TIN TỨC

Hành trình trở về trong chùm thơ Phạm Thanh Bình

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-01-16 23:54:31
mail facebook google pos stwis
2219 lượt xem

Những ngày cuối năm, khi mùi Tết đã phảng phất đâu đó, tôi bỗng nhận được chùm lục bát của nhà thơ Phạm Thanh Bình ở thành phố Hồ Chí Minh gửi tặng. Thật lạ, giữa thành phố ồn ào náo nhiệt vậy mà từng câu thơ lục bát vẫn trong trẻo chân quê. Bao hình ảnh về cảnh quê, Tết quê dường như cứ thao thiết chảy trong dòng cảm xúc thương nhớ của nhà thơ. Tôi cũng là người xa xứ cùng thế hệ với tác giả nên đọc thơ mà cảm thấy lòng mình cứ nao nao nỗi nhớ cố hương.

Nhà thơ Phạm Thanh Bình

Chỉ là chùm thơ lục bát nhưng chứa đủ cảm xúc thăng trầm của một cuộc hành trình từ trong tâm tưởng đến bước chân ngoài đời. Có ngày ra đi, có lần mò chìm nổi, có tìm lại chính mình và có cả trở về khi đã dạn dày sương gió.

 

Ngày ra đi…

Mọi cuộc ra đi để mà trở về thì cái sự ra đi đó sẽ nhẹ nhàng, người ra đi sẽ vững bước. Đối với nhà thơ Phạm Thanh Bình, hành trình ra đi “tha phương cầu thực” không hẹn ngày về nên rất day dứt, buồn tủi:

Cắm đầu... 

                 con bước hụt hơi 

Không dám ngoảnh lại...

                                            nhìn nơi sân nhà.

 (Cúi đầu)

Câu thơ bị ngắt quãng bởi cái cảm giác nặng nề, ngập ngừng ái ngại khi phải rời bỏ quê hương. Một cuộc ra đi bất đắc dĩ. Ra đi mà như trốn chạy khỏi bao tình cảm gia đình nên phải “Cắm đầu… con bước hụt hơi”. Nỗi lòng tác giả cứ giằng xé “không dám ngoảnh lại”, không dám từ biệt. Nhà thơ sợ bị mềm lòng không dứt ra được. Thật là cám cảnh thê lương!

 

Lạc giữa cõi đời…

Rời xa quê hương, trốn chạy lòng mình để tìm đến những miền đất hứa. Chấp nhận gian truân vất vả xứ người cũng chỉ vì cái kiếp mưu sinh. Để rồi đến lúc nhà thơ chợt nhận ra mình đang bị trôi lạc giữa dòng đời:

Tôi là ai?...

                giữa phố say

Tiền tài, danh vọng... 

                                     trả vay cuộc người. 

                                                      (Tôi là ai?)

Vết thương trên câu thơ lục bát cứ vật vờ như bước chân phiêu dạt. Nhân vật trữ tình càng đi xa càng chơi vơi lạc lõng. “Tôi là ai” giữa nơi đất khách quê người? Cái mơ ước nhỏ bé mà nhà thơ phải rứt ruột đi tìm ngày càng mất hút giữa “phố say”, giữa “tiền tài danh vọng”. Tất cả chỉ là “trả vay cuộc người”. Hai tiếng “cuộc người” nghe sao mà ngao ngán đến tận cùng của đời phiêu bạt. Sự trải đời và chứng kiến bao hỉ nộ ái ố giữa chốn trần gian đã được nhà thơ gom lại trong hai tiếng “cuộc người” trần trụi.

Từ sự lạc lõng bơ vơ đã đánh thức bản ngã:

Lạ chưa?...

                vui khóc, buồn cười 

Xênh xang áo nón...

                                  vẫn người đâu đâu.

                                                  (Tôi là ai?)

Những câu thơ trải lòng khi “đi tìm lại chính mình” giữa bao chuyện “vui khóc, buồn cười” lạ đời nơi đô thị. Cũng từ cuộc mưu sinh vất vả mà nhà thơ nhận ra mình không thể hoà nhập, “vẫn người đâu đâu” giữa chốn phồn hoa. Cái “người đâu đâu” đó chính cái bản ngã đáng trân quý còn sót lại.

Có lẽ tác giả cũng không ngờ cuộc ra đi để tìm cơm áo lại có lúc như bị lạc lối giữa chốn phù hoa. Và rồi từ tiếng gọi sâu thẳm khắc khoải trong cõi lòng, buộc nhà thơ lại phải tiếp tục hành trình đi tìm chính mình:

Tôi là ai?...

               thật bẽ bàng

Xế chiều sấp bóng

                                ...ngồi ôm

                                              ....bóng mình!

 (Tôi là ai?)

Câu thơ tiếp tục bẻ đôi, bẻ ba gợi cho người đọc liên tưởng đến những bước đời vấp ngã trong “cuộc người”. Trên hành trình tìm lại chính mình, nhà thơ đã nhận ra những sự thật “bẽ bàng”. Tác giả thật tinh tế khi sử dụng những thủ thuật ngắt câu, cài đặt dấu câu, kí tự “phi âm thanh” giúp người đọc cảm nhận đầy đủ hơn nỗi lòng trắc ẩn và sự vật vã trong tâm trạng của nhân vật trữ tình. Một nỗi cô đơn được đẩy đến tận cùng của cô đơn. Quả thực, đối với thơ của Phạm Thanh Bình thì độc giả tự đọc sẽ thú vị hơn nhiều khi nghe qua người khác đọc.

 

Định dạng lại mình…

Nhà thơ xót xa, bẽ bàng không phải để mà than thở buông xuôi. Từ trong nỗi tận cùng cô đơn lạc lõng, tác giả đã “định dạng lại chính mình”:

Xa quê 

             quá nửa 

                             đời người...

Phù hoa...

                không át

                                 nổi mùi

                                               rạ, rơm

Chiều nay

                   vấp gánh

                                     hàng rong

Nao nao  

                lòng lại...

                              chạnh lòng 

                                                ...nhớ quê.

 (Người nhà quê!)

Câu thơ lục bát cứ lặng rơi như lời bộc bạch. Nửa đời người ngụp lặn giữa chốn phù hoa, tưởng như mình đã là dân phố thị. Ấy vậy mà khi “vấp gánh hàng rong” thì cái nếp chân quê, cái “mùi rạ rơm” bỗng bùng lên làm cho nhà thơ ngẩn ngơ nao nao chạnh lòng. Từ “vấp” làm vỡ ra sự bất ngờ. Vấp là vì tưởng như đã quên. Hoá ra, tất cả những gì của quê hương bản quán vẫn còn nguyên vẹn trong nỗi nhớ của nhà thơ Phạm Thanh Bình. 

Thói đời, không ít người li hương thường muốn chối bỏ quê nghèo. Nhà thơ Phạm Thanh Bình thì ngược lại. Không chối bỏ lãng quên mà càng nhớ càng tự hào về quê nhà:

Thị thành 

                  nuôi xác...

                                   tốt, tươi 

Dặn lòng

                 hạt giống

                                   là người...

                                                   nhà quê! 

 (Người nhà quê!)

Câu thơ lục bát được chia thành hai nửa: phần xác và phần hồn. Phần xác “tốt tươi” là nhờ vào cơm áo của chốn thị thành; phần hồn là “hạt giống” của quê hương nơi chôn rau cắt rốn. Hai tiếng “nhà quê” thốt lên nghe thật hãnh diện thân thương. Phải là người yêu quê hương bản quán thật sâu đậm mới thốt lên được những câu thơ mộc mạc mà day dứt đến thế.

Trở về…

Nỗi nhớ thương quê hương nguồn cội đã kéo nhà thơ trở về từ trong tâm tưởng:

Về nơi mẹ đẻ, cha sinh

Làm sao gột hết trên mình...

                                                   vết hoang?

(Tôi là ai?)

“Vết hoang” trong hồn thơ của Phạm Thanh Bình chính nét đẹp chân quê. Người quê vốn mộc mạc như ngọn lúa, cục đất, củ khoai. Họ sống chân chất giữa hương đồng gió nội và dường như chưa bị pha tạp bởi thói thị thành. Cái “vết hoang” là bản sắc, là hành trang, là sức đề kháng và cũng là sợi dây níu giữ những đứa con xa quê.

Đọc thơ lục bát của nhà thơ Phạm Thanh Bình, người đọc như gặp lại âm hưởng lời ru trong ca dao. Lời ru và dòng sữa mẹ đã nuôi những đứa con khôn lớn. Khi bước chân nhà thơ đã rời xa cha mẹ, quê hương nhưng lòng dạ thì vẫn như còn ở lại với lời ru của mẹ:

Ru hời...ru hỡi... ru hà...

Sao tròn chữ hiếu... 

                                  khi mà... xa quê?! 

(Cúi đầu)

Tấm lòng hiếu nghĩa của phận làm con cứ đau đáu trong tim. Có lúc nhà thơ như giật mình thảng thốt:

Kẻo mai cha mẹ đi rồi

Dầm mình cõng cả một trời bão dông.

(Về đi con!)

Đạo lí và tình yêu đó như cái bến quê neo đậu tâm hồn. Nó có sức cuốn hút nhà thơ trở về với kí ức, trở về với người thân, trở về với bờ tre gốc rạ. Hình ảnh hiện lên như thước phim quay chậm từ xa đến gần:

Vẫn bến xưa, vẫn con đò

Triền sông vẫn nắng...

                                       vàng hoa cải vàng.

(Tôi là ai?)

Nhờ có tình yêu quê hương mãi trung trinh vẹn tròn nên nhà thơ mới cảm nhận được cảnh vật bến nước con đò vẫn như xưa. Và không gian vẫn bừng sáng bởi mùa hoa cải ven sông vàng rực trong nắng.

Và nhà thơ đã trở về với mái nhà quen thuộc, nơi lưu giữ biết bao hoài niệm thân thương:

Bên hiên nhà ngói ba gian

Mẹ ngồi gói bánh dưới giàn mướp hương 

Bánh gai, bánh mật, bánh chưng 

Mẹ ướp vào bánh cả hương đất, trời.

(Tết xưa thương nhớ!)

Thật thú vị được gặp lại những cái bánh quen thuộc gắn liền với kí ức của tuổi thơ và chứa đựng những giá trị văn hoá, cùng với hương quê thật là lãng mạn: Mẹ ướp vào bánh cả hương đất, trời!

Đến đây người đọc càng đồng cảm với nhà thơ về hồn quê, hương quê đã “ướp” vào trong những cái “bánh gai, bánh mật, bánh chưng”. Vì thế mà những cái bánh quê không thể thiếu được trong dịp Tết đến Xuân về.

 

Chùm thơ đã vẽ lại hành trình quá nửa đời xa quê của nhà thơ Phạm Thanh Bình. Một hành trình có cất bước ra đi; có lưu lạc giữa cõi đời; có tìm lại chính mình và cuối cùng là cuộc trở về như một định mệnh kiêu hãnh:

Đi từ ruộng lúa, bờ đê 

Giàu, nghèo cũng có một quê... để về!

(Tết xưa thương nhớ!)

Câu thơ không còn phải “cúi đầu” nặng bước, không còn phải “cắm đầu” trốn chạy mảnh sân nhà và những giọt nước mắt của mẹ. Mỗi trang thơ là một trang đời. Người đọc đã nhận ra từ cuộc hảnh trình một Phạm Thanh Bình tài hoa mà ấm áp nghĩa tình chân quê.

                                                                01/2025

Trần Vinh

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm