TIN TỨC

PGS.TS Ngô Minh Oanh - phu chữ âm thầm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-11-27 07:21:46
mail facebook google pos stwis
2049 lượt xem

NGÔ ĐỨC HÀNH

Trong chuyến đi công tác TP. Hồ Chí Minh, tình cờ tôi được gặp PGS. TS. Ngô Minh Oanh. Ông hiện là giảng viên Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Vui hơn, khi biết nhà khoa học sử Ngô Minh Oanh còn là một nhà thơ. Ông đã xuất bản 4 tập thơ: “Đêm nằm nghe ký ức” (năm 2022), “Đất hóa miền thương” (năm 2023) và năm 2024 là cặp “song sinh”: “Tổ quốc mình đất biển mãi hòa nhau”, “Dấu cát trong nhau”.


Một số tác phẩm của nhà thơ Ngô Minh Oanh


Biển là nhà, đảo là quê hương

Giở 3 tập thơ gần đây của nhà thơ Ngô Minh Oanh, tôi thấy người linh và biển đảo là đề tài lớn trong thơ ông. Ở tập thơ “Đất hóa miền thương” có 7 bài / 50 bài thơ, ông viết về biển đảo. Nói đến biển đảo là nói đến người lính hải quân và ngược lại. Là nhà khoa học sử nên trước biển nhà thơ Ngô Minh Oanh nhớ đến người lính đội Hoàng Sa thời nhà Nguyên vượt biển xác lập chủ quyền cho đến anh Bộ đội Cụ Hồ ngày nay.

Hành trang người lính đội Hoàng Sa / Bảy chiếc nẹp tre một chiếc chiếu / Bảy sợi dây mây, cùng một vật không thể thiếu / Là chiếc thẻ tre khắc ghi họ tên người”, (Chiếc thẻ tre người lính đội Hoàng Sa).

Bài thơ của Ngô Minh Oanh gợi trong lòng người đọc những trang lẫm liệt của tiền nhân. Theo sử liệu ghi chép lại, vào thế kỷ 17, triều đình nhà Nguyễn đã tổ chức tuyển chọn những trai tráng khỏe mạnh, giỏi bơi lội của đảo Lý Sơn để sung vào Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải để ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thu lượm sản vật, đo đạc hải trình, vẽ bản đồ, cắm mốc khẳng định chủ quyền.

 “Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, đi bằng những chiếc thuyền câu nhỏ ra biển...”, (Phủ biên tạp lục năm 1776 của Lê Quý Đôn).

Tương truyền rằng do mỗi chuyến đi của Đội Hoàng Sa dài 6 tháng. Biển cả đầy rủi ro bất trắc nên mỗi người lính trước khi đi ra Hoàng Sa phải chuẩn bị sẵn cho mình 1 đôi chiếu, mấy sợi dây mây, 7 cái đòn tre và 1 thẻ tre. Rất nhiều người đã hy sinh trong hành trình xác lập chủ quyền biển đảo. “Người lính đội Hoàng Sa tuổi còn rất trẻ / Hòa thanh xuân vào biển mẹ hiền hòa / Thẻ tre như tấm bia mộ trên biển cả / Lưu danh người hy sinh cho đất nước thanh bình”.

Trong suốt mấy trăm năm hoạt động, đã có hàng vạn người lính thủy quân Hoàng Sa vượt qua biết bao sóng gió, bão tố để thực thi nhiệm vụ giữ gìn chủ quyền lãnh thổ ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Và không phải ai cũng có may mắn trở về. “Người đàn bà ở Lý Sơn” là bài thơ xúc động về những người mẹ mất con, người vợ mất chồng vì nhiệm vụ thiêng liêng ấy.

Từ lâu nay ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) đã hình thành những câu hát dân gian: "Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn/Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây". Đội Hoàng Sa sau này được củng cố thành Thủy quân Hoàng Sa (kiêm quản “Đội Bắc Hải," có nhiệm vụ khai thác vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa).

Tâm hồn nhà thơ Ngô Minh Oanh lúc nào cũng cảm thức về biển, đảo. Vốn là giáo viên ở Đắk Lắk, những ngày gian khó, nhớ đến bạn đang làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa, ông nhận thấy: “Gian khó của bạn mình đã thấm gì đâu”. Nhìn cây rừng ở Tây Nguyên, ông nhớ đến cây phong ba, bão táp trên quần đảo Trường Sa.

...

Ở trên này những cơn gió tháng ba

Gió hú giật như là có bão

Bazan bụi nhuốm hồng sắc áo

Gió trên này có giống gió Trường Sa

(Gửi bạn ở Trường Sa)

 

Trước biển, dù là ở Đồ Sơn, Thái Bình, Phan Thiết, Vũng Tàu, Côn Đảo...tâm hồn nhà thơ Ngô Minh Oanh như có sóng vỗ. Đó là những lớp sóng từ quá khứ, hiện tại...Ông tri ân người lính Đội Hoàng Sa, những chiến sỹ ngã xuống trên những đoàn tàu không số (Viết ở bến tàu không số), cho đến những chiến sỹ hôm nay. Trong tâm thức của Ngô Minh Oanh có một dòng chảy liên tục.

Ở bài thơ “Trước cửa biển Ba Lạt”, cho thấy nhà thơ có một giấc mơ. Giấc mơ được hóa thành hạt phù sa, từ đất liền trôi ra biển hội tụ lại thành những đảo chìm, đảo nổi, hóa thành cột mốc Tổ quốc trên biển.

...

Hạt hồng nào khao khát nơi xa

Hãy theo ngọn sóng trào thẳng tiến

Đảo nổi, đảo chìm thành đội hình phía biển

Góp mỏ neo cắm mốc Tổ quốc mình

(Trước cửa biển Ba Lạt)

Bài thơ “Đảo chìm ở Trường Sa” gần như là một cuộc đối thoại từ vô thức của nhà thơ Ngô Minh Oanh với đảo chìm, đảo nổi. “Ẩn sâu lòng biển dậu phên / Nguyện làm nền móng vững bền tuổi tên / Đảo chìm ẩn sóng ngàn niên / Nâng cao phần nổi đất thiêng nước mình”.


Tác giả bài viết và nhà thơ Ngô Minh Oanh


Nặng lòng trắc ẩn

Đọc thơ Ngô Minh Oanh, tôi mới nhận ra rằng, tâm hồn ông dào dạt cảm xúc, tấm lòng nhân hậu, sẻ chia. Thơ ông vừa trữ tình, vừa ưu tư, suy tư cùng thân phận. Đới sống khúc xạ qua tâm hồn Ngô Minh Oanh thành nỗi buồn, đến lượt có, nỗi buồn cất lên thành thơ.

Ngô Minh Oanh sinh ra và lớn lên ở xã Cam Thủy, huyện Lệ Thủy. Quê hương ấy hiển thị trong thơ ông viết về tuổi thơ lấm láp cùng cánh đồng, bơi lội trên bến sông thật thú vị. “Gáo nước mẹ tắm cho tôi đầu đời / Được múc lên từ bến sông quê / Tôi mầm cây non bắt đầu cắm rễ / Vào mạch nguồn đất mẹ để sum suê”, (Trĩu nặng sông quê).

Lệ Thủy, nơi có dòng sông Kiến Giang nổi tiếng; “Sông quê muôn đời hồn hậu / Nuôi lớn vĩ nhân nuôi lớn thi nhân” và “dòng sông văn hóa” là hò khoan Lệ Thủy chảy mãi trong tâm hồn nhà thơ Ngô Minh Oanh.

Sông Kiến Giang là con sông hiện thực, trong thơ Ngô Minh Oanh trở thành ẩn dụ cho quê hương. Trong ký ức nhà thơ luôn hiện lên, ông luôn thấy mắc nợ dòng sông, mắc nợ quê hương.

....

Ôi Kiến Giang muôn đời lặng lẽ

Ta vô tâm cứ vậy lớn khôn

Ta đâu biết sông tự phân thân mà chảy

Một tinh khiết hạ nguồn qua biết mấy đớn đau

(Kiến Giang sông)

 

Ngô Minh Oanh lớn lên, trưởng thành từ làng, mang theo làng theo suốt hành trình cuộc đời, dẫu ở Tây Nguyên, đi công tác nước ngoài hay hiện lập nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh. Hay nói cách khác, rộng hơn, cánh đồng, dòng sông quê hương “mọc rễ” trong tâm hồn ông, không ai bứng ra được. Điều này cắt nghĩa vì sao, trong 4 tập thơ đã xuất bản, đề tài về quê hương Quảng Bình là một trong những mảng lớn nằm trong “tâm hồn” thơ Ngô Minh Oanh.

Ngô Minh Oanh viết về quê hương từ ký ức tiếng gà, từ cây khế, bát cơm tấm của mẹ....đến những đề tài vạm vỡ như truyền thống, lịch sử mà ông tự hào. “Quảng Bình quan xưa lũy trấn nằm ngang / Quốc lộ nay chạy dọc thành dấu cộng / Cộng bốn trăm năm dồn mạch sống / Cân hai đầu đất nước Quảng Bình ơi”, (Trước Quảng Bình quan).

 Nhà thơ Nga I-li-a Ê-ren-bua từng nói về lòng yêu nước: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào đại trường giang Von-ga, con sông Von-ga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Đúng vậy, không yêu kính người thân, bố mẹ, khó sẻ chia trắc ẩn với người dưng, không yêu làng xóm khó lòng yêu đất nước.

“...Tiếng gà đồng vọng đơm đầy / Đã nghe lúa chín hương bay thơm mùa”, “Người quê chân chất thật thà / Tình người hòa lẫn tiếng gà và quê”, (Tiếng gà quê). Quê hương hiện hữu thơm tho từ tiếng gà, hương lúa trong thơ Ngô Minh Oanh.

PGS.TS Ngô Minh Oanh là người thầy mô phạm, nghĩa tình, thủy chung với đồng nghiệp bạn bè. Là một trí thức nhưng phẩm giá người nhân hậu, rất Quảng Bình. Với tư cách là nhà thơ, Ngô Minh Oanh tiếp tục khám phá, thử nghiệm ngôn ngữ. Ông làm cả thơ tứ tuyệt, thơ lục bát, thơ tự do và cả thơ văn xuôi. Dù dùng thi pháp nào đi nữa, thơ ông luôn là giai điệu của một tâm hồn thơ dung dị, chân thành.

Thơ tôi một kiếp chơi vơi / Cung ngân cao vút cung rơi vực trầm”, “Tôi người phu chữ âm thầm / Giọt đời nhặt nhạnh ươm mầm cây con”, (Thơ tôi). Đó có thể coi là “tự bạch”, xác tín bản ngã và văn bản thơ./.

Ngày 26/11/2024

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm