TIN TỨC

PGS.TS Ngô Minh Oanh - phu chữ âm thầm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-11-27 07:21:46
mail facebook google pos stwis
1523 lượt xem

NGÔ ĐỨC HÀNH

Trong chuyến đi công tác TP. Hồ Chí Minh, tình cờ tôi được gặp PGS. TS. Ngô Minh Oanh. Ông hiện là giảng viên Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Vui hơn, khi biết nhà khoa học sử Ngô Minh Oanh còn là một nhà thơ. Ông đã xuất bản 4 tập thơ: “Đêm nằm nghe ký ức” (năm 2022), “Đất hóa miền thương” (năm 2023) và năm 2024 là cặp “song sinh”: “Tổ quốc mình đất biển mãi hòa nhau”, “Dấu cát trong nhau”.


Một số tác phẩm của nhà thơ Ngô Minh Oanh


Biển là nhà, đảo là quê hương

Giở 3 tập thơ gần đây của nhà thơ Ngô Minh Oanh, tôi thấy người linh và biển đảo là đề tài lớn trong thơ ông. Ở tập thơ “Đất hóa miền thương” có 7 bài / 50 bài thơ, ông viết về biển đảo. Nói đến biển đảo là nói đến người lính hải quân và ngược lại. Là nhà khoa học sử nên trước biển nhà thơ Ngô Minh Oanh nhớ đến người lính đội Hoàng Sa thời nhà Nguyên vượt biển xác lập chủ quyền cho đến anh Bộ đội Cụ Hồ ngày nay.

Hành trang người lính đội Hoàng Sa / Bảy chiếc nẹp tre một chiếc chiếu / Bảy sợi dây mây, cùng một vật không thể thiếu / Là chiếc thẻ tre khắc ghi họ tên người”, (Chiếc thẻ tre người lính đội Hoàng Sa).

Bài thơ của Ngô Minh Oanh gợi trong lòng người đọc những trang lẫm liệt của tiền nhân. Theo sử liệu ghi chép lại, vào thế kỷ 17, triều đình nhà Nguyễn đã tổ chức tuyển chọn những trai tráng khỏe mạnh, giỏi bơi lội của đảo Lý Sơn để sung vào Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải để ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thu lượm sản vật, đo đạc hải trình, vẽ bản đồ, cắm mốc khẳng định chủ quyền.

 “Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, đi bằng những chiếc thuyền câu nhỏ ra biển...”, (Phủ biên tạp lục năm 1776 của Lê Quý Đôn).

Tương truyền rằng do mỗi chuyến đi của Đội Hoàng Sa dài 6 tháng. Biển cả đầy rủi ro bất trắc nên mỗi người lính trước khi đi ra Hoàng Sa phải chuẩn bị sẵn cho mình 1 đôi chiếu, mấy sợi dây mây, 7 cái đòn tre và 1 thẻ tre. Rất nhiều người đã hy sinh trong hành trình xác lập chủ quyền biển đảo. “Người lính đội Hoàng Sa tuổi còn rất trẻ / Hòa thanh xuân vào biển mẹ hiền hòa / Thẻ tre như tấm bia mộ trên biển cả / Lưu danh người hy sinh cho đất nước thanh bình”.

Trong suốt mấy trăm năm hoạt động, đã có hàng vạn người lính thủy quân Hoàng Sa vượt qua biết bao sóng gió, bão tố để thực thi nhiệm vụ giữ gìn chủ quyền lãnh thổ ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Và không phải ai cũng có may mắn trở về. “Người đàn bà ở Lý Sơn” là bài thơ xúc động về những người mẹ mất con, người vợ mất chồng vì nhiệm vụ thiêng liêng ấy.

Từ lâu nay ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) đã hình thành những câu hát dân gian: "Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn/Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây". Đội Hoàng Sa sau này được củng cố thành Thủy quân Hoàng Sa (kiêm quản “Đội Bắc Hải," có nhiệm vụ khai thác vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa).

Tâm hồn nhà thơ Ngô Minh Oanh lúc nào cũng cảm thức về biển, đảo. Vốn là giáo viên ở Đắk Lắk, những ngày gian khó, nhớ đến bạn đang làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa, ông nhận thấy: “Gian khó của bạn mình đã thấm gì đâu”. Nhìn cây rừng ở Tây Nguyên, ông nhớ đến cây phong ba, bão táp trên quần đảo Trường Sa.

...

Ở trên này những cơn gió tháng ba

Gió hú giật như là có bão

Bazan bụi nhuốm hồng sắc áo

Gió trên này có giống gió Trường Sa

(Gửi bạn ở Trường Sa)

 

Trước biển, dù là ở Đồ Sơn, Thái Bình, Phan Thiết, Vũng Tàu, Côn Đảo...tâm hồn nhà thơ Ngô Minh Oanh như có sóng vỗ. Đó là những lớp sóng từ quá khứ, hiện tại...Ông tri ân người lính Đội Hoàng Sa, những chiến sỹ ngã xuống trên những đoàn tàu không số (Viết ở bến tàu không số), cho đến những chiến sỹ hôm nay. Trong tâm thức của Ngô Minh Oanh có một dòng chảy liên tục.

Ở bài thơ “Trước cửa biển Ba Lạt”, cho thấy nhà thơ có một giấc mơ. Giấc mơ được hóa thành hạt phù sa, từ đất liền trôi ra biển hội tụ lại thành những đảo chìm, đảo nổi, hóa thành cột mốc Tổ quốc trên biển.

...

Hạt hồng nào khao khát nơi xa

Hãy theo ngọn sóng trào thẳng tiến

Đảo nổi, đảo chìm thành đội hình phía biển

Góp mỏ neo cắm mốc Tổ quốc mình

(Trước cửa biển Ba Lạt)

Bài thơ “Đảo chìm ở Trường Sa” gần như là một cuộc đối thoại từ vô thức của nhà thơ Ngô Minh Oanh với đảo chìm, đảo nổi. “Ẩn sâu lòng biển dậu phên / Nguyện làm nền móng vững bền tuổi tên / Đảo chìm ẩn sóng ngàn niên / Nâng cao phần nổi đất thiêng nước mình”.


Tác giả bài viết và nhà thơ Ngô Minh Oanh


Nặng lòng trắc ẩn

Đọc thơ Ngô Minh Oanh, tôi mới nhận ra rằng, tâm hồn ông dào dạt cảm xúc, tấm lòng nhân hậu, sẻ chia. Thơ ông vừa trữ tình, vừa ưu tư, suy tư cùng thân phận. Đới sống khúc xạ qua tâm hồn Ngô Minh Oanh thành nỗi buồn, đến lượt có, nỗi buồn cất lên thành thơ.

Ngô Minh Oanh sinh ra và lớn lên ở xã Cam Thủy, huyện Lệ Thủy. Quê hương ấy hiển thị trong thơ ông viết về tuổi thơ lấm láp cùng cánh đồng, bơi lội trên bến sông thật thú vị. “Gáo nước mẹ tắm cho tôi đầu đời / Được múc lên từ bến sông quê / Tôi mầm cây non bắt đầu cắm rễ / Vào mạch nguồn đất mẹ để sum suê”, (Trĩu nặng sông quê).

Lệ Thủy, nơi có dòng sông Kiến Giang nổi tiếng; “Sông quê muôn đời hồn hậu / Nuôi lớn vĩ nhân nuôi lớn thi nhân” và “dòng sông văn hóa” là hò khoan Lệ Thủy chảy mãi trong tâm hồn nhà thơ Ngô Minh Oanh.

Sông Kiến Giang là con sông hiện thực, trong thơ Ngô Minh Oanh trở thành ẩn dụ cho quê hương. Trong ký ức nhà thơ luôn hiện lên, ông luôn thấy mắc nợ dòng sông, mắc nợ quê hương.

....

Ôi Kiến Giang muôn đời lặng lẽ

Ta vô tâm cứ vậy lớn khôn

Ta đâu biết sông tự phân thân mà chảy

Một tinh khiết hạ nguồn qua biết mấy đớn đau

(Kiến Giang sông)

 

Ngô Minh Oanh lớn lên, trưởng thành từ làng, mang theo làng theo suốt hành trình cuộc đời, dẫu ở Tây Nguyên, đi công tác nước ngoài hay hiện lập nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh. Hay nói cách khác, rộng hơn, cánh đồng, dòng sông quê hương “mọc rễ” trong tâm hồn ông, không ai bứng ra được. Điều này cắt nghĩa vì sao, trong 4 tập thơ đã xuất bản, đề tài về quê hương Quảng Bình là một trong những mảng lớn nằm trong “tâm hồn” thơ Ngô Minh Oanh.

Ngô Minh Oanh viết về quê hương từ ký ức tiếng gà, từ cây khế, bát cơm tấm của mẹ....đến những đề tài vạm vỡ như truyền thống, lịch sử mà ông tự hào. “Quảng Bình quan xưa lũy trấn nằm ngang / Quốc lộ nay chạy dọc thành dấu cộng / Cộng bốn trăm năm dồn mạch sống / Cân hai đầu đất nước Quảng Bình ơi”, (Trước Quảng Bình quan).

 Nhà thơ Nga I-li-a Ê-ren-bua từng nói về lòng yêu nước: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào đại trường giang Von-ga, con sông Von-ga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Đúng vậy, không yêu kính người thân, bố mẹ, khó sẻ chia trắc ẩn với người dưng, không yêu làng xóm khó lòng yêu đất nước.

“...Tiếng gà đồng vọng đơm đầy / Đã nghe lúa chín hương bay thơm mùa”, “Người quê chân chất thật thà / Tình người hòa lẫn tiếng gà và quê”, (Tiếng gà quê). Quê hương hiện hữu thơm tho từ tiếng gà, hương lúa trong thơ Ngô Minh Oanh.

PGS.TS Ngô Minh Oanh là người thầy mô phạm, nghĩa tình, thủy chung với đồng nghiệp bạn bè. Là một trí thức nhưng phẩm giá người nhân hậu, rất Quảng Bình. Với tư cách là nhà thơ, Ngô Minh Oanh tiếp tục khám phá, thử nghiệm ngôn ngữ. Ông làm cả thơ tứ tuyệt, thơ lục bát, thơ tự do và cả thơ văn xuôi. Dù dùng thi pháp nào đi nữa, thơ ông luôn là giai điệu của một tâm hồn thơ dung dị, chân thành.

Thơ tôi một kiếp chơi vơi / Cung ngân cao vút cung rơi vực trầm”, “Tôi người phu chữ âm thầm / Giọt đời nhặt nhạnh ươm mầm cây con”, (Thơ tôi). Đó có thể coi là “tự bạch”, xác tín bản ngã và văn bản thơ./.

Ngày 26/11/2024

Bài viết liên quan

Xem thêm
Julio Cortázar và tập truyện ngắn bị “bỏ quên”
Mới đây, A Certain Lucas đã tái xuất sau nhiều thập kỉ, mở ra cánh cửa khám phá nhà văn vĩ đại người Argentina Julio Cortázar cũng như ảnh hưởng vượt khỏi châu Mĩ của cây bút này.
Xem thêm
Đọc tác phẩm “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu dưới góc nhìn từ đời thường
Bài viết của nhà văn Nguyên Bình tác phẩm “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu
Xem thêm
Nước mắt trong Lục Bát Mẹ
Nhà thơ Đỗ Thành Đồng vừa làm lễ kỉ niệm 5 năm ngày mất của mạ, và dịp này anh ra mắt tập thơ thứ 9 “Lục bát mẹ”. Hơn 100 trang sách với 42 bài thơ lục bát viết về mẹ (mẹ anh sinh năm 1942), mỗi bài thơ là một cung bậc cảm xúc, cũng là những khúc ru của một người con hiếu đạo đối với mẹ ở nơi cõi Phật.
Xem thêm
Một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa lạ vừa quen trong hai tác phẩm mới
Một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa lạ vừa quen trong hai tác phẩm mới
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chua ngọt một đời cầm bút
Văn Chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ, nhà lý luận phê bình Lê Thiếu Nhơn như một tiếp nối của cuộc trò chuyện đẹp này.
Xem thêm
Hoàng Đăng Khoa và nỗi buồn đương đại trong tập thơ mới
Có thể nói, buồn là phẩm chất thuộc tính thương hiệu của thi nhân. Tản Đà từ khoảng 1916 đã viết “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi”, 20 năm sau, khoảng 1936, Xuân Diệu “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Cũng khoảng ấy, nhưng trước một hai năm, Thế Lữ cũng “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi! xa vắng mênh mông là buồn”. Ngay cả Tố Hữu, cùng thời gian, viết: “Buồn ta là của buồn đời/ Buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn/ Buồn ta, ấy lửa đang nhen/ Buồn ta, ấy rượu lên men say nồng”. Đều buồn cả.
Xem thêm
Quá trình tự vượt lên chính mình
Tôi nhận được thư mời của Ban Tổ chức buổi Giao lưu - Tặng sách vào buổi chiều hôm nay (16/11) tại tư dinh của họa sỹ Nguyễn Đình Ánh ở Việt Trì, Phú Thọ. Ban Tổ chức có nhã ý mời tôi phát biểu ở buổi gặp mặt. Thật vinh dự nhưng quá khó với tôi: Lại phải xây dựng thói quen “Biến không thành có, biến khó thành dễ, biến cái không thể thành cái có thể…” như Thủ tướng Phạm Minh Chính thường nói!
Xem thêm
Nguyễn Thanh Quang - Giọng thơ trầm lắng từ miền sông nước An Giang
Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, mỗi vùng đất đều mang trong mình một mạch nguồn riêng, âm thầm mà bền bỉ, lặng lẽ mà dai dẳng như chính nhịp sống của con người nơi đó. Và trong không gian thi ca rộng lớn ấy, An Giang như một miền phù sa bồi đắp bởi nhánh sông Hậu, bởi dãy Thất Sơn thâm u, bởi những cánh đồng lúa bát ngát, bởi mênh mang sóng biển và bởi những phận người chất phác, luôn có một sắc thái thi ca rất riêng. Đó là vẻ đẹp của sự hiền hòa xen chút sắc bén, của nỗi lặng thầm pha chút đa đoan, của những suy tư tưởng như bình dị mà lại chứa cả thẳm sâu nhân thế.
Xem thêm
Thơ Thảo Vi và cội nguồn ánh sáng yêu thương
Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.
Xem thêm
Những chấn thương nội tâm trong “Mã độc báo thù”
“Mã độc báo thù” là tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Nguyễn Văn Học, vừa được NXB Công an nhân dân phát hành. Đây là một trong vài tiểu thuyết đầu tiên viết về đề tài tội phạm công nghệ cao ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhà văn không chỉ nói về tội phạm, mà còn xoáy sâu về những tổn thương của con người trong thời đại số.
Xem thêm
Huệ Triệu, một nhà giáo, nhà thơ
Cả hai tư cách, nhà giáo và thi nhân, Huệ Triệu là một gương mặt sáng giá.
Xem thêm
Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình?
Văn học, cũng như các lĩnh vực khác, theo tôi đều có những dòng chảy nối tiếp âm thầm, tạo nên nhiều sự giao thoa, đan cài giữa cũ và mới, quen thuộc và khác lạ
Xem thêm
Biểu tượng nước trong thơ Vũ Mai Phong
“Nước” trong văn hóa phương Đông là thủy – khởi nguyên của sự sống, mang phẩm chất mềm mại – bền bỉ – linh hoạt biến hóa của triết lý nhu thắng cương. Trong thi ca Việt Nam, “nước” gắn với dòng chảy thời gian tâm thức dân tộc, văn hóa lịch sử và tâm linh
Xem thêm
“Hư Thực” của Phùng Văn Khai: Tiếng nói Hậu Hiện Đại và Dấu Ấn Văn Chương Đương Đại Việt Nam
Văn học luôn là tấm gương phản chiếu xã hội, là nơi ghi lại những biến chuyển của thời đại và tâm hồn con người. Trong lịch sử văn học Việt Nam, mỗi thời kỳ đều có những tác phẩm tiêu biểu, vừa mang dấu ấn thời đại, vừa để lại những giá trị trường tồn cho đời sau. Tuy nhiên, khi thế giới bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa và đa dạng văn hóa, các giá trị truyền thống gặp nhiều thử thách. Đặc biệt, với sự bùng nổ thông tin và biến động xã hội, con người ngày nay không còn sống trong một thế giới đơn giản, rạch ròi mà là một thế giới đa chiều, hỗn loạn và khó đoán định.
Xem thêm
Thế giới kỳ vĩ của thơ
Thế giới của thơ, với thi sỹ là bến đậu của tâm hồn, là cánh đồng gieo trồng cảm xúc và chữ nghĩa, là bầu trời để cất cánh ước mơ và thả hồn phiêu lãng; với đọc giả là nhịp cầu kết nối con tim, là dòng sông soi rọi, tắm táp tâm hồn để được nâng đỡ và bay cao.
Xem thêm
Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI
Nói đến văn học dịch những thập niên đầu thế kỉ 21, có lẽ, trước hết, phải nhắc tới việc rất nhiều tác phẩm thuộc hàng “tinh hoa”, “kinh điển”, hay các tác phẩm đạt được các giải thưởng văn chương danh giá (Nobel, Pulitzer, Man Booker...) đã được chú trọng chuyển ngữ trong giai đoạn này.
Xem thêm
Vài nhận thức về trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều
Tôi hỏi nhiều nhà thơ và văn, rằng họ thấy trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều như thế nào và đặng họ có thể khai sáng chút gì cho tôi nhưng không ai có câu trả lời khiến tôi thỏa mãn, đa phần đều nói “Ái chà, Lò mổ của Nguyễn Quang Thiều hả, bọn tớ cũng chỉ nghe dư luận ồn ào trên mạng thôi chứ có sách đọc đâu!”.
Xem thêm
Nguyễn Duy – Vịn thi ca vượt thác thời gian...
Bài đăng Văn nghệ Công an số ra ngày 13/11/2025
Xem thêm
Thơ có nghĩa là “thương” - Tiếng thơ Đặng Nguyệt Anh
Một bài viết thấm đẫm nhân tình của Tuấn Trần – người trẻ viết về Đặng Nguyệt Anh, “ngoại” của thơ và của lòng nhân hậu. Từ câu chữ đến cảm xúc, bài viết là một lời tri ân chân thành dành cho thế hệ cầm bút đã “đem trái tim yêu thương gánh ghì số phận chung”, để hôm nay, thơ của họ vẫn còn làm dịu đi những cơn bão đời người.
Xem thêm
Chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam hiện đại
Bài viết này xin phép được tiếp tục trình bày một xu hướng vận động chủ đạo của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam sau 1975: dân tộc hóa ca khúc Việt Nam.
Xem thêm