TIN TỨC

Hành trình trở về trong chùm thơ Phạm Thanh Bình

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-01-16 23:54:31
mail facebook google pos stwis
2625 lượt xem

Những ngày cuối năm, khi mùi Tết đã phảng phất đâu đó, tôi bỗng nhận được chùm lục bát của nhà thơ Phạm Thanh Bình ở thành phố Hồ Chí Minh gửi tặng. Thật lạ, giữa thành phố ồn ào náo nhiệt vậy mà từng câu thơ lục bát vẫn trong trẻo chân quê. Bao hình ảnh về cảnh quê, Tết quê dường như cứ thao thiết chảy trong dòng cảm xúc thương nhớ của nhà thơ. Tôi cũng là người xa xứ cùng thế hệ với tác giả nên đọc thơ mà cảm thấy lòng mình cứ nao nao nỗi nhớ cố hương.

Nhà thơ Phạm Thanh Bình

Chỉ là chùm thơ lục bát nhưng chứa đủ cảm xúc thăng trầm của một cuộc hành trình từ trong tâm tưởng đến bước chân ngoài đời. Có ngày ra đi, có lần mò chìm nổi, có tìm lại chính mình và có cả trở về khi đã dạn dày sương gió.

 

Ngày ra đi…

Mọi cuộc ra đi để mà trở về thì cái sự ra đi đó sẽ nhẹ nhàng, người ra đi sẽ vững bước. Đối với nhà thơ Phạm Thanh Bình, hành trình ra đi “tha phương cầu thực” không hẹn ngày về nên rất day dứt, buồn tủi:

Cắm đầu... 

                 con bước hụt hơi 

Không dám ngoảnh lại...

                                            nhìn nơi sân nhà.

 (Cúi đầu)

Câu thơ bị ngắt quãng bởi cái cảm giác nặng nề, ngập ngừng ái ngại khi phải rời bỏ quê hương. Một cuộc ra đi bất đắc dĩ. Ra đi mà như trốn chạy khỏi bao tình cảm gia đình nên phải “Cắm đầu… con bước hụt hơi”. Nỗi lòng tác giả cứ giằng xé “không dám ngoảnh lại”, không dám từ biệt. Nhà thơ sợ bị mềm lòng không dứt ra được. Thật là cám cảnh thê lương!

 

Lạc giữa cõi đời…

Rời xa quê hương, trốn chạy lòng mình để tìm đến những miền đất hứa. Chấp nhận gian truân vất vả xứ người cũng chỉ vì cái kiếp mưu sinh. Để rồi đến lúc nhà thơ chợt nhận ra mình đang bị trôi lạc giữa dòng đời:

Tôi là ai?...

                giữa phố say

Tiền tài, danh vọng... 

                                     trả vay cuộc người. 

                                                      (Tôi là ai?)

Vết thương trên câu thơ lục bát cứ vật vờ như bước chân phiêu dạt. Nhân vật trữ tình càng đi xa càng chơi vơi lạc lõng. “Tôi là ai” giữa nơi đất khách quê người? Cái mơ ước nhỏ bé mà nhà thơ phải rứt ruột đi tìm ngày càng mất hút giữa “phố say”, giữa “tiền tài danh vọng”. Tất cả chỉ là “trả vay cuộc người”. Hai tiếng “cuộc người” nghe sao mà ngao ngán đến tận cùng của đời phiêu bạt. Sự trải đời và chứng kiến bao hỉ nộ ái ố giữa chốn trần gian đã được nhà thơ gom lại trong hai tiếng “cuộc người” trần trụi.

Từ sự lạc lõng bơ vơ đã đánh thức bản ngã:

Lạ chưa?...

                vui khóc, buồn cười 

Xênh xang áo nón...

                                  vẫn người đâu đâu.

                                                  (Tôi là ai?)

Những câu thơ trải lòng khi “đi tìm lại chính mình” giữa bao chuyện “vui khóc, buồn cười” lạ đời nơi đô thị. Cũng từ cuộc mưu sinh vất vả mà nhà thơ nhận ra mình không thể hoà nhập, “vẫn người đâu đâu” giữa chốn phồn hoa. Cái “người đâu đâu” đó chính cái bản ngã đáng trân quý còn sót lại.

Có lẽ tác giả cũng không ngờ cuộc ra đi để tìm cơm áo lại có lúc như bị lạc lối giữa chốn phù hoa. Và rồi từ tiếng gọi sâu thẳm khắc khoải trong cõi lòng, buộc nhà thơ lại phải tiếp tục hành trình đi tìm chính mình:

Tôi là ai?...

               thật bẽ bàng

Xế chiều sấp bóng

                                ...ngồi ôm

                                              ....bóng mình!

 (Tôi là ai?)

Câu thơ tiếp tục bẻ đôi, bẻ ba gợi cho người đọc liên tưởng đến những bước đời vấp ngã trong “cuộc người”. Trên hành trình tìm lại chính mình, nhà thơ đã nhận ra những sự thật “bẽ bàng”. Tác giả thật tinh tế khi sử dụng những thủ thuật ngắt câu, cài đặt dấu câu, kí tự “phi âm thanh” giúp người đọc cảm nhận đầy đủ hơn nỗi lòng trắc ẩn và sự vật vã trong tâm trạng của nhân vật trữ tình. Một nỗi cô đơn được đẩy đến tận cùng của cô đơn. Quả thực, đối với thơ của Phạm Thanh Bình thì độc giả tự đọc sẽ thú vị hơn nhiều khi nghe qua người khác đọc.

 

Định dạng lại mình…

Nhà thơ xót xa, bẽ bàng không phải để mà than thở buông xuôi. Từ trong nỗi tận cùng cô đơn lạc lõng, tác giả đã “định dạng lại chính mình”:

Xa quê 

             quá nửa 

                             đời người...

Phù hoa...

                không át

                                 nổi mùi

                                               rạ, rơm

Chiều nay

                   vấp gánh

                                     hàng rong

Nao nao  

                lòng lại...

                              chạnh lòng 

                                                ...nhớ quê.

 (Người nhà quê!)

Câu thơ lục bát cứ lặng rơi như lời bộc bạch. Nửa đời người ngụp lặn giữa chốn phù hoa, tưởng như mình đã là dân phố thị. Ấy vậy mà khi “vấp gánh hàng rong” thì cái nếp chân quê, cái “mùi rạ rơm” bỗng bùng lên làm cho nhà thơ ngẩn ngơ nao nao chạnh lòng. Từ “vấp” làm vỡ ra sự bất ngờ. Vấp là vì tưởng như đã quên. Hoá ra, tất cả những gì của quê hương bản quán vẫn còn nguyên vẹn trong nỗi nhớ của nhà thơ Phạm Thanh Bình. 

Thói đời, không ít người li hương thường muốn chối bỏ quê nghèo. Nhà thơ Phạm Thanh Bình thì ngược lại. Không chối bỏ lãng quên mà càng nhớ càng tự hào về quê nhà:

Thị thành 

                  nuôi xác...

                                   tốt, tươi 

Dặn lòng

                 hạt giống

                                   là người...

                                                   nhà quê! 

 (Người nhà quê!)

Câu thơ lục bát được chia thành hai nửa: phần xác và phần hồn. Phần xác “tốt tươi” là nhờ vào cơm áo của chốn thị thành; phần hồn là “hạt giống” của quê hương nơi chôn rau cắt rốn. Hai tiếng “nhà quê” thốt lên nghe thật hãnh diện thân thương. Phải là người yêu quê hương bản quán thật sâu đậm mới thốt lên được những câu thơ mộc mạc mà day dứt đến thế.

Trở về…

Nỗi nhớ thương quê hương nguồn cội đã kéo nhà thơ trở về từ trong tâm tưởng:

Về nơi mẹ đẻ, cha sinh

Làm sao gột hết trên mình...

                                                   vết hoang?

(Tôi là ai?)

“Vết hoang” trong hồn thơ của Phạm Thanh Bình chính nét đẹp chân quê. Người quê vốn mộc mạc như ngọn lúa, cục đất, củ khoai. Họ sống chân chất giữa hương đồng gió nội và dường như chưa bị pha tạp bởi thói thị thành. Cái “vết hoang” là bản sắc, là hành trang, là sức đề kháng và cũng là sợi dây níu giữ những đứa con xa quê.

Đọc thơ lục bát của nhà thơ Phạm Thanh Bình, người đọc như gặp lại âm hưởng lời ru trong ca dao. Lời ru và dòng sữa mẹ đã nuôi những đứa con khôn lớn. Khi bước chân nhà thơ đã rời xa cha mẹ, quê hương nhưng lòng dạ thì vẫn như còn ở lại với lời ru của mẹ:

Ru hời...ru hỡi... ru hà...

Sao tròn chữ hiếu... 

                                  khi mà... xa quê?! 

(Cúi đầu)

Tấm lòng hiếu nghĩa của phận làm con cứ đau đáu trong tim. Có lúc nhà thơ như giật mình thảng thốt:

Kẻo mai cha mẹ đi rồi

Dầm mình cõng cả một trời bão dông.

(Về đi con!)

Đạo lí và tình yêu đó như cái bến quê neo đậu tâm hồn. Nó có sức cuốn hút nhà thơ trở về với kí ức, trở về với người thân, trở về với bờ tre gốc rạ. Hình ảnh hiện lên như thước phim quay chậm từ xa đến gần:

Vẫn bến xưa, vẫn con đò

Triền sông vẫn nắng...

                                       vàng hoa cải vàng.

(Tôi là ai?)

Nhờ có tình yêu quê hương mãi trung trinh vẹn tròn nên nhà thơ mới cảm nhận được cảnh vật bến nước con đò vẫn như xưa. Và không gian vẫn bừng sáng bởi mùa hoa cải ven sông vàng rực trong nắng.

Và nhà thơ đã trở về với mái nhà quen thuộc, nơi lưu giữ biết bao hoài niệm thân thương:

Bên hiên nhà ngói ba gian

Mẹ ngồi gói bánh dưới giàn mướp hương 

Bánh gai, bánh mật, bánh chưng 

Mẹ ướp vào bánh cả hương đất, trời.

(Tết xưa thương nhớ!)

Thật thú vị được gặp lại những cái bánh quen thuộc gắn liền với kí ức của tuổi thơ và chứa đựng những giá trị văn hoá, cùng với hương quê thật là lãng mạn: Mẹ ướp vào bánh cả hương đất, trời!

Đến đây người đọc càng đồng cảm với nhà thơ về hồn quê, hương quê đã “ướp” vào trong những cái “bánh gai, bánh mật, bánh chưng”. Vì thế mà những cái bánh quê không thể thiếu được trong dịp Tết đến Xuân về.

 

Chùm thơ đã vẽ lại hành trình quá nửa đời xa quê của nhà thơ Phạm Thanh Bình. Một hành trình có cất bước ra đi; có lưu lạc giữa cõi đời; có tìm lại chính mình và cuối cùng là cuộc trở về như một định mệnh kiêu hãnh:

Đi từ ruộng lúa, bờ đê 

Giàu, nghèo cũng có một quê... để về!

(Tết xưa thương nhớ!)

Câu thơ không còn phải “cúi đầu” nặng bước, không còn phải “cắm đầu” trốn chạy mảnh sân nhà và những giọt nước mắt của mẹ. Mỗi trang thơ là một trang đời. Người đọc đã nhận ra từ cuộc hảnh trình một Phạm Thanh Bình tài hoa mà ấm áp nghĩa tình chân quê.

                                                                01/2025

Trần Vinh

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm