TIN TỨC

Những người suốt đời “mua vé ngồi”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-04 10:55:50
mail facebook google pos stwis
1520 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

HUỲNH DŨNG NHÂN

Một trong những người “suốt đời mua vé ngồi” trên chiếc xe lăn (cách nói đùa của thương binh liệt hai chân) đó là một thương binh mà tôi quen biết từ lần đến đây viết bài lần đầu tiên cách đây 30 năm.



Anh Nguyễn Văn Hoàng là thương binh Tây Nam, quê Long An, anh có một người vợ khỏe mạnh và xinh đẹp ở thị trấn Long Hải.
Hai vợ chồng mở thêm quán nước, cho thuê bàn bi-a, lúc nào tụ tập thương binh thì hát karaoke tưng bừng.
Mỗi khi có dịp về quê anh chạy xe máy ba bánh về Long An hết 3 tiếng rưỡi…
Mới hơn 20 tuổi anh đã dính chặt vào cái xe lăn cho tới bây giờ đã trên dưới 50 năm. Anh chàng này khá đẹp trai, đàn hát tốt, ngồi xe lăn chơi bi-a mà tôi đủ tay đủ chân còn thua anh.
Năm 1993, khi tôi đến đây viết phóng sự, anh là người đầu tiên tôi làm quen với câu hỏi ất ơ: “Có nhậu được không?”. Hoàng trả lời: “Không nhậu thì biết làm gì?”. Lúc đó Hoàng còn độc thân. Chán đời lắm, suốt ngày nhậu nhẹt đá gà ở xóm nhà lá (nơi tập trung toàn thương binh độc thân). Sau Hoàng bén duyên với cô Loan em gái y sĩ Dũng, hai gia đình đều ngăn cản, nhưng họ vẫn quyết đến với nhau.
Giờ cái câu “Không nhậu thì biết làm gì?” đã khác xưa. Hoàng vẫn nhậu, nhưng bận rộn, vì đã ra ngoài khu dân cư ở, mở quán cà phê bi-a. Sống cũng ổn. Thỉnh thoảng Hoàng lại đích thân chở cô vợ xinh xắn sau chiếc xe ba bánh gắn máy phóng về quê tận Long An. Tình bạn giữa tôi và Hoàng thương binh gắn chặt từ cái thủa ban đầu ấy.
Cái năm anh cưới vợ, bạn bè đến đông vui lắm. Đám cưới toàn thương binh ngồi xe lăn đến dự.
Hôm nay tôi đến, khu thương binh có biệt danh là “xóm nhà lá” 30 năm trước nay đã rất khang trang đẹp đẽ. Nhưng hiện nay chỉ còn 51 thương binh vì nhiều người do bệnh tật hoặc lớn tuổi đã mất…
Cơ ngơi Khu điều dưỡng hiện nay đã ổn định. Nhưng trước kia, đã có lần khu thương binh suýt bị dời đi nơi khác để “giữ gìn bộ mặt cho khu du lịch”. Sau nhờ có chỉ đạo của Thủ tướng Võ Văn Kiệt: “Nơi nào tốt nhất hãy dành cho thương binh”, cơ ngơi mới được yên ổn cho đến nay.
Trước đây, khi tôi đến khu thương binh lần đầu vào năm 1993. có 64 thương binh trong đó có 17 người quê ở miền Bắc, có 10 thương binh nữ, 4 thương binh từ thời chống Pháp, 20 thương binh từ thời chống Mỹ, còn lại là thương binh từ chiến trường Campuchia trở về. Trong số các thương binh, có 31 người bị liệt tủy sống, 5 người liệt não, 3 người mù cả 2 mắt, 7 người cụt cả 2 chân… Ngày qua ngày, mọi việc lặp đi lặp lại trên chiếc xe lăn quen thuộc. nhiều người điều trị ở đây trên dưới một năm vẫn chưa một lần thấy biển. So với những khu thương binh mà tôi đã đến, thì nơi đây có thể nói là khá hơn. Mỗi người một phòng, một quạt máy, giường đệm, bàn ghế đầy đủ, toilét riêng. Chế độ: tiền trợ cấp theo quân hàm (ở đây cao nhất là đại úy). Nhà nước cấp 40kg gạo một người. người bị mù 2 mắt và bị tâm thần được thêm 20kg gạo quy ra tiền. Nói chung một thương binh có gần 300.000đ/tháng. Tạm đủ cho những nhu cầu tối thiểu của một người hầu như không bước ra khỏi nhà. Chỉ thương cho anh em thương binh quê ở các tỉnh miền Bắc xa xôi, các địa phương ít vào thăm được.
Trong những lần đến đây tôi đã kịp tìm hiểu về hoàn cảnh khá đặc biệt của một số cặp vợ chồng thương binh mà mỗi câu chuyện về những đôi vợ chồng này rất nhiều điều để viết được tiểu thuyết.
Đó là: Anh Nguyễn Hoàng Sáu, quê Nghệ An bị thương ở biên giới Tây Nam, liệt tủy sống. Nằm Quân y viện 175 nhiều năm trời. Có một cô giáo trẻ ở quận 1 tên là Nguyễn Thị Ánh đến thăm cùng đoàn đại biểu, gặp hoàn cảnh anh Sáu, chị Ánh hết sức khâm phục, yêu thương, và sau đó đã tổ chức cưới rồi chuyển về đây. Một tay chị nuôi mấy con heo kiếm tiền nuôi chồng, ai cũng khen giỏi. Anh Sáu đã mất mấy năm sau đó. Đó là:
- Anh Phạm Quốc Chính, quê Quảng Ngãi, kết duyên cùng chị Lý Thị Tương, một y tá gây mê hồi sức cấp cứu của Quân y viện 175. Năm 1986, cả hai người về đây tổ chức làm lễ cưới. Nguồn thu nhập chính của anh chị là nuôi heo. Đó là:
- Chị Văn Thị Hồng Vân, thương binh liệt nửa người, nhưng qua quá trình thăm hỏi động viên nhau, anh Nguyễn Văn Thắng, Trưởng phòng quản trị của Khu điều dưỡng vẫn quyết định tiến tới hôn nhân, và nay cả hai đều là nhân viên của Khu điều dưỡng. Đó là:
Một cặp vợ chồng cả hai đều là thương bệnh binh là anh Nguyễn Văn Hạnh, cụt cả hai tay, chị Mai Cúc là bệnh binh hạng 1/3. Anh chị được tỉnh Đồng Tháp giúp đỡ xây nhà và huyện Long Đất hỗ trợ bán giải khát ở bờ biển…
Đó là những cặp vợ chồng thương binh mà người vợ hoàn toàn lành lặn khỏe mạnh. Sáng ra họ đi mua phở cho chồng, còn mình ăn cơm nguội. Có người vợ là hộ lý, chồng là thương binh mất, sau này chị lại vẫn lấy một thương binh khác vì chăm sóc anh nên có tình cảm. Đó là những gia đình thương binh mà người chồng bị liệt tủy sống, không thể có con, đám cưới không có đêm tân hôn, sau này người vợ phải thụ tinh ống nghiệm. Đó là một gia đình cả hai vợ chồng đều là thương binh mà nuôi dạy cả 3 con vào đại học…
Đó là bác Bưởi thương binh thời chống Mỹ quê Đồng Tháp, hai tay cụt đến khuỷu tay, nhưng tất tật mọi sinh hoạt đều tự làm một mình dứt khoát không cho ai làm thay…
Những cái gạch đầu dòng ngắn ngủi nhưng sau nó là những cuộc đời đầy xung đột nội tâm trước cuộc sống. Và tôi tin, trong những đồng cảm bác ái của những con người chân chất ấy, còn cả tình đồng chí nữa.
Trong những năm đầu tiên tôi đến đó, vui chuyện, các anh trong Ban giám đốc còn tiết lộ: Trong những năm khó khăn ở khu thương binh cũng có chuyện tiêu cực như: cờ bạc, đá gà, bảo kê nhà hàng đèn mờ. Sau nhờ huyện Long Đất quan tâm và có phong trào các đoàn thể ban ngành giúp đỡ, một số thương binh đã làm thêm nghề bán giải khát, cho thuê phao ở bờ biển, sống khá hơn. Có người còn mua được tivi riêng hoặc gửi tiền về quê cho gia đình… Đời sống khá hơn nên nhiều anh em cảm thấy dễ chịu hơn. Ở đây, sự mặc cảm, tự ti, công thần, bất mãn rất ít khi trở thành nỗi lo cho Ban giám đốc Khu điều dưỡng.
Tôi nhớ mãi một ấn tượng không quên vì chưa chứng kiến một cảnh như thế bao giờ. Các bàn ăn trong một đám giỗ đã dọn lên, nhưng chỉ có cái bàn tròn, không có một chiếc ghế nào. Bởi khách đều là thương binh ngồi trên xe lăn. Những thương binh điều khiển chiếc xe lăn một cách nhanh nhẹn và chính xác qua các dãy hành lang rồi tụ vào bàn. Mỗi bàn một ly xây chừng. Trên gương mặt mỗi người vẫn còn nét lạc quan, vui nhộn của người lính.
Người làm đám giỗ là anh Trao, thương binh thời chống Mỹ. Ở đây anh Trao còn có một người con rể. Đó là anh thương binh Mai Văn Hương, quê Hà Tây. Khi đám tiệc chưa vào cuộc, tôi còn chú ý đến một thương binh khác, anh Thủy, quê Quảng Bình. Mảnh đạn từ cổ xuyên ra sau gáy đã làm anh liệt cả hai bàn chân và co quắp một tay. Tôi nhìn anh chơi Brikgame, trò chơi xây nhà, chỉ bởi có một bàn tay và những ngón tay vụng về, hầu như anh không chơi được bao nhiêu điểm nhưng vẫn rất say sưa.
Nói đến phong trào văn nghệ của thương binh, không thể không nhắc đến thương binh Xuân Hải, quê Hà Tĩnh. Hải trước cũng ở xóm nhà lá bên cạnh hồ sen trước khi có người phụ nữ đem lòng yêu thương dọn ra riêng “góp gạo thổi cơm chung”. Hải là cây văn nghệ với giọng hát khỏe và ấm áp của người miền Trung. Mỗi khi có đoàn khách đến thăm là mọi thương binh nhao lên gọi Hải hát. Hầu như Hải chỉ hát mấy bài tủ: Bài ca nhớ Bác, Tấm áo mẹ vá năm xưa, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh… Nghe anh hát lạc quan và tự tin yêu đời quá, không chỉ các cô gái mà cả những người đàn ông đến thăm cũng đỏ hoe mắt. Không mấy ai nghĩ anh liệt nửa người, trong thân thể nặng nề phần trên ấy đủ thứ bệnh, túi ni lông đựng nước tiểu lủng lẳng bên hông, cả ngày ngồi trên cái ghế xe lăn diện tích chưa đầy 1m2 lăn tới lăn lui trong khu “ra ngõ gặp thương binh” này.
Trước Hải nhậu cũng tới bến lắm. Giờ già yếu, anh bỏ rượu bia, chăm vào Quân y viện 175 chữa bệnh. Nhưng hát thì vẫn khỏe. Vẫn những tâm tình ấy, vẫn những bài hát ấy. Mấy năm trước khi chúng tôi tổ chức đưa các thương binh về thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh, anh rất xúc động vì lần đầu tiên anh được hát Bài ca nhớ Bác ngay tại Bến Nhà Rồng. Tiếng hát người thương binh “tàn mà không phế” theo lời Bác dạy ấy đã khiến chị Hoa Xinh - Giám đốc Bảo tàng lúc ấy bật khóc và bao người khác đều nước mắt rưng rưng cảm động. Lần này tôi đến thì thương binh Hải đã mất.
Xóm nhà lá trước kia cũng có một câu chuyện tình của thương binh mà tôi muốn nhắc tới ở đây. Đó là thương binh Vũ Văn Hấn, quê Thái Bình. Anh là lính xe tăng, cùng đơn vị có chiếc xe tăng đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập năm 1975. Anh bị thương ở chiến trường Tây Nam. Anh ngồi xe lăn nhưng thỉnh thoảng vẫn cố gượng lấy nạng đi vài bước cho bàn chân có cảm giác được chạm vào đất cho dù có lúc té lăn quay. Anh ở xóm nhà lá khá lâu cùng các thương binh độc thân.
Rồi một chương trình giao lưu kết bạn trên sóng phát thanh đã kéo anh ra khỏi khu nhà lá, biến anh thành môt người đàn ông may mắn, hạnh phúc. Qua chương trình này anh đã viết thư kết bạn với một cô giáo dạy tiếng Anh ở Trị An, Đồng Nai. Ngày anh nhận được thư hồi âm của cô ấy là ngày anh đã bắt đầu rời xe lăn ra tựa cửa trông chờ.
Và không phải cô giáo ấy mà chính anh đi xe lăn, giấu đơn vị, đón xe đò vượt hàng trăm cây số đến với nơi hẹn ở một thị trấn đất đỏ miền Đông. Đến nơi anh choáng người không thấy cô ấy đâu, khi anh bắt đầu thất vọng đau đớn thì cô giáo ấy từ chỗ trốn trong bến xe chạy ùa ra ôm anh và khóc. “Anh ấy đây rồi. Giữa đám đông chỉ có anh ngồi xe lăn nên không nhầm vào đâu được. Anh ấy hiền hơn cả hình dung của em qua thư từ và điện thoại. Em chạy ra cuống cuồng trong mưa, bùn lầy trơn trợt quá, em bỏ cả guốc mà chạy ra với anh ấy, sợ anh ấy biến mất”. Sau này cô giáo ấy kể lại. Hiện nay cô làm giáo viên ở Long Hải, ngoài giờ nhận dạy kèm trẻ tại ngôi nhà bao giờ cũng có những chiếc xe lăn trong sân này.
Mỗi khi tôi đến thăm thương binh, anh Hấn và anh em hay đón tôi ngoài sân, nơi có một cái hồ sen lớn. Khu nhà trệt của thương binh bao quanh hồ sen này. Mỗi thương binh ở một nhà, có phòng trong phòng ngoài, có bếp và nhà cầu thiết kế riêng cho thương binh. Nhiều lúc đến đây tôi có cảm giác như không có người ở. Vắng và buồn. Nhiều thương binh chỉ nằm trong nhà. Họ xem tivi nghe đài, nuôi gà, nuôi heo, có mấy chú chó làm bạn. Một số thương binh có người ở quê đến nuôi dưỡng. Một số anh có những người phụ nữ của mình, sớm hôm chia sẻ mọi vui buồn cũng ấm áp cửa nhà. Đây là nơi mà những người thương binh mà tôi đã làm mấy câu thơ tặng anh em:

“Tôi nhớ cái giường đầy bông băng, những bức tường rất lạnh
Anh thương binh bảo thèm tiếng “Anh ơi” và thèm tiếng “Con ơi”...
Ừ những riêng tư cũng từng có đấy thôi
Nhưng có thế mà nhiều khi không thế
Những toan tính đau đời và những ống nghiệm âu lo, cuối cùng cũng phá tan giấc mơ bồng bế
Những người đàn bà đi qua không để lại số điện bao giờ”

(Thơ Huỳnh Dũng Nhân)

Ở phòng số 5 có anh thương binh tên Phòng, quê Hải Phòng, cựu lính xe tăng, là một người như thế. Tôi đến thăm anh lần nào anh cũng níu kéo lôi mấy hũ rượu ngâm ra đãi. Và lần nào anh cũng ngượng ngịu thú nhận rượu anh ngâm chưa kịp ngấm thuốc đã hết nên phải đổ thêm nước mới liên tục. Tôi hay ngồi với anh, thấm cái đau xót anh kể về chú chó cưng vừa bị người ta bắt mất khiến anh ngẩn ngơ cả tháng trời. Anh Phòng mê bóng đá, trên tường dán đầy lịch bóng đá, mùa World Cup nào anh cũng thức thâu đêm, anh dành tiền mua báo, nghe đài, và tất nhiên có bắt độ chút chút cho thêm hào hứng.
Cứ uống vài ly rượu với khô mực, Phòng lại rơm rớm nước mắt: “Thời gian bọn tôi tính từng tuần chứ không phải bằng tháng bằng năm anh ạ. Cứ sống qua tuần nào biết tuần ấy. Trời gọi ai nấy dạ. Vết thương cũ tái phát, biết “đi” lúc nào. Đến với Khu thương binh Long Hải 30 năm nay, tôi chứng kiến sự ra đi của nhiều anh chị em thương binh ở đây. Họ đi âm thầm có, đi trong đau đớn có. Hầu hết họ đều bình tĩnh chờ ngày ra đi. Mấy anh trong ban giám đốc kể: “Trong hành trang của anh chị em thương binh bao giờ cũng có đủ bộ quân phục, giày và mũ chỉnh tề để chuẩn bị trước. Tôi đã có lần tò mò  thốt lên: “Nhiều thương binh cụt chân hoặc liệt teo chân, họ có dùng giày đâu?”. Các anh trả lời: “Nhưng nghi thức khi khâm liệm vẫn trang nghiêm nhà báo ạ... Một thương binh cụt hai chân chỉ nằm gọn trong nửa quan tài, nhưng trên đầu vẫn là mũ gắn sao, hai ống quần kéo thẳng, đôi giày để bên dưới. Như một thời làm người lính trong quân ngũ”…
Thương binh Nguyễn Văn Phòng vừa mất cách đây 3 năm. Ngày tôi đến đưa tiễn anh, sau xe tang chở linh cữu anh là một hàng xe lăn thương binh nối nhau quanh cái hồ sen hàng ngày anh vẫn ngồi nhậu và hát bài “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”… Bài hát này trong một buổi trưa uống với nhau, mọi người đã kết nối cho nhà văn Hữu Thỉnh tác giả bài thơ “Năm anh em một chiếc xe tăng” cùng nghe.
Tháng 7 này, chúng tôi lại đến với nơi đây. Nhà điều dưỡng sau này đã nhận thêm nhiệm vụ chăm sóc Người có công, nay vừa xây dựng rất khang trang, có thang máy, có hồ bơi, vườn cây xanh, tiêu chuẩn khách sạn 3 sao. Khu nhà lá thương binh trước kia nay đã được thay thế bằng những dãy nhà khang trang trên vùng biển thơ mộng này, đúng như lời nói của Thủ tướng Võ Văn Kiệt  trước kia: “Nơi nào tốt nhất, đẹp nhất hãy dành cho thương binh”. Sau nhiều năm, nhiều thương binh đã có gia đình và dọn ra ngoài ở. Những thương binh mà tôi quen từ 30 năm trước tới nay cũng đã lần lượt khuất xa, có một năm nơi đây tiễn biệt 6 người. Nỗi buồn của anh chị em thương binh là nhiều quy định tiêu chuẩn để xếp hạng thương binh, việc công nhận liệt sĩ cũng còn bất cập, khó khăn. Mối quan hệ quan tâm với một số địa phương và gia đình vẫn chưa đều đặn. Nhiều người nằm điều trị mà không mấy người đến thăm, hoặc có gia đình chỉ đến thăm để nhận thay… lương hay khoản tiền chế độ gì đó của những thương binh tâm thần.
Để kết nối với gia đình và địa phương, trung tâm điều dưỡng đã phải làm mọi cách để thông tin. Mới đây một bác sĩ khoa tâm thần vừa gọi điện báo tin cho chúng tôi biết: Sau hàng chục năm tìm kiếm qua hệ thống ban ngành lao động - thương binh - xã hội các cấp, cũng như thông qua cách kênh báo chí truyền thông, một  thương binh đã tìm thấy gia đình của mình sau bao năm trời tưởng như mất liên lạc, mất tích.
Ngày TB-LS vào 27/7 năm nào Khu thương binh cũng tổ chức thi báo tường và gửi lên TP.HCM nhờ tôi chấm. Tôi nhớ trong một  bài báo tường một đứa bé trai hỏi: “Bác ơi? Tay bác đâu?”. Bác thương binh cụt hai tay trả lời: “Tay bác chưa mọc cháu ạ”. Không phải tay bác bị thương bị cưa cụt, không phải bác bị tàn phế, mà chỉ là tay bác chưa mọc, tay chưa mọc thì tay bác sẽ mọc. Câu trả lời đầy lạc quan của bác thương binh làm tôi nhớ mãi.
Có một điều đặc biệt là ở đơn vị có khá nhiều người quê Nghệ An, từ ban giám đốc đến các bác sĩ và nhân viên văn phòng đến các thương binh…
Đầu tiên là anh Vương Minh Châu giám đốc. Anh cũng là một thương binh, quê Nghệ An.
Sau khi anh Vương Minh Châu được điều động về Bộ LĐ-TB và XH công tác thì anh Nguyễn Cảnh Hòa quê Nghệ An làm giám đốc. Bác sĩ Phan Bá Thống - phó giám đốc cũng là người Nghệ An, các anh Cảnh Tân, Văn Tân là các trưởng phòng cũng là dân Xứ Nghệ, hai bác tài lái xe có tay lái lụa của Khu thương binh là anh Danh, anh Lâm cũng quê Nghệ An. Các thương binh đang điều trị ở đây cũng có gần 10 người lính từng ra đi từ quê Bác, hầu hết là lính bị thương ở biên giới Tây Nam và chiến trường Campuchia như anh Tịnh, anh Dân, anh Văn, anh Nguyên và chị Lâm (bị thương ở Lào). Cảm nhận của chúng tôi  về “hội đồng hương xứ Nghệ” ở Khu thương binh là có một “mẫu số chung” chịu thương chịu khó, lạc quan yêu đời và thích văn nghệ.
Chúng tôi đã trò chuyện với anh Phan Văn Tịnh (thương binh ¼ - 99%, sinh năm 1958, quê ở Nghĩa Hoàng, Tân Kì, Nghệ An) nhập ngũ tháng 2/1976, biên chế theo đoàn 7705 Trung đoàn 205, ra mặt trận tại tỉnh Xiêm Riệp (Campuchia). Anh kể: Tôi bị thương trong một trận đánh lớn vào ngày 9/12/1979.


Đó là trận đánh quân Pôn Pốt và Khơme đỏ ác liệt nhất, một ngày một đêm. Chúng tàn sát dân, con gái thì chúng hãm hiếp, đàn bà trẻ nhỏ, người già chúng cũng giết sạch rồi vứt xác dưới hồ cá sấu cho cá sấu ăn thịt. Bộ đội ta đến nơi, ai còn sống thì cứu lên, ai đã bị cá sấu ăn thịt cũng mang lên để chôn cất. Cảnh tượng ấy thật sự hãi hùng. Chúng tôi dồn địch lên đến núi Hồng và bao vây chúng ở đó. Vì không có gạo, sau 10 ngày, chịu không nổi, chúng đã đầu hàng quân ta”.
Khi được hỏi về cuộc sống, anh thương binh Phan Văn Tịnh cười hạnh phúc và chia sẻ: Vào thời bình, cuộc sống lúc đầu của thương binh liệt hai chi và đốt sống L1, L3, L5 là khá khó khăn. Sau khi chuyển về điều trị tại Sài Gòn, rồi tôi chuyển xuống ở Trại thương binh Long Đất này từ năm 1986, cuộc sống thời kì đầu tương đối vất vả. Nhớ thời gian đầu, vợ tôi bán nước giải khát tại khu du lịch, tôi cũng chạy xe lăn ra để giúp vợ. Mấy tháng sau có được chút vốn, tôi về nuôi heo, ngày ấy, tôi là một tay thợ nuôi heo nổi tiếng trong toàn trung tâm. Cuộc sống ngày một đỡ vất vả hơn, năm 2003, theo sự vận động, gia đình tôi chuyển ra ngoài sống, lúc này tôi lại đau đầu nghĩ xem làm nghề gì để sống, trong một lần đi xe ngoài đường, xe bị lủng bánh, tôi vào vá thì chợt lóe lên à, nghề kiếm sống đây rồi. Thế là về nhà tôi mở cửa hàng thuê thợ và học nghề sửa xe gắn máy. Đến bây giờ, tôi có nhận thêm hai thợ về dạy nghề nữa”.
Chia sẻ thêm với tôi, anh Tịnh còn rất vui khi nói đến công việc từ thiện anh đang làm. Cứ đến mùng 1 và ngày rằm mỗi tháng, anh lại nấu cơm chay để giúp người dân lao động nghèo. Hoạt động này anh duy trì được 5 năm liền rồi. Cũng trong hoạt động từ thiện của mình anh còn tặng sách cho con em gia đình có hoàn cảnh khó khăn để đi học, xin tiền mai táng cho những gia đình nghèo trong khu vực.
Tất cả những việc tốt anh em thương binh làm theo lời Bác Hồ dạy “Thương binh tàn, nhưng không phế”, mọi người đều làm việc tùy theo sức khỏe và khả năng của mình. Khi nhắc đến tên anh Tịnh, anh em thương binh trong Trung tâm đều hết lòng khen anh Tịnh - Nghệ An sống có tâm và giỏi làm kinh tế.
Còn đây là câu chuyện của chị Thạch Thị Lâm, nguyên Chủ tịch Hội đồng thương binh. Chị Lâm là thương binh ¼, sinh năm 1950, quê Diễn Ngọc, Diễn Châu, Nghệ An, nhập ngũ tháng 10/1968, huấn luyện 3 tháng tại Việt Nam rồi sang Lào chiến đấu. Công việc chính của chị là thông đường. Đến năm 1971, trong một lần dẫn đường cho đoàn quân của bộ đội vào chiến trường tại tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), chị đạp phải mìn rồi bị thương phải cưa một chân. 
Nhớ lại ngày bị thương, chị không khỏi rùng mình: “Khi dẫn đoàn bộ đội của ta ra chiến trường, tôi đi trước các anh đi sau. Đang đi trong rừng rậm rạp tôi dẫm phải mìn, máu phụt ra như nước, tôi kêu lên, thì một anh bộ đội phía sau chạy lên cởi áo thắt vết thương lại cho tôi. Kể từ lúc đó tôi lịm đi. Khi tỉnh dậy, tôi đang thấy mình nằm trong phòng bệnh, xung quanh toàn là thương  binh. Nhìn xuống chân mình, tôi vô cùng đau đớn và hụt hẫng khi không thấy đầu gối đâu nữa, vì khi trước khi phẫu thuật, tôi còn cố gắng xin mấy anh để lại đầu gối cho tôi vì nghĩ là sau này tôi sẽ đi bằng hai đầu gối, chứ cắt đi rồi tôi đi bằng gì nữa. Vậy là tôi khóc, khóc đòi đầu gối, tôi cứ kêu lên, đầu gối của em đâu? Mọi người trong Bệnh viện Quân y 11, khóc theo tôi. Khi hoàn toàn phục hồi, các anh chị trong bệnh viện có kể lại cho tôi nghe rằng, vì tôi nhóm máu O, lại mất máu quá nhiều, cơ thể chỉ còn là 1 triệu hồng cầu, mà cả một trận địa pháo không ai thuộc nhóm máu của tôi. Lúc ấy trong trạm có duy nhất chị Nguyệt (quê Thanh Hóa) vừa mổ ruột thừa cùng máu O với tôi, bác sĩ đã xin 100cc máu của chị ấy để truyền cho tôi. Các bác sĩ nói rằng, trong lúc cấp cứu tôi mà không có 100cc máu của chị Nguyệt e là tôi đã chết, khi tôi tìm để cảm ơn thì chị đã được chuyển về quê Thanh Hóa, đến nay, dù rất muốn tìm chị ấy, nhưng tôi không có cách nào”.
Trên đây là câu chuyện tôi ghi theo lời kể của chị Lâm, người nữ thương binh đã hơn nửa thế kỷ sống với cây nạng gỗ.
Tháng 7/2022 vừa qua chị đã được Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam và Bộ LĐ-TB và XH mời ra Hà Nội giao lưu nhân ngày TBLS.
Khu Điều dưỡng thương binh nặng Long Hải (huyện Long Đất - tỉnh BRVT) hôm nay đã đổi mới rất nhiều, từ cái thời “không nhậu thì biết làm gì” nay Khu thương binh đã trở thành một đơn vị đạt nhiều danh hiệu thi đua của Bộ LĐ-TB và XH, từ chỗ ít ai biết tới dù nằm ngay vùng biển sầm uất  thì nay đã nhận được sự quan tâm thăm hỏi và là một điểm đến của hàng trăm đoàn khách trong và ngoài ngành, cũng là nơi mà các nghệ sĩ mong muốn đến phục vụ các tiết mục đặc sắc nhất của mình.
Năm nay, vào dịp 27/7, tôi lại đến thăm anh chị em thương binh và
gặp lại thương binh Nguyễn Văn Hoàng nhân vật trong phóng sự “Vết xe lăn trên cát”, thấy anh khỏe hơn, có nhiều chuyện vui hơn…
Anh khoe các lãnh đạo các cấp của tỉnh Long An quê hương anh vừa đến thăm anh, một anh lãnh đạo tỉnh còn tuyên bố: Trước đây sáu tháng đi thăm thương binh một lần, thì nay sẽ đổi thành 3 tháng đi thăm một lần.
Anh còn khoe: Anh thấy vợ em thương em không? Bã ngâm cho em hẳn ba hũ rượu thuốc.
Anh cũng báo tin vui:
- Anh Tống Đức Bình - Giám đốc trung tâm điều dưỡng vừa nhận đứa con trai anh vào làm việc tại trung tâm, thế là cháu đỡ phải đi xe máy làm việc tuốt Bà Rịa, vợ chồng em đỡ lo hơn.
Anh em thương binh cho biết:
- Hôm qua Hoàng đoạt giải Nhất cuộc đua xe lăn trong Hội thao dành cho thương binh của tỉnh được thưởng 1 triệu đồng. Thế lại lại tụ tập chiêu đãi anh em thương binh và hát karaoke tưng bừng.
Thấy Hoàng vui, anh em vui, tôi rất cảm động. Khi tôi chia sẻ những điều này trong các bài viết của mình, mọi người đều hết lòng khen anh chị em thương binh ở đây sống lạc quan, đối xử với đồng đội  có tâm và làm kinh tế giỏi, dù họ suốt đời phải “mua vé ngồi” trên những chiếc xe lăn.

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm