TIN TỨC

“Sợi tình tơ nghĩa” trong “Ký họa thơ”

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2024-10-10 12:40:51
mail facebook google pos stwis
1733 lượt xem

TUẤN TRẦN

Thơ lồng trong thơ. Đời đằm trong thơ. Nhà thơ ngậm ngùi ngồi trong thơ hay cái đẹp tôn vinh cái đẹp. Dùng thơ vẽ “hồn thơ”. Dùng thơ vẽ “đời thơ”. Dùng thơ vẽ số phận của nhà thơ cho “nên thơ”. Tất cả từ thứ thơ sinh ra để hết mình cho việc tri ân thơ và “hồn thơ” đó là “KÍ HỌA THƠ (81 CHÂN DUNG VĂN HỌC” của một “LẶNG THẦM HOA QUÊ”

Con người Nguyên Hùng trước hết với tôi là một nhà thơ thuần lành, thuần khiết và thuần giãn. Thơ Nguyên Hùng trước hết với tôi là “ngõ nhỏ quê mùa” luôn rộng mở đón khách, những vị khách với bước chân vô tình. Ngõ nhỏ đủ lặng lẽ cho những nhịp đời đã “mỏi gối chùn chân”. Tôi tìm đến thơ anh trong những vần thơ mộc mạc đời thường. Con người anh cũng như loài “hoa khoai” ấy: mong manh, nhàu nhĩ, phơn phớt tím. Vì áp vía mặt đất nên hương cũng chỉ vậy thôi: mùi hương thôn, mùi đất nghèo, rất khiêm nhường mà rất kiên cường: “Thương quê mình đồng khô gió mặn/ Thương hoa khoai tím trắng dịu dàng” (Lặng thầm hoa quê). Bối cảnh cuộc sống với tốc độ sống bức bối, gấp gáp, người ta đói những kết nối với sự an ủi bình yên. Chính vì thế mà thơ Nguyên Hùng đã trở thành “Trăm khúc hát một chữ duyên”. Cái quê mùa đó đã cất cánh bay lên như tiếng sáo mục đồng gọi lại thời gian hoài cựu êm thấm, ôn nhu, từ ái…


Ảnh: Kiều Bích Hậu

Những khúc hát nghĩa nặng tình sâu sẽ còn đó, đồng vọng tha thiết, vuốt dịu không khí nhức nhối của đổi chác mưu sinh hôm nay. Ta đã gặp hồn thơ anh ở một vai trò khác, vị trí khác, ở một giá trị thẩm mỹ và nhân văn khác: cái giao hảo người- người trìu mến, thân thương. Cái đối xử với mình nhẫn nại, cân nhắc: Bền lòng, khoan thư, dung thông cởi mở, dịu ngọt với đời sống.

Chính cái nhìn “trung hòa” và hồn thơ “chân ngã lương thiện” đã “hữu ý” kết nối anh với những hồn thơ khác và đứa con tinh thần KÍ HỌA THƠ (81 CHÂN DUNG VĂN HỌC) đã ra đời “đúng người và đúng thời điểm”. Cái ngoái nhìn này, ánh mắt “huệ nhãn” của tác giả đã lặng thầm nói lời cảm tạ. Đôi đồng tử lấp lánh sự sống tri ân và hàng mi hơi cụp xuống đó đã thể hiện ánh nhìn hoài cảm cho nỗi lòng kẻ đi gieo chữ, cày mây trên trời và gieo trồng muôn dặm sao. Nhân sĩ đời nào chẳng tự làm đau mình để thấu hiểu sâu cay nỗi đau của đời…

 Bằng tất cả những gì đẹp đẽ nhất trong lòng lành thiện hạnh nhà thơ đã tung tẩy “nét cọ” của mình tạc vẽ những gương mặt Nghệ sĩ thi ca với độ trong đẹp nhất nơi tâm hồn của họ và cuộc đời thẩm mỹ đa mang, chói gắt, nhạo báng, máu tươi, nước mắt gặp gỡ giữa hai hàng lệ tuôn khi đi qua chìm nổi thế thái nhân tình. 81 gương mặt nhân sĩ đều “hữu duyên hạnh ngộ”, “ngẫu nhiên tương phùng” giữa bể người mênh mông và không ngại xem nhau là tri kỉ. Sở dĩ tôi cảm- tưởng như thế vì tôi hiểu cái hồn cốt dân dã “quê mùa” thì lấy đâu ra rắc tâm lựa lọc, mưu tính, sắp đặt. Nhưng một điều cao hơn tất cả đó là 81 chân dung được “khắc [khoải]” đều gặp gỡ anh hồn thơ của chủ thể trữ tình ở sự hết mình cho nghệ thuật, đã mất mát vì nghệ thuật, đã dành cả một đời lao động thơ ca như cách “móc tim mình ra cho quạ rỉa”. Hiến tặng linh hồn mình cho loài “ác điểu” hi vọng nó “dung thứ” cho cuộc đời: “Để nửa đời mình anh trong một thế giới”. (Kí họa chân dung “Trần Mạnh Hảo”, Tr. 56). Như lá vàng rụng đơn độc vẫn tiếp tục nâng níu bước chân đời bằng những con đường mùa thu êm ả. Và dĩ nhiên khi đã “phụng hiến vô tư” bất chấp “rỉ máu” nghĩa là họ có tên trên chiếu thơ đương đại với những vị trí cao đạo nhất. Như “con thuyền chở đạo nặng tình non sông” (Kí họa chân dung “Bảo Định Giang”, tr. 48)

