở các quán bình dân hay cả những nhà hàng cao cấp, nhưng dễ nhớ, dễ ghiền. Điều đặc biệt cũng là bí quyết để nồi súp bún riêu của chị thơm, ngọt, là chị lấy nước cua đồng, sau khi vớt thịt cua xong, làm nước súp. Nước cua ngọt thơm tự nhiên, thêm chút gia vị vừa đủ là có một nồi bún riêu truyền thống ngon lành.

– Bỏ cái kiểu ngồi nói chuyện mà dòm đâu đâu đó đi nghen. Nói thiệt coi, gần đây viết lách ra sao, có mập lên được “trăm cà ram” nào không?

– Chị chọc quê em hoài. Viết lách thì tàm tạm, còn mập, chị nhìn sao mà hỏi lắt léo vậy?

– Thì hỏi để cho có chuyện vậy, chứ nhìn mầy là biết nấu không ngọt nồi nước súp! Ráng chịu, ai biểu lủi đầu vô ba cái văn chương phù phiếm rồi đâm ra hoang tưởng, rằng mình đang ở tận mây xanh. Nói nào ngay, đó không phải là một cái nghề xấu, nhưng muốn tồn tại, phải có tài, em à! Lừng khừng như mầy, đói teo ruột. Sao, hôm rồi mầy nói viết về mấy tay đặc công thuỷ, có chi tiết gì vui không, kể chị nghe coi.

– Tưởng chị nhớ em thiệt, ai dè kêu em về để “khai thác” tư liệu! Chị vẫn còn mong tin tức anh Năm à?

Gương mặt chị đang vui bỗng buồn xuống cái rụp, buồn héo đi, buồn như ai đó vừa hất đi nồi bún riêu của chị. Tôi giận mình, lẽ ra không nên hỏi câu vừa rồi, đó là nỗi đau của chị. Nhưng chiến tranh (cứ đổ thừa vậy), mọi sự mất còn xảy ra trong chớp mắt. Bốn mươi năm, người đàn bà sáu mươi tuổi vẫn còn đau đáu về cái thời bom đạn ác liệt.

***

– Bún riêu đây. Bún riêu ngon tới… rún, đây!

Giọng cô gái tuổi độ mười chín, đôi mươi vừa ngọt vừa lém lỉnh khiến nhiều người qua đường thích thú, tò mò. Anh Năm, người lý lắc nhất trong tiểu đội đặc công nói giọng trêu ghẹo.

– Bún riêu bán tô, bán chén, hay bán… bụng vậy em?

Hơi bĩu môi, và cô Hai để gióng gánh xuống đất.

– Anh ấy ơi, anh ăn bằng cái gì, em bán bằng cái đó. Giả tỷ anh có muốn ăn bằng… “miểng vùa”, em cũng  bán luôn!

Cả tiểu đội đồng loạt cười rần làm cho anh Năm quê mặt. Nhưng vốn là người nhạy bén, anh Năm nhanh nhảu trả đủa.

– Em bán… cái gì, anh mua… cái đó. Bởi, em ăn được thì anh ăn cũng được, phải không mấy ông?

Những anh lính trẻ măng vỗ tay đôm đốp, cổ vũ cho câu phản hồi đầy ý nghĩa của bạn. Không vừa, cô Hai thản nhiên “quật” lại.

– Cái anh muốn mua thì em khó bán, cái em muốn bán thì anh khó mua. Thôi vầy, em chỉ bán bún riêu bằng tô, lỡ kêu em lại rồi, anh ủng hộ em vài tô nghen, không thì… mất mặt đàn ông lắm. Phải không mấy anh?

Bị cú “trả đòn” choáng váng, anh Năm hết đường chống đỡ. Lại thêm đám bạn hùa nhau “phạt” vì tội làm mất mặt cánh mày râu! Lần đó, anh Năm phải kéo từng người bạn ra hỏi mượn tiền mới đủ trả tiền chầu bún riêu thua… cô Hai. Đó là những ngày cuối  tháng năm, năm một chín sáu mươi chín, vùng giải phóng ven sông Cổ Chiên tạm yên sau chiến dịch Mậu Thân đẫm máu. Nhưng phía bên kia vùng tạm chiếm, tình hình vẫn vô cùng  căng thẳng. Thời gian này ở nhà má Hạnh tự dưng xuất hiện một cô cháu gái trẻ trung, xinh đẹp. Đã thế, cô còn rất tháo vát, nhanh nhẹn, đặc biệt là cô leo dừa không thua cánh đàn ông. Chỉ mấy ngày sau, người ta thấy cô xách thùng, quảy cù ngoéo ra đồng móc cua. Và ngày sau nữa, gánh bún riêu có mặt trên đường mòn dài theo ấp Một vốn là vùng giải phóng, cho tới ấp Bảy, khu vực giặc tạm chiếm.

Có Lần đám lính ở bót Thầy Minh vừa có ý chọc ghẹo, vừa có ý dò xét cô gái lạ mới xuất hiện.

– Em ơi, nước bún riêu nấu bằng thứ gì mà ngọt quá vậy?

Tay làm, nhưng miệng cô Hai vẫn cười đưa đẩy.

– Dạ, bằng nước cua chứ không lẽ bằng nước…Mà nói nhỏ mấy anh nghe cái này, loại cua của em cái càng nó vừa bự, vừa bén lắm nghen, chọc nó, coi chừng nó kẹp sứt… tay à!

Hiểu được ẩn ý của cô gái lạ, nhưng đám lính làm tĩnh, giả bộ nghiêm mặt.

– Nói kiểu này là giọng điệu của mấy con Việt cộng con nè, khám nó tụi bây.

Linh cảm tụi lính chuẩn bị giở trò, cô Hai giả lả.

– Thôi mà mấy anh, trước lạ sau quen, em làm ăn lương thiện thiệt mà. Còn vụ cái càng cua, em cũng nói thiệt luôn.

Cô Hai xách cái túm càng cua kình đã luộc đỏ lói đưa trước mặt bọn lính.

– Để làm quen, em biếu mấy anh mớ càng cua này về nhậu chơi, mà phải có điều kiện à nghen.

Bọn lính thò lõ nhìn cái túm càng cua, thật hấp dẫn. Món này mà đập vỏ, chấm với muối tiêu chanh thì ngon… bỏ “dì Út”. – Một tên lầm thầm.

Đã xiêu lòng, nhưng sự cảnh giác cao độ của những kẻ được huấn luyện kỹ lưỡng, không cho phép đám lính lơ là. Một tên có vẻ cầm đầu lên tiếng.

– Điều kiện gì vậy em gái? Đừng có nói là ngược lại em sẽ cho tụi anh một “trái” để đổi lại túm càng cua kia nghen.

Cô Hai cười hiền lành.

– Mấy anh giỡn hoài, điều kiện của em dễ ợt hà. Mỗi ngày mấy anh ủng hộ em ít tô bún riêu, em biếu mấy anh mớ càng cua, cả hai đều có lợi, mấy anh thấy được không?

 

Một chút dò xét, một chút nghi ngờ, rồi những gương mặt giãn ra trơ trẽn trước những lời lẽ đầy đường mật của cô gái trẻ đẹp. Chúng bu quanh gánh bún riêu, nhu cầu ăn thì ít, giành nhau lấy lòng cô gái là chủ yếu. Nói như vậy không có nghĩa là con mắt thứ ba của bọn chúng không đề phòng mọi hành động của cô gái lạ. Cứ thế, ngày ngày gánh bún riêu cứ rảo từ đầu trên tới xóm dưới, từ phía “Việt cộng” qua phía “quốc gia”, chỗ nào cô Hai cũng làm vừa lòng những người mới quen, đã quen, hay rất quen thuộc. Một ngày mà cô Hai bận chuyện gì đó, không có tiếng rao ngọt ngào, lém lỉnh thì nhiều người chờ, nhiều người nhớ, trong đó có anh Năm ở tiểu đội đặc công.

– Cười cái gì vậy, thằng quỷ? Lại nhớ đến chuyện tao chọc cho đám lính ở bót Thầy Minh tức sôi đờm hả?

– Nhớ chuyện khác nhưng dính dấp tới chi tiết đó.

– Biết rồi, cũng vì vậy mà tao đau tới bây giờ. Chị nói thiệt với mầy, trong chiến tranh, cơ hội cho những người yêu nhau có dịp bày tỏ tình cảm với nhau gần như bằng không.

Nghe chị nói mà tôi đau, đau cho sự có không phận người. Với tôi, chị không phải là họ hàng thân thích, không máu mủ thiêng liêng, nhưng tôi thương chị thiệt nhiều, thiệt sâu. Thích chị mỗi khi vuốt mũi tôi phán một câu xanh dờn.

– Tướng mầy lớn lên làm được hai chuyện: Một là hái trái cây cho người khác không cần bắc thang, hai là, đem… cạo gió cho thiên hạ, khỏi chê!

Tôi không hề giận cái kiểu chê sát ván của chị, bởi chị lúc nào cũng cà rỡn được, nhưng khéo và thông minh. Như lần đám lính ở bót Thầy Minh khi ngồi quanh gánh bún riêu của chị, một trong những tên trong đám lên tiếng.

– Bây giờ tụi anh hỏi thiệt, em cũng phải trả lời thiệt nghen. Trong đám bọn anh, em chọn anh nào?

Giả đò lấy nón lá che mắt mắc cỡ, nhưng trong đầu chị Hai đã sắp sẵn một cách đối phó với bọn lính. Quạt quạt nón lá làm như e lệ, chị nói thủng thẳng.

– Như vầy, anh nào muốn làm chồng em, giơ tay lên?

Cả bọn không ai bảo ai, tranh thủ hí hửng giơ tay, như sợ mất lượt mình. Nhìn quanh, làm như khó chọn lựa, cô Hai cười tủm tỉm.

– Rồi, ai chịu làm con em để tay xuống.

Tình huống này làm cho bọn lính dở khóc, dở cười. Bọn chúng nhìn nhau… cầu viện! Đợi cho bọn chúng vừa đủ mất mặt với nhau, chị nhẹ nhàng hoá giải.

– Coi kìa, giỡn với mấy anh chút thôi, không giao giận nghen. Nói thiệt, mấy anh ai cũng đẹp trai, dễ thương, chọn ai, bỏ ai em cũng tiếc. Ngặt nỗi, mẹ em vẫn còn đau bệnh liên miên nên chưa dám nghĩ đến chuyện chồng con. Sau này anh nào thiệt lòng (chứ mà dối gian là em cho cua kẹp… à nghen), anh nào thiệt lòng thiệt dạ thì để em về… thưa lại với mẹ em.

Vậy là huề cả làng. Bọn lính lại vui vẻ ăn uống rồi bàn chuyện trên trời dưới đất, quên khuấy đi mình vừa bị một cú chơi xỏ nát mặt.

Mấy ngày sau, chị cũng định đem cái “chiêu” mình mới khám phá ra để áp dụng với anh em tiểu đội đặc công. Lần này không phải là bẻ mặt anh em, mà để chọc tức cái anh Năm, miệng thì bài hãi, nhưng nhát như thỏ đế! Tất cả đều giơ tay khi chị hỏi ai muốn làm chồng (chị biết, trong những cánh tay giơ lên, có một số cánh tay giơ thiệt). Đột nhiên, chị nhìn ngay mặt anh Năm, nở một nụ cười đầy ngụ ý.

– Ai muốn làm con em để tay xuống.

Những anh lính còn đang ngơ ngác trước tình huống đột ngột này, thì anh Năm bỗng dưng buông tay xuống cái rụp với gương mặt lí lắc và tỏ ra bí hiểm. Chị nhìn anh Năm lom lom, vừa ngạc nhiên, vừa tò mò. Anh Năm thì cười chúm chím.

– Tôi đồng ý làm con, nhưng, làm con thì mẹ phải cho tôi… uống sữa à nghen!

Những tiếng cười đồng loạt rộ lên. Họ khoái chí vì thoát được cái bẫy của chị Hai thì ít, quan trọng là thán phục sự thông minh đột xuất của anh Năm. Chị bỏ gánh bún riêu, chạy một hơi về nhà má Hạnh ngồi khóc tức tưởi. Sau lần đó, đi đâu gặp, mấy anh lính đặc công cũng khoanh tay, gật đầu làm chị vừa mắc cỡ, vừa ấm ức. Và rồi, trong đầu chị nãy sinh một cách trả đũa, mà mục tiêu chính là anh Năm, người đã “đánh sập” kế hoạch của chị. Cơ hội đến, anh Năm vừa khoanh tay, chị chận ngang.

– Khoan… ông. Đã là con thì phải nghe lời mẹ, đúng không? Bây giờ tôi lệnh cho ông phải vả mình hai cái vì dám hỗn xược với… mẹ!

Chưa chịu thua, anh Năm vẫn còn chống chế.

– Nhưng mà chưa cho tôi… uống sữa.

Mắc cười cái cách đối phó hơi trẻ con của anh Năm, nhưng chị Hai làm tỉnh.

– Nín, ai biểu lì lợm, bỏ đói luôn.

Nói xong, chị ngoe nguẩy quảy gánh bỏ đi, để anh Năm một mình đứng thừ ra nhăn nhó. Khi chị kể cho tôi nghe đến đó, chị bụm miệng cười mà nước mắt rưng rưng. Cái kiểu cười mà đau thấu gan thấu ruột. Và lúc nào chị cũng kết thúc câu chuyện bằng một câu đùa rất đàn bà: mẹ, đàn ông làm khổ đàn bà nhiều hơn đàn bà làm khổ tụi bây! Tôi phì cười, cười mà cũng nhoi nhói, đau đau. Mỗi lần như  vậy tôi lại nhớ lần đầu tiên chị tới xóm tôi bằng chiếc tam bản với cái rèm lá rách bươm. Và tiếng rao: bún riêu đây… Tiếng rao kích thích sự tò mò của dân xóm Vàm, vốn quen với những người buôn bán định vị ở chợ chồm hổm. Từ đó, cứ mỗi sáng, tiếng rao lại xuất hiện trên sông và “trôi” mải miết theo con kênh dài hun hút. Rồi một ngày chị cắm sào ngay bến nước nhà tôi, len lén, ngập ngừng, xin ngoại tôi cho cất tạm cái chòi ngoài doi dất để ở ít tháng.

– Sao không phải một năm, hai năm mà lại “ít tháng”? – Ngoại tôi hỏi.

– Dạ, như vậy đủ rồi.

Sau này tôi mới hiểu hai chữ “đủ rồi” của chị. Còn lúc đó, tôi vui mừng vì mình có thêm một hàng xóm, trong đó có sự “tính toán” của thằng con nít thích ăn bún riêu mà ít khi có tiền. Nhưng chị không ở lại “ít tháng” như chị nói, mà ở lâu hơn. Ngoại tôi cũng không đuổi chị như bà hù doạ mỗi khi bà nổi buồn bất chợt, cho đến khi bà mất. Vậy là, chị ngẫu nhiên trở thành một thành viên bất đắc dĩ của gia đình tôi mặc dù không sống cùng một nhà. Tôi lớn lên cùng tiếng rao của chị, cùng những thăng trầm đời chị. Cho đến một ngày, nghĩ tôi đủ hiểu những uẩn khúc đời người, chị thì thầm.

– Mầy biết chị bôn ba ở những dòng sông miền Tây này bao nhiêu lâu rồi không? Và tại sao lúc đó chị chỉ xin ngoại ở lại “ít tháng” mà không phải nhiều hơn?

Tôi đùa.

– Tại chị là một loài cá di cư theo mùa.

Chị cú nhẹ vào đầu tôi và nói rằng lớn lên mầy sẽ khùng với chữ nghĩa. Rồi chị giải thích với tôi rất ngắn gọn: tại chị đang tìm một người. Ừ, một người. Biết đâu trong mênh mông cõi người ta này, có ngày “người ấy” sẽ nghe được tiếng rao của chị? Biết đâu (chị nói câu này trong rơm rớm nước mắt), chị tìm được một chút vết tích của “người ấy”. Vậy mà, mọi thứ vẫn biền biệt, làm như “người ấy” của chị chưa hề hiện diện trên cõi đời này, trong cuộc chiến tranh này. Cho tới khi chị “trôi” tới xóm tôi, nghe kể có một cuộc chiến đấu giằng co quyết liệt giữa các bộ đội đặc công thuỷ và tàu chiến của giặc ở ngay khúc sông này, chị dừng lại. Dừng lại để ngơ ngác kiếm tìm, như người đi đường dừng lại ngơ ngác tìm một tiếng động nào đó trong vô thức và mơ hồ. Hy vọng rồi tuyệt vọng, chị bám  vào cái doi đất của ngoại tôi, mong mỏi một điều gì đó xa xăm, như người ta mong mỏi tiếng máy tàu trong đêm thanh vắng, nó chợt gần, chợt xa rồi mất hút.

– Sao rồi? Viết về mấy tay đặc công có gì hay, kể chị nghe coi.

– Có nhiều chuyện hay nhưng… buồn. Buồn  vì còn nhiều người chưa tìm được tư liệu.

– Nhiều là bao nhiêu, là những ai, có danh sách lưu trữ không?

– Có danh sách nhưng chắc vẫn còn sót.

Chị thở dài, cái kiểu thở dài dễ đoán được tâm trạng. Chị buồn, phải thôi, dù chị không nói, nhưng khi nghe tin tôi thu thập tư liệu để viết về các chiến sĩ đặc công của tỉnh, chị vui ra mặt. Và bây giờ tôi đã buồn khi vô tình làm chị vui, chị hy vọng. Chị nhìn tôi ủ rũ.

– Phải chi hồi đó tao bạo mồm, bạo miệng, đừng sĩ diện, đừng “đanh đá”, chắc cuộc đời tao sẽ nghe được một tiếng “thương”, nghe một lần thôi từ miệng người mình yêu, thì bây giờ tao không phải bới nát các dòng sông miền Tây này để tìm kiếm. Đằng này, mặc dù rất thích cái tính “cà chớn” của thằng chả, nhưng miệng lúc nào cũng chọc tức, chọc quê làm sao người ta dám tấn công? Cái ngày cuối cùng ổng đóng quân ở gần nhà má Hạnh, tao thấy thái độ ổng khang khác, cứ “rình” tao hoài. Tao nóng mũi dừng lại trừng mắt.

– “Con”… chuyện gì vậy?

Mắt thằng chả là lạ, miệng lắp bắp rồi hỏi một câu lãng xẹt.

– Bún riêu hết chưa?

Nghe thằng chả hỏi cơ mà tao mắc cười đến nôn ruột. Tao nguýt ngang.

– Vô duyên, nếu hết thì tôi rao bán cái gì? Nè, ông mà còn lạng quạng chặn ngách chặn ngõ thì tôi… bỏ đói tới già, nghen.

Không biết lúc đó nghĩ gì mà tao bạo dạn như vậy. Giờ nhớ lại, phải chi lúc đó thằng chả “khôn” một chút, chắc là mọi chuyện sẽ đổi khác, chắc tao đã nghe được một tiếng “thương”. Vậy mà thằng chả cứ đực mặt ra nhìn tao chằm chằm. Tao sợ thằng chả bắt được cái hớ của mình, nên lủi nhanh. Chừng chiều về nhà, má Hạnh nhìn tao mếu máo.

– Mấy đứa đi rồi.

Tao ngơ ngác.

– Ai? Đi đâu?

– Tụi thằng Năm đi rồi. Nghe nói chuẩn bị cho một  chiến dịch gì đó quan trọng lắm. Ờ, thằng Năm có nhắn lại, nó nói nó thương mầy và hẹn…

Tao không khóc, không rơi một giọt nước mắt, nhưng ruột gan thì cứ cuộn lên. Tao chạy ra sân bứt nát mấy bụi bông cúc trắng cho đã nư giận. Nghe nói ổng vào nhóm đặc công thuỷ. Làm sao biết được chiến đấu ở con sông nào, miền Tây có hàng ngàn con sông lớn nhỏ. Rồi mọi chuyện cũng phải dằn lại, bởi kế hoạch đánh bót Thầy Minh của tao và đồng đội đã đến ngày khởi quả.

***

Hôm Ban biên tập quyển sách về bộ đội đặc công của tỉnh họp sơ kết công trình, bên tỉnh đội có gởi thêm danh sách năm chiến sĩ đặc công nữa để chúng tôi sưu tầm tư liệu. Trong số đó, tôi chú ý đến tên Phạm Văn Năm và nghĩ ngay đến chị Hai. Biết đâu được. Tôi đề nghị với Ban biên tập được viết về vị anh hùng này, rồi quảy gói phóng nhanh về tìm chị Hai. Trên đường đi, tôi thoả sức tưởng tượng, rằng mọi chi tiết về vị anh hùng nằm trong xấp tư liệu tôi đang giữ sẽ giúp người đàn bà sáu mươi tuổi có được một hy vọng? Tôi dừng lại bên doi đất quen thuộc, căn nhà lá cũ kỹ đóng cửa im lìm. Vạt nắng chiều chiếu xiên qua nền đất đóng rêu tạo thành một mảng màu kỳ lạ. Có tiếng ho khúc khắc, tôi quay lại và bắt gặp giọng nói khàn đục của ông cụ Tám hàng xóm.

– Nó đi rồi, đi một tuần nay.

– Đi đâu?

– Ai biết. Nó nghe đài nói con sông gì đó bên Trà Vinh có một trận đánh dữ dội trên sông giữa ta và địch. Vậy là chiều đó nó cuốn gói xuống xuồng chèo đi. Nó đi một khoảng xa mà vẫn còn ngoái đầu cười chào tạm biệt mọi người, hình như nó đang vui.

Bây giờ là cuối mùa lũ, đám lục bình ngang tôi, bình thản, an nhiên. Trong mênh mông sông nước ấy, tôi nghe như có tiếng rao: “Bún riêu đây” bảng lảng cuối chiều. Và, tôi chợt thầm nghĩ, chắc chị trôi về phía nào cũng buồn.

ĐÀO NGỌC VINH

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm