TIN TỨC

Đọc Đường đến Cây cô đơn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-26 15:32:20
mail facebook google pos stwis
1695 lượt xem

(Tâp truyện ngắn của Bích Ngân, Nxb Tổng hợp phố Hồ Chí Minh, qúy III,  2019)

 BÙI CÔNG THUẤN

 ***

Cây nào đứng thẳng cũng đều là Cây cô đơn”. “Trong cõi nhân gian vừa rộng vừa hẹp này, dường như, mỗi chúng ta đều là một Cây cô đơn”.(tr.116). Những câu văn chứa đựng tư tưởng này sẽ dẫn người đọc đi tìm Cây cô đơn trong tác phẩm, giống như nhân vật Bích quyết định đi đến Cây cô đơn sau khi nghe Khánh đọc bài thơ “Hỏi đường đến Cây cô đơn” trong bữa ăn trước khi chia tay Đà Lạt (truyện Đường đến Cây cô đơn).


CÂY CÔ ĐƠN

Cây Cô đơn là cây gì?

Nhà văn trả lời:“Trong cõi nhân gian vừa rộng vừa hẹp này, dường như, mỗi chúng ta đều là một Cây cô đơn”.

Tên truyện Đường đến cây cô đơn, cùng với 7 trong 13 truyện của cuốn sách tập trung khám phá chủ đề này, giúp người đọc nhận ra sức nặng trái tim nhà văn dành cho vấn đề cô đơn của con người. Vấn đề mang tính tư tưởng.

Nhân vật mang nỗi cô đơn trong Đường đến Cây cô đơn hầu hết là nữ. Vì là kiểu nhân vật tư tưởng, họ không được miêu tả nhân thân xã hội. Có người chỉ được gọi bằng một đại từ nhân xưng “Chị” (truyện Cánh rừng vĩnh cửu). Họ xuất hiện trong những chuyến đi với vẻ thanh lịch và lãng mạn. Họ không có những lo lắng về đời sống vật chất. Thùy và chồng đi du lịch nghỉ dưỡng (Kẹt trong sương mù), Yên và chồng trong khu du lịch sinh thái (Khoảnh khắc “Trăm cô đơn”), Bích đi với một đoàn ở Đà Lạt, cô ở lại khách sạn và chờ chồng lên đón. Bà Tuyết xưa kia là cô nhạc sĩ trẻ. Bà vẫn thường hàng giờ lắng nghe và ký âm tiếng hót của chim “thương lắm mà” lên trang giấy (Chuỗi ngọc từ cao xanh). Nhân vật Chị đi du lịch dã ngoại khám phá hồ đêm, ngắm trăng và đón bình minh trên mặt hồ (Cánh rừng vĩnh cửu) và nhân vật Vy, cô diễn viên đi theo đoàn thăm Côn Đảo để có trải nghiệm cho một vai diễn (Thời gian vẫn đang trôi). Cô có người yêu là Quân. Họ yêu nhau 5 năm nhưng không cưới hỏi, sau đó chia tay.

Đi trong đoàn, “người phụ nữ cô đơn” thường tách mình ra khỏi đoàn và đi theo một hướng riêng, bước chân khuê các được dẫn dắt bởi cảm xúc lãng mạn. Con đường họ đi qua là con đường của sắc màu và hương thơm quyến rũ. “Thùy bước ra khỏi khách sạn… Cô hấp tấp theo màn sương đang di chuyển về phía vầng trăng đang lơ lửng trôi như kẻ bị thôi miên. Rồi hình như đôi chân Thùy không bước từng bước nữa. Cô như cuốn theo chiều gió, cuốn theo ánh trăng, cuốn theo khói sương vây kín lối đi”(Kẹt trong sương mù, tr.86). Trong Khoảnh khắc “Trăm cô đơn”, sau khi uống cà phê một mình, Yên ra khỏi khu rừng nơi cô đã ngủ với chồng đêm qua trong căn nhà trên cây. Cô bước đi. “Hai bên đường lác đác những bụi cây nở những bông hoa tim tím mà lần đầu Yên mới gặp. Những cánh bướm giật mình bay lên từ những chùm hoa phảng phất mùi hương. Nhiều cánh bướm từ những chùm hoa khác, bụi hoa khác cũng bay lên” (tr.94). Nhân vật Chị trong Cánh rừng vĩnh cửu cũng tách khỏi đoàn. Chị đi ra con đường nối với tỉnh lộ, tới chợ nhỏ mua ít đồ, rồi vào quán ăn bún riêu và uống cafe. Sau đó Chị đi một quãng đến nới có bảng cắm chữ Vĩnh Cửu. Chị đứng ở đó tự chụp hình. Người đàn ông mặc đồ lính xuất hiện, Chị đi theo theo ông ta. “người đàn ông biết chia sẻ đang bước bên cạnh, đàn bướm nhiều sắc màu bay rập rờn từng đàn, tiếng chim líu ríu trên cành  nghe thật gần, hoa rừng hồn nhiên khoe sắc, rồi tiếng rơi lặng lẽ của những chiếc lá lời cành…và hình như tiếng bước chân chị và người đàn ông, cũng rất khẽ.” (tr.205)

Trong không gian thoáng đãng và riêng tư ấy, người phụ nữ nhận ra nỗi cô đơn của mình. Thùy (kẹt trong sương mù) và Yên (Khoảnh khắc ‘Trăm năm cô đơn’) có cảm giác mình bị chồng bỏ rơi. “Nhiều lúc Yên rơi vào trạng thái bấp bênh dù đã neo đậu được vào bến bình yên” (tr.98). Khi chồng đến đón Bích ở khách sạn, giữa họ “không vòng ôm, không va chạm, cũng không chào hỏi”(Đường đến Cây cô đơn, tr.111). Và dù Bích đã chuẩn bị cho một cuộc ái ân với chồng, nhưng ngay sau khi hai vợ chồng tắm xong, họ lại xa cách nhau vì chuyện mà thoạt nhìn như là chuyện không đâu (tr.114)!

Nhân vật bà Tuyết trong Chuỗi ngọc từ cao xanh than thở: “Cô đơn, có lẽ là người bạn đồng hành thủy chung duy nhất đối với những người dày vỏ bởi những điều mà người khác thường thờ ơ”(tr.132). Bà thổ lộ với bạn: “Giá như những người đàn ông chị yêu không bị ràng buộc…và giá như người đàn ông đó là cha của các con chị.”(tr.131). Nghĩa là bà Tuyết yêu những người đã có gia đình, và chồng bà không phải là người bà yêu! Nỗi cô đơn này “thủy chung” đến suốt đời là vậy! Nhân vật Chị về cái “khoảng trống” cô đơn của mình: “…khoảng trống lúc nào cũng chực chờ, ngay cả khi được ghì siết trong cơn ái ân của chồng(tr.202). Và vì thế Chị dễ dàng đi theo người đàn ông mặc đồ lính xa lạ vào nơi khuất vắng trong rừng. Rồi khi người đàn ông kéo chị sát vào tấm thân cường tráng của ông ta, “Chị như không thở nổi trước mùi xạ hương ngây ngất của thịt da, của hơi thở, của khát thẻm, của bóng tối, của u mê. Thịt da Chị ấm sực và căng tràn cơn nuông chiều hối hả của nhục thể. Chị hấp tấp lần tìm đôi môi khao khát. Người đàn ông quắn quíu gắn chặt cặp môi vào đôi môi nóng bỏng của Chị” (Cánh rừng vĩnh cửu, tr. 205).

Tác giả để cho nhân vật Chị tự phân tâm hành động đi theo và ngã vào vòng tay người đàn ông lạ ( và dường như là nhân vật của tưởng tượng). Đó không phải là sự dày vò lương tâm vì đã ngoại tình, cũng không phải sự sám hối vì đã vượt quá những quy chuẩn xã hội cho phép, cũng không biện hộ cho sự đổ vỡ với chồng, bởi vì quan hệ vợ chồng của Chị vẫn còn đó. “Chị lờ mờ lý giải. Có thể đó là tâm trạng háo hức khó lường trước khát khao kiếm tìm và khám phá…khao khát khám phá chính mình trong sự tồn sinh của cánh rừng này, mảnh đất này, cuộc đời này. Tồn sinh bằng sự tiếp nối giữa sự sống và cái chết. Tồn sinh từ cái thế giới vừa nhỏ bé vừa sâu thẳm nơi mỗi con người(tr.210).

Nhà văn dùng chữ “tồn sinh” mà không dùng chữ “hiện sinh”, bởi “khao khát khám phá chính mình” chính là “tồn sinh”(đang sống, đang tồn tại). Mối quan hệ lạnh ngắt với chồng, cái khoảng cách tồn tại giữa vợ chồng cả trong lúc ái ân, và những người chồng bỏ rơi vợ trong những cuộc say, trong những thú vui riêng (đi câu) đã làm cho những người vợ trở thành những Cây cô đơn, họ không “tồn sinh”.

Nói như thế không có nghĩa tác giả cổ vũ cho một lối sống hoang dã phá bỏ những quy chuẩn xã hội, đạp đổ hôn nhân, bứt phá những quan hệ nhân sinh. “Chính lúc đó, lúc mà chị sắp bùng nổ trong cái cảm giác được nâng lên khỏi mặt đất thì chị nghe tiếng chuông điện thoại” của chồng. “Chị bước ra khỏi gốc cây âm u, tìm thấy chút ánh sáng xuyên qua cành lá…”(tr. 208). Cũng vậy, chuyến đi tìm Cây cô đơn của Bích đã không thực hiện được. “Và cả chút ngậm ngùi, rằng đã đến lúc, ta phải quay về một nơi, còn Cây cô đơn, vẫn ở một nơi mà ta chưa đặt chân tới.” (tr.102). Cô diễn viên Vy (Thời gian vẫn đang trôi) vẫn mong người yêu trở lại.

Cây cô đơn mà cả nhân vật và tác giả chưa đặt chân đến được là Cây cô đơn hiện sinh, tức là ý thức về thân phận cô đơn của con người trong cõi nhân gian này,  con người sinh ra là để chết (Being-toward-death- Martin Heidegger), con người một mình đi về “hố thẳm” (Henry Miller).

 

PHÂN TÂM “TỒN SINH”

Các truyện khác trong tập Đường đến Cây cô đơn đều được kể qua tâm trạng của nhân vật chính. Sự việc được phản ánh chỉ là cái cớ để nhân vật suy tư. Nhân vật tự phân tâm, tự nhận thức và bày tỏ thái độ. Đôi khi đó là một thái độ quyết liệt. Ngòi bút phân tâm kết hợp với cấu trúc tương phản giúp nhà văn phơi ra cái xấu, cái ác, cái vô tâm, cái hèn nhát khiếp nhược của thực tại, và cả sự bất lực của người lương thiện khi đối mặt với bọn bất lương (Cuộc chiến khác, Rượu 40 năm).

Đêm biên giới là tâm trạng của Đại tá-nhà văn Trần Huy, trưởng đoàn văn nghệ sĩ đi thực tế sáng tác về đề tài người lính ở một đồn biên giới (tr.135). Ông trăn trở suốt đêm không ngủ về những vấn đề “nóng” của đất nước. Sau bữa ăn gặp gỡ, họ uống trà và xem thời sự cuối ngày. Họ nói về những mất mát hy sinh trong cuộc chiến chống xâm lược năm1979. Khi màn hình tivi hiện lên“Hình ảnh gian khoan Hải dương 981 cùng những chiếc tàu hung hăng rẽ sóng tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam”(tr.138), những người lính đã không kềm được cơn giận dữ.  Họa sĩ Lê Hữu nói “Sự thật là ta bị chúng bịp và chính chúng ta tự bịp” (tr.139). Sự căm giận của Hữu có nguồn cơn từ việc anh bị mảnh bom thù xoắn mất một trái thận, mất khả năng làm chồng. Ba năm sau vợ bỏ. Nguyễn Hà được gọi là “nhà sử học” bởi anh viết kịch lịch sử. Anh nói: ”…Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế là ta giành phần thắng”. Lê Hữu đốp ngay: “Kiện cái con mẹ gì. Đánh!” (tr.141). Trần Huy buột miệng: “Đau nhất là tự mình lừa mình” (tr.141). Lê Hữu gào lên: “Nhưng mất mát lớn nhất là mất nước! Nỗi nhục lớn nhất cũng là nỗi nhục mất nước. Rồi như kiệt sức, họa sĩ gục xuống bàn”(tr. 142). Trần Huy không ngủ được. Ký ức người lính không phai mờ. Anh bị thương 2 lần may còn sống sót. Huy muốn viết một cuốn sách ghi lại trung thực những năm tháng cùng đồng đội vào sinh ra tử trong cuộc chiến tranh vệ quốc mà anh là thằng lính sống sót, nhưng với Huy đó là cuốn khó viết nhất mà đến giờ vẫn còn là phác thảo (tr.146).Trong truyện Bên dòng sông Ray những cựu binh tình cờ gặp lại nhau, họ nhắc tới lại chiến tranh chống diệt chủng Pol Pot ở biên giới Tây nam, nhắc đến các chiến sĩ của con tàu không số, và chia sẻ về cuộc sống hiện tại. Tất cả còn nguyên dấu tích đớn đau của một thời và hiển hiện ngay trong hôm nay.

Trong truyện Rượu 40 năm tác giả miêu tả sự tương phản giữa cha anh “suốt cả cuộc đời cun cút, tận tụy việc nước, việc dân”(tr.52) với lũ con cháu thực dụng hưởng thụ và làm giàu khuất tất. Ông Út (thương binh 2/4) bị choáng khi thằng Tư (con anh Hai gọi ông bằng chú) đãi chúng bạn chai rượu trị giá 200 triệu. Ông lắp bắp: “Trời ơi! Mấy mùa bắp, mấy mùa dưa tao với thím mày làm thấy mụ nội, mà bán chưa tới chục triệu” (tr.58).

Truyện Một đám rước có cách viết rất lạ. Tác giả nhập thân vào nhân vật Tôi và để cho Tôi tự phân tâm rất sâu. Tôi (anh Hai) là người đảm nhiệm vị trí lãnh đạo cao nhất ngành được coi là then chốt trong bộ máy công quyền một tỉnh lỵ. Tôi đón xác em là Trung Minh từ nhà xác bệnh viện Thống Nhất về nhà cách 300 cây số. Ngồi trên xe, trên đường về, Tôi nhìn xác em, Tôi nghĩ về em, nghĩ về thái độ vô tâm của tôi đối với em. Lúc xuống xe, Tôi nghĩ về đoàn người đón đưa em, từ xe xuống đò, đi cano về nhà. Đám tang được Ủy ban xã tổ chức như đám rước. Tôi đứng giữa tang lễ và nghe người ta kể bao nhiêu chuyện về Minh mà Tôi chưa biết. Khi họ đọc điếu văn về công trạng giúp dân của Minh. “Tôi không còn đủ bình tĩnh để nghe”. “Tôi có cảm giác chính tôi là người chết, tuy không nằm trong quan tài. Còn nó, thằng em trai tôi, cái thằng ngu không biết lo cho bản thân mình, mới là người không bao giờ chết, dù thân xác nó đang trương phình lên trong chiếc quan tài kín mít kia(tr.75).

Tôi gọi truyện này có cách viết lạ, bởi viết về cái tiêu cực, nhà văn thường đứng ở phía người dân mà phê phán trực diện các quan chức “có vấn đề”. Bích Ngân sử dụng ngòi bút phân tâm như một con dao mổ sắc bén và tinh tế. Bàn tay phẫu thuật thật điêu luyện, mổ những vết rất sâu vào não trạng nhân vật. Điều này đòi hỏi nhà văn phải có sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý đối tượng, phải có kỹ năng viết thăng hoa mới biến trang văn thành những giá trị có thể tồn tại lâu dài. Nhân vật Tôi (quan chức) tự quan sát, tự nhận thức, tự tra vấn mà bật ra vấn đề. Thành ra sự phê phán của tác phẩm trở thành thái độ tự sám hối của nhân vật. Cách viết này giữ cho người cán bộ kia chút lương thiện cần phải có để sự hiện diện của ông ta trong đời này còn có ý nghĩa. Bởi sự tồn tại trong lòng nhân dân, được nhân dân yêu mến mới là bất tử. Thành công của truyện là cách viết tự phân tâm sâu sắc, tự sám hối (có vẻ) chân thành của nhân vật. Tư tưởng về “tồn sinh” làm cho truyện vượt qua giới hạn của một truyện hiện thực.


VĂN CHƯƠNG BÍCH NGÂN

Tập truyện Đường đến Cây cô đơn không dành cho người đọc sống vội. Cũng không dành cho người đọc chỉ mải mê chạy theo cốt truyện với những tình huống gay cấn, giật gân. Nhà văn Bích Ngân quan niệm rằng văn chương là chuyện lâu dài, rằng cần chắt chiu từng giây phút sống của đời. Phải chăng vì thế mà tốc độ của truyện trôi chảy chậm. Tác giả miêu tả rất tỉ mỉ những sinh hoạt đời thường. Sự việc được dựng lại theo tuyến thời gian và tuyến các biến cố của nhân vật. Những miêu tả tỉ mỉ đời thường ấy dễ làm nản lòng người đọc vội. Và trong cái nhịp sống đời thường bình lặng, bỗng xuất hiện một tình huống bất ngờ, đẩy câu truyện phát triển nhanh về phía trước, cuốn người đọc theo. Truyện kết thúc bằng những tình tiết làm người đọc nặng lòng suy nghĩ. Lúc ấy diễn ngôn trầm lắng của nhà văn dội lên trong tâm thức người dọc những âm vang lan tỏa mãi. Truyện Một đám rước, Cánh rừng vĩnh cửu có cách viết độc đáo như thế.

Một độc đáo khác của ngòi bút Bích Ngân là cốt truyện rất đơn giản. Có rất ít tình huống kịch tính, có rất ít hành động truyện, có rất ít những mối quan hệ phức tạp. Truyện phát triển theo tuyến tâm trạng nhân vật chính, thành ra truyện ngắn Bích Ngân có ngôn ngữ, giọng điệu trữ tình. Giọng điệu này mời gọi những người đồng điệu, những người biết quý trọng những giá trị đời sống trong những chuyện đời thường, cả những chuyện vụn vặt. Nhân vật thức dậy, xuống bếp bật bếp lửa nấu nước pha trà, rồi ngồi uống trà nghĩ ngợi…(Bên dòng sông  Ray). Nhân vật đi du lịch hay đi dã ngoại, tham quan thường chuẩn bị đồ đạc, khởi hành, đến nơi, nhận phòng, đi tắm, đi uống cafê…(Người đàn bà góa trên chuyến tàu  Trường Sa, Đường đến cây cô đơn, Khoảnh khắc  “Trăm cô đơn”, Gió lạnh). Truyện Đêm biên giới chỉ có một cuộc gặp gỡ đón tiếp của trưởng đồn biên phòng với đoàn văn nghệ sĩ đi viết về đề tài người chiến sĩ. Sau bữa ăn, họ ngồi uống trà, xem ti vi. Phần còn lại của truyện là tâm trạng của trưởng đoàn Đại tá-nhà văn Trần Huy. Ông trăn trở, không ngủ. Ông đi đến các phòng, ở đó đèn vẫn sáng. Kết truyện là cuộc gọi của người vợ báo tin con trai ông sáng mai sẽ theo đoàn nhà báo ra chỗ Trung Quốc đang đặt giàn khoan.

Với một cốt truyện đơn giản như thế, yếu tố nào làm nên sự hấp dẫn của trang văn Bích Ngân?

Bích Ngân dẫn người đọc đi đến nhiều vùng đất nước, ở đó cảnh sắc, con người quê hương có sức hấp dẫn. Từ đồn biên giới phía bắc mà cửa sổ các phòng của chiến sĩ không bao giờ đóng, nhà văn dẫn người đọc đi tàu lênh đênh trên biển đến đảo chìm Trường Sa. Ở đây một chiến sĩ trẻ măng có miếng băng tang đen trên ngực kết chiếc đèn bằng vỏ ốc trắng ngà, hình một đóa sen đang nở để tặng mẹ, nhưng mẹ mới mất, anh tặng lại du khách. Từ một chung cư mà mỗi con người trong đó như tù nhân của bọn cho vay nợ, vòi bạch tuộc của nó chẳng khác gì bọn Mafia, đến “chuồng cọp” Côn Đảo với những hình nhân người tù bị xiềng xích đầy ám ảnh. Từ trên lan can tầng 15 của một chung cư “Trăng sáng trên đầu, biển rì rầm, gió lồng lộng, hương hoa lài thoang thoảng bạn bè cùng ngắm trăng” đến dưới một gốc cây âm u trong rừng, nơi những khát khao kiếm tìm gấp gáp trong hơi thở của hai con người đang quấn lấy nhau. Từ nơi bàn nhậu của các quý tử với chai rượu 200 triệu đến nghĩa trang cất giữ xương cốt những người một đời hy sinh. Từ nơi Yên ngồi uống cà phê, xác một con ve rơi xuống cạnh ly cà phê. Đàn kiến đến khiêng nó đi. Cô nghĩ đến hình ảnh Aureliano, đứa trẻ duy nhất được sinh ra bởi tình yêu trong suốt trăm năm của dòng họ Buendia, bị bỏ quên và bị kiến cắn cho đến chết, đến đài tưởng niệm hình cánh buồm, ghi nhớ công ơn các chiến sĩ của con tàu không số. Nơi ấy có người thương binh âm thầm trồng hoa chăm sóc hàng ngày…Những cảnh sắc tương phản ấy đứng cạnh nhau gây được ấn tượng sâu đậm nơi người đọc.

Sự hấp dẫn của trang văn Bích Ngân còn là sự lấp lánh sắc màu trong việc phối hợp nhiều thủ pháp kiến tạo tác phẩm. Bích Ngân dựng truyện như cách viết tiểu thuyết, khác với lối “thuật truyện” của nhiều tác giả viết truyện ngắn.  Nhiều nhân vật có đường nét góc cạnh. Cách nói năng của ông Út trong truyện Rượu 40 năm khiến bà Út có cảm giác như “bị chồng tạt trà nóng vào mặt” (tr.46). Cách nói chuyện của ông Tơ với vợ trong truyện Bên dòng sông Ray khiến người đọc cũng muốn can ngăn ông nên từ tốn với bà. Ngôn ngữ đối thoại của Bích và chồng trong Đường đến Cây cô đơn cũng là kiểu nói năng rất lạ: “Hỏi nhát gừng, trả lời nhát gừng, không đại từ, thiếu chủ ngữ, vắng cung bậc cảm xúc”. Bích Ngân có cảm quan đặc biệt về mùi hương trong những dòng miêu tả ít người ngờ tới. “Khi cửa xe mở ra, luồng gió mang chướng khí núi rừng của dãy Tà lơn nổi tiếng huyền thuật như xộc thẳng vào giác quan Thùy. Mùi ẩm mốc của cây lá, mùi rêu phong của đất đá, mùi phế tích của đền đài, mùi vôi vữa từ những công trình đang xây, mùi hăng hăng của hoa dại, mùi thơm thoang thoảng từ những khóm hoa được trồng dài theo lối đi dẫn vào khách sạn. Hoàng hôn Pokor khoác trên mình chiếc áo sắc màu ma mị cùng mùi hương của một cao nguyên đang thức giấc sau một giấc ngủ dài” (Kẹt trong sương mù, tr.76), và cả “mùi của ánh trăng” (tr.117).

Đôi khi, một vài chi tiết rất tình cờ, được dùng có nghệ thuật lại có sức chuyển tải một thông điệp ẩn mật mà người đọc phải giải mã cả câu truyện mới ngộ ra được. Mở đầu truyện Cánh rừng vĩnh cửu, Chị bỏ vào vali chai thuốc muỗi và cái đèn pin để theo tour đi thuyền khám phá hồ về đêm. Chị đã không đi tour ấy mà theo người đàn ông lạ mặc đồ lính vào rừng. Kết truyện, sau khi nghe điện thoại của chồng (anh đang ở quán nhậu, giọng lè nhè), “Rồi không rõ vì sao, Chị lại nghĩ đến chiếc đèn pin và chai thuốc chống muỗi hiệu Soffell mà mình đã vứt vào vali như những vật dụng vô dụng dẫu chưa một lần sử dụng”(tr. 213). Tại sao chị lại nhớ đến hai vật dụng này sau khi nghe phone của chồng, và tác giả kết truyện với hai chi tiết này là có dụng ý gì? Những câu hỏi thú vị.

Điều thú vị khác là nhiều câu văn của Bích Ngân có thể đứng một mình, chuyển tải những thông điệp hàm nghĩa triết lý. Những câu văn sâu sắc như vậy không nhiều ở những cây bút nữ. Kết truyện Đường đến cây cô đơn, nhân vật Tứ nói: “Cây nào đứng thẳng cũng đều là Cây cô đơn”. Một nhắc nhở khác: “…thói quen luôn là một kẻ điêu ngoa, giỏi dẫn dắt và thừa ma lực chế ngự”(tr.8). Một nhận định: “Hành tinh mà con người đang sống, có lẽ cũng không quá bí ẩn và dường như cũng không rộng lớn đến vô cùng”(tr.155). Một trải nghiệm: “Khi cùng một điểm đến và chung một nỗi lo, dường như ai cũng biết thu mình hẹp lại và nhích sát vào nhau” (tr.171). Và một cảnh giác: “…Không một loài hoa nào thoát khỏi lũ bướm háu sắc, lũ ong khát mật” (tr184)…

 
VÀ… DƯ ÂM

Gấp tập truyện lại, tôi thấy dáng dấp lịch lãm, đằm thắm và sâu sắc của nhà văn trong bóng dáng các nhân vật, trong những chuyến đi, trong những ngẫm suy về những vấn đề “nóng” của cuộc sống hôm nay; và hơn thế, tôi thấy một cốt cách truyện ngắn Bích Ngân với những sắc màu và dư vị rất riêng, dịu dàng nhưng mãnh liệt, rất đời thực nhưng cũng rất lãng mạn. Cốt cách ấy ấp ủ một hồn cốt dân tộc đầy bản lĩnh.

Tháng 10. 2019.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm