TIN TỨC

Sài Gòn ơi! Đau đáu một nỗi niềm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-08-28 13:26:45
mail facebook google pos stwis
1289 lượt xem

Rất nhiều “mĩ từ” dành cho Sài Gòn trong những ngày nơi đây trở thành tâm dịch Covid-19: “Sài Gòn đau”, “Sài Gòn bệnh”… riêng tôi lại cảm nhận một nỗi niềm lo lắng không yên, bởi nơi đó tôi có nhiều người thân thương ruột thịt, nhiều bạn bè và cả những người tôi không quen nhưng cảm nhận về sự thân thiện và cởi mở của “người Sài Gòn” đã khiến lòng mình đau đáu… Sáng nay, vẫn những con số, hôm qua và những ngày trước vẫn những con số, những hình ảnh, những khu phố giăng dây… Em tôi nói, em đã phải đi xét nghiệm đến mấy lần mỗi khi nơi em ở có người nhiễm bệnh Covid-19. Bất chợt bắt gặp bài thơ “Gửi Sài Gòn” của nhà thơ Từ Kế Tường, tôi như bắt gặp sự đồng cảm, nỗi niềm.

Tiến sĩ Hoàng Thị Thu Thủy 

Gửi Sài Gòn

(Từ Kế Tường)
 

Sao xa quá một Sài Gòn em nhỉ?

Ở đây mưa và nắng, khói quê nhà

Không gửi được tháng ngày thành thiên lý

Theo lá mùa vàng hết cuộc tình ta

 

Em nơi đó lo âu thời chống dịch

Ngã ba đường, khu phố chật giăng dây

Góc quán nhỏ, ngày xưa thành phế tích

Nhớ hay quên lần chớp mắt, nắm tay?

 

Những nhịp cầu qua sông ngày bão gió

Tóc vai nghiêng tiếng sóng vỗ đôi bờ

Bóng cây dài chẻ đôi người viễn phố

Ta gửi buồn nông nỗi mấy câu thơ

 

Ngày và đêm bỗng dưng thành giãn cách

Ta loanh quanh đếm lại bước chân mình

Chợt bâng khuâng cuối chiều nghe chim khách

Kêu thắt lòng ngang mặt nước hồ xanh

 

Sài Gòn đó – Ta và em hai phía

Một nửa trời, chia một nửa vầng trăng

Bao giờ gặp? Sao nghe run nhịp thở

Biết có còn đủ sức đợi nhau chăng?

(Phú Vang 7-7-2021)

Bài thơ có 5 khổ, 20 câu, thi tứ dạt dào trong cảm xúc trữ tình nhớ mong, chờ đợi, hi vọng… Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, như câu chuyện giữa “mình và ta”, như nhắn nhủ, như chờ mong, như động viên cùng nhau vượt qua những tháng ngày đầy âu lo vì dịch bệnh. Bài thơ tình chan chứa một niềm yêu.

“Sao xa quá một Sài Gòn em nhỉ?”, câu hỏi tu từ mở đầu bài thơ với cảm xúc da diết nhớ mong, có gì đó như gần gũi mà lại xa xôi, như vừa trong tầm tay với, bỗng vụt thành ngăn cách. Bởi vì: “Ở đây mưa và nắng, khói quê nhà/ Không gửi được tháng ngày thành thiên lý/ Theo lá mùa vàng hết cuộc tình ta”; “khói quê nhà” gần gũi, thân thương mà không gửi được cho em nên khoảng cách ngắn bỗng trở thành nghìn dặm – “thiên lý”…

Em nơi đó lo âu thời chống dịch/ Ngã ba đường, khu phố chật giăng dây/ Góc quán nhỏ, ngày xưa thành phế tích/ Nhớ hay quên lần chớp mắt, nắm tay?”. Không gian chia cắt không bởi chiến tranh, không bởi “thành xây khói biếc”, mà chỉ bằng những sợi giây ngăn cách; sự ngăn cách khiến cho điều giản dị bình thường nhất cho mỗi lứa đôi khi chiều về có thể tựa vai nhau trò chuyện trong “góc quán nhỏ” cũng trở thành xa xôi, bởi giờ đây “góc quán nhỏ” cũng trở thành “phế tích”. Những điều giản dị nhất, bình thường nhất, là thói quen hàng ngày giờ cũng trở thành mơ tưởng. “Em nơi đó” là đối tượng trữ tình cụ thể, không vu vơ như ca dao thuở nào, là phải nói nhớ quê nhà rồi mới dám nói nhớ em (Anh đi anh nhớ quê nhà); bởi cái tôi thi nhân đã nhắc “Nhớ hay quên lần chớp mắt, nắm tay?”. Vẫn là câu hỏi tu từ, hỏi ta, hỏi mình, hỏi để mà khẳng định, hỏi để mà nhắc nhở, hỏi để bày tỏ nỗi nhớ; dù là giãn cách tạm thời, là do dịch bệnh, thì xa cách vẫn là quá nhớ mong.

Càng nhớ nhung, cảm xúc càng dâng tràn: “Những nhịp cầu qua sông ngày bão gió/ Tóc vai nghiêng tiếng sóng vỗ đôi bờ/ Bóng cây dài chẻ đôi người viễn phố/ Ta gửi buồn nông nỗi mấy câu thơ”. Hình ảnh thơ vừa gợi cảm giác sóng đôi, quấn quýt; vừa gợi nỗi buồn vì xa cách; giọng trữ tình da diết một niềm thương. Hình ảnh “Bóng cây dài chẻ đôi người viễn phố” thật ấn tượng, sự tách bạch rõ ràng bằng động từ – “chẻ đôi” – không nhập nhằng; chỉ cần nhập nhằng là lây lan dịch bệnh, chỉ bằng sợi dây chăng ngang nhưng mỗi góc phố, góc chợ, công viên, trường học… đều lặng yên; nơi đó luôn có những con người không quản ngày đêm, mưa gió canh gác cho sự bình yên, mạnh khỏe của mỗi người. Thơ ca đã thi vị hóa khoảng cách bằng thi ảnh thật ấn tượng.

Ngày và đêm bỗng dưng thành giãn cách/ Ta loanh quanh đếm lại bước chân mình/ Chợt bâng khuâng cuối chiều nghe chim khách/ Kêu thắt lòng ngang mặt nước hồ xanh”. Cái cảm giác loanh quanh, tù túng trong giãn cách bởi đại dịch Covid-19 được nhà thơ biểu đạt bằng thơ nhẹ nhàng, dìu dặt nhờ nhịp điệu và thi tứ. Cái “bỗng dưng” không còn gây thảng thốt, lạ lẫm, bất ngờ, bởi không phải là lần đầu; cái “loanh quanh” lại như “đốn ngộ”, bởi “đếm lại bước chân mình”, nhịp sống chậm lại, bình thản hơn, không vội vã, hấp tấp, cũng là lúc nhìn lại mình kĩ hơn. Cái bất chợt cũng trở thành “đau đáu”, vì bâng khuâng, vì nhớ nhung, vì chờ đợi. Tiếng chim khách cuối chiều nhắc nhở nỗi cô đơn của cái tôi trữ tình. Dù không nói một chữ nào về cô đơn mà vẫn thấy cô đơn bởi thi ảnh gợi nhiều hơn tả; “mặt nước hồ xanh” vốn là lãng mạn, giờ cộng hưởng với tiếng chim khách cuối chiều sao mà buồn và nhớ đến thế.

Sài Gòn đó – Ta và em hai phía/ Một nửa trời, chia một nửa vầng trăng/ Bao giờ gặp? Sao nghe run nhịp thở/ Biết có còn đủ sức đợi nhau chăng?”. Vẫn là câu hỏi tu từ ở cuối bài thơ như nhắc nhở, như trấn an, mong ngóng và chờ đợi – “Biết có còn đủ sức đợi nhau chăng?” – len lén một nỗi buồn; nếu không cẩn trọng, nếu không quyết tâm, đồng lòng thì hai phía “ta và em” vẫn là chia cắt; càng giãn cách, càng chia cắt và càng nhiều khó khăn. Câu thơ “Một nửa trời, chia một nửa vầng trăng” thật hay, gợi thật nhiều liên tưởng. Dịch bệnh Covid-19 là mối đe dọa với toàn cầu, với chúng ta; việc xa cách, chia ly ngỡ chỉ trong thời chiến, giờ là mối lo thường trực với mỗi vùng miền và đặc biệt là với Sài Gòn.

Bài thơ “Gửi Sài Gòn” đau đáu một nỗi niềm của thi nhân Từ Kế Tường và cũng của chúng tôi, mỗi ngày chúng tôi vẫn theo dõi, lo lắng và cầu mong đại dịch Covid-19 sớm lùi xa nơi mảnh đất của “người Sài Gòn thanh hậu”. Chúng tôi đã xúc động khi đọc bài thơ dạt dào thi tứ của thi nhân, khi viết lời bình này vẫn mong mỗi ngày các con số hãy giảm bớt, sớm bình yên và an yên cho mỗi người.

Huế ngày 7/7/2021

Hoàng Thị Thu Thủy

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác giả trẻ chinh phục cuộc thi Thơ Hay!
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm
Thấy gì qua một chùm thơ Tết?
Bài viết của nhà văn Lê Thanh Huệ trên Diễn đàn Văn nghệ của Liên hiệp các Hội VHNT Việt nam
Xem thêm
Cảm xúc hoài hương trong thơ Quang Chuyền
Bài viết của nhà thơ Trần Khoái
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh với Dấu thời gian
Dấu thời gian là tập thơ thứ hai của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh. Ông hiện là Trưởng ban biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, kiêm Trưởng Văn phòng đại diện Thời báo VHNT tại Hải Phòng.
Xem thêm
Khúc biến tấu “Mặt nạ hương”
 Đọc thơ, như là phép hóa thân, tan chảy cảm xúc của mình cùng cảm xúc bài thơ. Người đọc lắng lòng theo con chữ, hòa điệu với nhịp điệu của ngôn từ. Tôi may mắn tìm thấy sự đồng điệu đầy hứng thú khi đọc thơ Nguyễn Thánh Ngã.
Xem thêm
Chỉ còn lại tháng Tư thiếu nữ | Thơ và lời bình
Thơ Mai Nam Thắng - Bình thơ: Phạm Đình Ân
Xem thêm
Người trẻ thử sức với phê bình
Được biết “Những phức cảm phận người” (NXB Hội Nhà văn, 2023) là tập phê bình văn học (PBVH) đầu tay của cây bút Lê Hương, nên tôi đọc với một tâm thế trân trọng và chờ đợi.
Xem thêm
Người chiến sĩ Điện Biên Nguyễn Thiện Thuật - Mùa hoa ban đẹp mãi
Đối với mỗi người Việt Nam chúng ta hôm nay, cái tên Điện Biên Phủ đã như một dấu mốc luôn hiện lên sừng sững mỗi khi nhắc đến. Ai cũng rưng rưng xúc động bởi máu xương của cha anh, của nhân dân đã đổ xuống để làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là không thể đo đếm hết được.
Xem thêm
Những trang văn phảng phất mùi thuốc súng
Bài tham luận của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm
Xem thêm
Di cảo thơ Chế Lan Viên: Khi thơ là thuốc, là lời kinh kệ
Chế Lan Viên là người mà sự nghĩ ngợi vận vào thơ như thể thơ cũng là thuốc, thơ chẩn ra được cái bệnh đau của kiếp người, và “Có vào nỗi đau mới có ích cho người”.
Xem thêm
Cảm hứng sinh thái trong thơ Đặng Bá Tiến
 Là một nhà báo, nhà thơ mấy chục năm gắn bó với vùng đất Đắk Lắk, Đặng Bá Tiến đã sáng tác thành công về thiên nhiên, con người và văn hoá Tây Nguyên với nhiều tác phẩm: Lời chân thành với cỏ (Thơ, 2009), Rừng cổ tích (Trường ca, 2012), Hồn cẩm hương (Thơ, 2017), Linh hồn tiếng hú (Thơ, 2020). Anh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Tây Nguyên đương đại, một nhà thơ “thứ thiệt”[1] có bản sắc riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo. Nổi bật trong sáng tác của anh là những tác phẩm viết về rừng, về sinh thái văn hoá và nhân văn.      
Xem thêm
Sức bền của ngòi bút
Nguồn: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 116, ngày 21/3/2024
Xem thêm
Nguyễn Bính ở phương Nam
Nguyễn Bính (1918-1966), tên thật là Nguyễn Trọng Bính (có lúc tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở Nam Định nhưng sống khắp ba miền đất nước. Ông có phong cách một nhà thơ lãng tử, sáng tác về chủ đề tình cảm làng quê và tình yêu, tổ quốc. Thơ tình cảm mộc mạc của ông được rất nhiều người thuộc. Tác phẩm gồm 26 thi tập trong đó có : + 1 kịch thơ : Bóng giai nhân (1942): + 3 truyện thơ : Truyện Tỳ Bà (1942); Trong bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958): + 1 vở chèo : Người lái đò sông Vỹ (1964) và rất nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được nhạc sĩ phổ thành ca khúc : Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, Quốc Hương ca);  Cô hái mơ (Phạm Duy); Ghen (Trọng Khương), Cô lái đò (Nguyễn Đình Phúc); Chân quê (Minh Quang). Hiện nay, nhiều thành phố có những con đường mang tên ông. Nhà thơ Nguyễn Bính nhận được giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (2000) cùng với Hoài Thanh, Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng, …
Xem thêm
“Đánh thức mình bằng chân lý vô ngôn”
Tôi biết Nguyễn Minh Thuận (nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp Đắk Lắk) làm thơ đã lâu, dễ hơn ba chục năm trước, thỉnh thoảng anh vẫn đọc cho tôi nghe và rải rác anh cho đăng trên facebook Trương Thị Hiền - vợ anh (TS, giảng viên Trường Đại học Tây Nguyên).
Xem thêm
Đọc “Thơ mười năm” của Hoàng Đình Quang
Bài viết của nhà thơ Trần Quang Khánh
Xem thêm
Hoàng hôn chín – chín mọng yêu thương
Về tập thơ in chung của Võ Miên Trường và Triệu Kim Loan
Xem thêm