Để nói về cuốn KÍ HỌA THƠ (81 CHÂN DUNG VĂN HỌC) của tác giả Nguyên Hùng tôi xin “khảm bạc” trong mấy chữ và chỉ cần ngần nấy thôi là đủ: “VƯƠN TỚI CÁI ĐẸP THUẦN KHIẾT”. Bởi vì “lá rụng về cội”, họ đi từ làng, bờ tre mái rạ, từ đồng xanh, lũy tre, hương sen bát ngát. Thì họ cũng sẽ về nơi đó nơi “thuần khiết” và chìm vào mênh mông lòng mẹ để “giọt máu dân gian tái sinh”: Tái sinh trong lục bát với lối kể về đời và thơ tâm tình, nhẹ nhàng, sâu lắng mà lại phơi ra đó “đời du ca” ngất ngưởng nhưng đầy sĩ khí.

81 bông hoa hồn hậu quê nhà và rời làng âm thầm như cơn bão: Kẻ ra trận, người lạc nẻo. Người đã về với tiên thiên, ai đó ở lại vẫn đắng đót tìm “trầm” thơ.  Những văn nhân và nhạc sĩ được tuyển lựa để kí họa là những tác giả đã tạo ra những định hướng cho nền Văn học Việt Nam hiện đại. Dùng thơ để giới thiệu về “gương mặt” (phong cách) thơ, văn, nhạc của các nghệ sĩ chắc hẳn tác giả Nguyên Hùng đã phải tỉ mẩn và tế vi để gia công. Muốn làm được điều đó trước hết phải có “lòng”. Tấm lòng của “viên quản ngục” (Chữ người tử tù _ Nguyễn Tuân). Tấm lòng thiên hạ, yêu cái đẹp, nguyện hiến cho cái đẹp và “phủ phục” để có được cái đẹp.

Thế nhưng mang “tấm lòng viên quan coi ngục” mới chỉ là một góc để cho cuốn “Kí họa thơ” ra đời. Điều quan trọng là cái nhìn hệ thống, sự đọc, óc khái quát, tính sáng tạo tuyệt vời của nhà thơ Nguyên Hùng cho sự tri ân tới các tiền bối và đồng bối trên sân khấu văn chương hiện đại.

Những bài không dài, nhưng đủ để tổng hợp “gia tài” của các nhà thơ, nhà văn và nhạc sĩ được điểm tên. Cách kí họa với nhiều thể thơ phù hợp theo “sử văn” của tác giả. Sự xếp đặt câu chữ chính xác và ý thức gọt đẽo ý tứ đã tạo nên sự vuông vắn đẹp đẽ cho mỗi chân dung và đạt được giá trị “tương đối” trên phương diện thông tin và “tuyệt đẹp” trên phương diện thẩm mỹ:

“Trai Hải Phòng Một đêm Hà Nội/ Hồn mơ màng theo khúc Thiên Thai” (Kí họa chân dung Văn Cao, tr 26). Cùng trong một câu thơ có hai địa danh: Một địa danh là nơi sinh ra, một địa danh là “địa danh nghệ thuật”. Sự bắt nối cảm- hiểu nơi thơ được tác giả hành dụng ngôn từ thật “chân xác”. Như “xâu chỉ luồn kim” để thêu thùa những đường nét căng đầy mà mong manh “phận mỏng cánh chuồn” đã rụng xuống mặt hồ thu lăn tăn đôi ba gợn sóng. Văn Cao vốn dĩ đã sống “căng đầy” cho lý tưởng nhưng rồi Buồn tàn thu ám vận suốt một đời”. Bản nhạc “Buồn tàn thu” kết hợp tương khớp và nhịp nhàng với câu chữ biểu đạt số phận bị “sóng dập gió vùi” trên con tàu “Văn Nhân Giai Phẩm” đã thể hiện cách “thắt bặt” chữ nghĩa sáng tạo tuyệt vời của nhà thơ để mọi diễn ngôn đều không một gút sợi như bị “ép buộc” gả ghép…

Khi kí họa chân dung Trần Đăng Khoa, giọng thơ chuyển đổi nhịp nhàng, hồn nhiên để phù hợp với tâm thức hồn thơ của nhà thơ cũng là cách để ca ngợi thời điểm thơ dọi sáng thần đồng. Ngũ ngôn hiện đại hóm hỉnh, vui tươi, họa cả dung dáng đời thường của tác giả: “Dáng chú Cuội nông dân/ Mà hoạt ngôn- hóm- sắc”. Đôi nét khảo sát trên đã cho thấy tinh thần thẩm mỹ trong tập thơ, giá trị của nó là trên nhiều phương diện. Sự ra đời của nó là cần thiết ở thời điểm văn chương nghệ thuật đang “mờ mờ” trước thứ phù phiếm phàm phu của những trò giải trí rẻ tiền…

Những gương mặt được tuyển lựa đã tạo được dấu ấn đặc biệt nổi bật trong văn chương đương đại. Không chỉ nói về tác phẩm, văn cách mà Nguyên Hùng còn tìm hiểu để đan cài khéo léo những “bóng hồng” bên đời các nhà thơ và nghệ sĩ. Từ đó kí họa bỗng trở nên “trìu mến”, hết sức dễ thương.

Tác giả “không ngần ngại” giới thiệu và giới thiệu độc đáo, am tường về Bùi Anh Tấn và thế giới Văn học đồng tính. Người đọc có dịp nhìn nhận “cởi mở” và mở ra muôn ngã nghĩ ngợi cho sự có mặt của “ảnh tượng” đồng tính với vai trò trung tâm trong văn học và cả văn hóa Việt Nam đương đại.

Cuốn KÍ HỌA THƠ (81 chân dung văn học) của Nguyên Hùng đủ tư cách của một cuốn văn học sử về cuộc đời và văn nghiệp của những tác giả được kể đến. Ngôn ngữ kí họa với tư thái trữ tình, tính dân gian nhẹ nhàng, uyển chuyển trong các thể thơ dân tộc đã giúp người đọc dễ dàng nhận diện ra “gương mặt” nghệ sĩ.

Xét góc độ thẩm mỹ của hình thức in ấn, trình bày. Điều này là một phần quan trọng để cái đẹp được toàn bích trong bối cảnh tiếp nhận nghệ thuật hiện đại. Bìa sách có họa nửa dung hình của các nhân sĩ như dụng ý về việc còn đó những điều chưa thể nhận diện được bởi những chân dung kia là những con người đã làm nên thế kỉ. Làm nên lịch sử trên nhiều mặt trận: “Máu và Hoa”. Cho nên luôn còn đó những giá trị mênh mông cho đời đời chiêm ngắm.

Nhìn lên bức tường đầy gia huy kia một lúc, mở rộng trí tưởng tôi như thấy mình bước tới gian phòng huy hoàng được treo trên tường các bức họa cổ kính. Những bức tường nơi đây đã kể lại bao điều. Bức chân dung những ai kia thật kì vĩ. Những đôi mắt đã chảy xiết bao giọt lệ thấm sâu vào giấy mực. Trong đôi đồng tử đã từng âm vang tiếng thở dài chân thành buồn bã. Dụng ý cắt tranh thành hình bán nguyệt đã giúp hiển lộ đôi “đồng tử” sáng hoắc, chứa ngàn tia lửa ưu uất: Có đôi mắt còn trâng tráo. Có đôi mắt như có ánh thép chiếu diệu. Rồi nụ cười ai kia như bông hoa dọc chiến hào nở rộ năm cánh tươi màu dưới bầu trời quang đãng. Chỉ riêng đôi mắt “Hoàng tử thơ tình” vẫn ngây thơ. Bởi chén đời mắt ai anh đã uống cạn. Ái tình như rượu ngọt chỉ tiếc chàng đã uống quá say. Để mắt chàng “nghiêng nghiêng” nhìn đời như bóng lưng “Em đi rượu cạn, còn lời Thanh Ca”.

Kí họa thơ, hình ảnh chân dung cùng những chú mục thông tin cho mỗi một nhà thơ trong hai mặt giấy đối xứng. Cỡ, kiểu chữ không chói màu, người đọc thấy dịu mắt cho nên đã cay khóe mi rồi đong chứ dòng lệ đến nhói lòng khi đọc tới “giọt máu” cuối cùng chảy lan thấm từ bức bích họa được treo phía cuối căn phòng đó:“Đành ngậm ngùi dắt yêu thương rời cõi tạm”.

Mở đầu kí họa hồn thơ chủ thể trữ tình đã gặp được “người cha” của mình. Người cha của nông thôn làng cảnh. “Hạt bụi vàng quê mùa” đó đã về đây hôm nay để chứng kiến người con trai của mình viết về cha anh, bè bạn. Nghe phảng phất trong gió hương đồng gió nội. Cha đã về kịp để hôn lên vầng trán trỉn mồ hôi đồng chua nước mặn của con trai. Và khi cánh cửa thơ khép lại thi dân, văn dân đã đưa ánh mắt nhìn xuống và thắp lên bàn thờ nghệ thuật một nén nhang thơm thoang thoảng Quỳnh hương để anh hồn anh được siêu thăng thường hằng. Anh và chị đã chết để minh chứng cho thơ ca, kịch nghệ mãi mãi trường tồn bất tử cùng vạn vật trong vạn đời, vạn kiếp như chân lý kia mãi mãi chiến thắng cái xấu, cái ác trên cõi đời…

Nguồn:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm