TIN TỨC

Sài Gòn ơi! Đau đáu một nỗi niềm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-08-02 08:41:38
mail facebook google pos stwis
2885 lượt xem

Rất nhiều “mĩ từ” dành cho Sài Gòn trong những ngày nơi đây trở thành tâm dịch Covid-19: “Sài Gòn đau”, “Sài Gòn bệnh”… riêng tôi lại cảm nhận một nỗi niềm lo lắng không yên, bởi nơi đó tôi có nhiều người thân thương ruột thịt, nhiều bạn bè và cả những người tôi không quen nhưng cảm nhận về sự thân thiện và cởi mở của “người Sài Gòn” đã khiến lòng mình đau đáu… Sáng nay, vẫn những con số, hôm qua và những ngày trước vẫn những con số, những hình ảnh, những khu phố giăng dây… Em tôi nói, em đã phải đi xét nghiệm đến mấy lần mỗi khi nơi em ở có người nhiễm bệnh Covid-19. Bất chợt bắt gặp bài thơ “Gửi Sài Gòn” của nhà thơ Từ Kế Tường, tôi như bắt gặp sự đồng cảm, nỗi niềm.

Tiến sĩ Hoàng Thị Thu Thủy 

Gửi Sài Gòn

(Từ Kế Tường)
 

Sao xa quá một Sài Gòn em nhỉ?

Ở đây mưa và nắng, khói quê nhà

Không gửi được tháng ngày thành thiên lý

Theo lá mùa vàng hết cuộc tình ta

 

Em nơi đó lo âu thời chống dịch

Ngã ba đường, khu phố chật giăng dây

Góc quán nhỏ, ngày xưa thành phế tích

Nhớ hay quên lần chớp mắt, nắm tay?

 

Những nhịp cầu qua sông ngày bão gió

Tóc vai nghiêng tiếng sóng vỗ đôi bờ

Bóng cây dài chẻ đôi người viễn phố

Ta gửi buồn nông nỗi mấy câu thơ

 

Ngày và đêm bỗng dưng thành giãn cách

Ta loanh quanh đếm lại bước chân mình

Chợt bâng khuâng cuối chiều nghe chim khách

Kêu thắt lòng ngang mặt nước hồ xanh

 

Sài Gòn đó – Ta và em hai phía

Một nửa trời, chia một nửa vầng trăng

Bao giờ gặp? Sao nghe run nhịp thở

Biết có còn đủ sức đợi nhau chăng?

(Phú Vang 7-7-2021)

Bài thơ có 5 khổ, 20 câu, thi tứ dạt dào trong cảm xúc trữ tình nhớ mong, chờ đợi, hi vọng… Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, như câu chuyện giữa “mình và ta”, như nhắn nhủ, như chờ mong, như động viên cùng nhau vượt qua những tháng ngày đầy âu lo vì dịch bệnh. Bài thơ tình chan chứa một niềm yêu.

“Sao xa quá một Sài Gòn em nhỉ?”, câu hỏi tu từ mở đầu bài thơ với cảm xúc da diết nhớ mong, có gì đó như gần gũi mà lại xa xôi, như vừa trong tầm tay với, bỗng vụt thành ngăn cách. Bởi vì: “Ở đây mưa và nắng, khói quê nhà/ Không gửi được tháng ngày thành thiên lý/ Theo lá mùa vàng hết cuộc tình ta”; “khói quê nhà” gần gũi, thân thương mà không gửi được cho em nên khoảng cách ngắn bỗng trở thành nghìn dặm – “thiên lý”…

Em nơi đó lo âu thời chống dịch/ Ngã ba đường, khu phố chật giăng dây/ Góc quán nhỏ, ngày xưa thành phế tích/ Nhớ hay quên lần chớp mắt, nắm tay?”. Không gian chia cắt không bởi chiến tranh, không bởi “thành xây khói biếc”, mà chỉ bằng những sợi giây ngăn cách; sự ngăn cách khiến cho điều giản dị bình thường nhất cho mỗi lứa đôi khi chiều về có thể tựa vai nhau trò chuyện trong “góc quán nhỏ” cũng trở thành xa xôi, bởi giờ đây “góc quán nhỏ” cũng trở thành “phế tích”. Những điều giản dị nhất, bình thường nhất, là thói quen hàng ngày giờ cũng trở thành mơ tưởng. “Em nơi đó” là đối tượng trữ tình cụ thể, không vu vơ như ca dao thuở nào, là phải nói nhớ quê nhà rồi mới dám nói nhớ em (Anh đi anh nhớ quê nhà); bởi cái tôi thi nhân đã nhắc “Nhớ hay quên lần chớp mắt, nắm tay?”. Vẫn là câu hỏi tu từ, hỏi ta, hỏi mình, hỏi để mà khẳng định, hỏi để mà nhắc nhở, hỏi để bày tỏ nỗi nhớ; dù là giãn cách tạm thời, là do dịch bệnh, thì xa cách vẫn là quá nhớ mong.

Càng nhớ nhung, cảm xúc càng dâng tràn: “Những nhịp cầu qua sông ngày bão gió/ Tóc vai nghiêng tiếng sóng vỗ đôi bờ/ Bóng cây dài chẻ đôi người viễn phố/ Ta gửi buồn nông nỗi mấy câu thơ”. Hình ảnh thơ vừa gợi cảm giác sóng đôi, quấn quýt; vừa gợi nỗi buồn vì xa cách; giọng trữ tình da diết một niềm thương. Hình ảnh “Bóng cây dài chẻ đôi người viễn phố” thật ấn tượng, sự tách bạch rõ ràng bằng động từ – “chẻ đôi” – không nhập nhằng; chỉ cần nhập nhằng là lây lan dịch bệnh, chỉ bằng sợi dây chăng ngang nhưng mỗi góc phố, góc chợ, công viên, trường học… đều lặng yên; nơi đó luôn có những con người không quản ngày đêm, mưa gió canh gác cho sự bình yên, mạnh khỏe của mỗi người. Thơ ca đã thi vị hóa khoảng cách bằng thi ảnh thật ấn tượng.

Ngày và đêm bỗng dưng thành giãn cách/ Ta loanh quanh đếm lại bước chân mình/ Chợt bâng khuâng cuối chiều nghe chim khách/ Kêu thắt lòng ngang mặt nước hồ xanh”. Cái cảm giác loanh quanh, tù túng trong giãn cách bởi đại dịch Covid-19 được nhà thơ biểu đạt bằng thơ nhẹ nhàng, dìu dặt nhờ nhịp điệu và thi tứ. Cái “bỗng dưng” không còn gây thảng thốt, lạ lẫm, bất ngờ, bởi không phải là lần đầu; cái “loanh quanh” lại như “đốn ngộ”, bởi “đếm lại bước chân mình”, nhịp sống chậm lại, bình thản hơn, không vội vã, hấp tấp, cũng là lúc nhìn lại mình kĩ hơn. Cái bất chợt cũng trở thành “đau đáu”, vì bâng khuâng, vì nhớ nhung, vì chờ đợi. Tiếng chim khách cuối chiều nhắc nhở nỗi cô đơn của cái tôi trữ tình. Dù không nói một chữ nào về cô đơn mà vẫn thấy cô đơn bởi thi ảnh gợi nhiều hơn tả; “mặt nước hồ xanh” vốn là lãng mạn, giờ cộng hưởng với tiếng chim khách cuối chiều sao mà buồn và nhớ đến thế.

Sài Gòn đó – Ta và em hai phía/ Một nửa trời, chia một nửa vầng trăng/ Bao giờ gặp? Sao nghe run nhịp thở/ Biết có còn đủ sức đợi nhau chăng?”. Vẫn là câu hỏi tu từ ở cuối bài thơ như nhắc nhở, như trấn an, mong ngóng và chờ đợi – “Biết có còn đủ sức đợi nhau chăng?” – len lén một nỗi buồn; nếu không cẩn trọng, nếu không quyết tâm, đồng lòng thì hai phía “ta và em” vẫn là chia cắt; càng giãn cách, càng chia cắt và càng nhiều khó khăn. Câu thơ “Một nửa trời, chia một nửa vầng trăng” thật hay, gợi thật nhiều liên tưởng. Dịch bệnh Covid-19 là mối đe dọa với toàn cầu, với chúng ta; việc xa cách, chia ly ngỡ chỉ trong thời chiến, giờ là mối lo thường trực với mỗi vùng miền và đặc biệt là với Sài Gòn.

Bài thơ “Gửi Sài Gòn” đau đáu một nỗi niềm của thi nhân Từ Kế Tường và cũng của chúng tôi, mỗi ngày chúng tôi vẫn theo dõi, lo lắng và cầu mong đại dịch Covid-19 sớm lùi xa nơi mảnh đất của “người Sài Gòn thanh hậu”. Chúng tôi đã xúc động khi đọc bài thơ dạt dào thi tứ của thi nhân, khi viết lời bình này vẫn mong mỗi ngày các con số hãy giảm bớt, sớm bình yên và an yên cho mỗi người.

Huế ngày 7/7/2021

Hoàng Thị Thu Thủy

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm