TIN TỨC

Thân thế của nữ sĩ Hồ Xuân Hương được giải mã…

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-12-05 22:38:11
mail facebook google pos stwis
6960 lượt xem

 

Tìm mộ Hồ Xuân Hương như mò kim đáy biển. Năm 1822 khi nữ sĩ qua đời mộ chôn ở nghĩa địa Phủ Tây Hồ, làng Nghi Tàm. Năm 1842 họ hàng của ông Trần Phúc Hiển đã di hài cốt nữ sĩ về quê chồng ở Tam Kỳ, Quảng Nam. Năm 1850 lăng mộ nữ sĩ được xây khang trang dấu tên đổi họ thành Huỳnh Hoàn Nhân, mộ vô chủ, nay thuộc phường An Sơn TP Tam Kỳ. Đó là bí ẩn cuối cùng bí ẩn thứ 9 được giải mã trong tác phẩm “Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” của tác giả Nghiêm Thị Hằng.

Phần 4 của tác phẩm: Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương, tác giả Nghiêm Thị Hằng kể về hành trình tìm mộ Hồ Xuân Hương và ông Trần Phúc Hiển.

Thông tin về phần mộ ban đầu của Hồ Xuân Hương được xác định theo bài thơ Long Biên trúc tri từ của Tùng Thiện Vương viết đầu thu năm 1842, sau 20 năm nữ sĩ qua đời. Bài thơ chỉ dấu, mộ nàng thơ được chôn ở ven Hồ Tây.


Tác giả Nghiêm Thị Hằng (đứng giữa), tặng sách “Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” cho bạn đọc.

Năm 2003 con cháu họ Hồ có cuộc đi tìm mộ nữ sĩ lần thứ nhất, với sơ đồ vẽ phần mộ thuộc nghĩa địa Đồng Táo đã chìm trong sóng nước Hồ Tây. Việc tìm mộ thất lạc thiếu thông tin trên cạn đã khó, tìm mộ chìm dưới sóng nước Hồ Tây, chẳng khác gì “mò kim đáy biển”. Cả 3 lần con tàu của họ Hồ ra giữa Hồ Tây tìm mộ nữ sĩ đều trục trặc, khi thì tàu hỏng máy, khi thì mưa giông gió lớn, cản ngăn. Là người đã có kinh nghiệm đi tìm mộ, thường mưa thuận gió hòa, thuận âm thuận dương, có người đưa đường chỉ lối, sự trục trặc trên, dường như nữ sĩ đã ngăn cản, chỉ dẫn mộ nàng thơ không ở nghĩa địa Đồng Táo.

Theo thông tin của những người có khả năng đặc biệt chỉ dẫn, thì mộ nữ sĩ được chôn tại nghĩa địa phủ Tây Hồ, trước mé nước phủ Tây Hồ hiện nay ra hồ khoảng 100m, đây là nơi chôn những người danh tiếng của triều đình và trong xã hội. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương dạy học ở làng Nghi Tàm, là nhà thơ nổi, bà được dân làng chôn ở nghĩa địa Phủ Tây Hồ cùng những người danh tiếng.


Mộ Giày Thầy Lánh (tức cụ Nguyễn Đức Thêm) hơn 200 năm, chôn phía trước lăng mộ Tiền hiền mở đất tộc Trần làng Tam Kỳ cổ.

Dường như có sự kết nối vô hình giữa tâm linh và người đi tìm mộ (nhà báo Nghiêm Thị Hằng) đã có những thông tin hữu ích. Theo tử vi thì phần mộ nữ sĩ không nằm ở dưới hồngập nước vì cuối năm 1842 khi bài thơ Long Biên trúc tri từ xuất hiện, người họ hàng của ông Trần Phúc Hiển đã đưa mộ nàng thơ về quê chồng yên nghỉ.

Vậy quê chồng nàng thơ ở đâu? Tác giả đã giải mã được bí ẩn, ông Trần Phúc Hiển có biệt hiệu là Mai Sơn Phủ, từ đây cánh cửa về quê chồng nữ sĩ được mở ra. Nếu như bài thơ Vịnh Thanh Minh của Hồ Xuân Hương năm 1815, chỉ dấu cho tác giả tìm được phần mộ song thân nữ sĩ cụ Hồ Phi Diễn, cụ Hà Thị, an nghỉ ở nghĩa địa Đồng Táo, thì bài thơ Long Biên trúc chi từ của Tùng Thiện Vương, chỉ dấu mộ nàng thơ chôn ở ven Hồ Tây, còn bài thơ Thu Nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký ( tức bài Đêm Thu nhớ Mai Sơn Phủ, Hồ Xuân Hương viết vào mùa Thu năm 1815, trước khi lấy ông Trần Phúc Hiển (năm 1816), lại chỉ rõ dấu tích quê hương của ông Mai Sơn Phủ. Nữ sĩ viết: “Bên am Nhất Trụ trông còn đấy/Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu?”, hai câu thơ này là nỗi lòng của nữ sĩ ở kinh thành Thăng Long (chùa Một Cột – am Nhất Trụ) nhớ về quê của ông Mai Sơn Phủ – Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu?

Tác giả cũng đã tìm ra quê hương ông Trần Phúc Hiển trong Đại Nam thực lục chính biên ở đằng trong. Vậy ở đằng trong thì tỉnh nào có “ngọn nước Tam Kỳ”  tức là sông Tam Kỳ? Theo dư địa chỉ thời nhà Nguyễn, thì tỉnh Quảng Nam có sông Tam Kỳ. Câu thơ “Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu?”, tình ấy, cảnh ấy, chỉ rõ đây là quê hương của Mai Sơn Phủ, bên bến nước Tam Kỳ. Tác giả đã giải mã bí ẩn quê hương của ông Trần Phúc Hiển- Mai Sơn Phủ ở làng cổ Tam Kỳ, ngã ba sông Tam Kỳ, thuộc huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa, xứ Quảng, thời nhà Nguyễn.

Lại theo sách “Thọ Mai-Gia Lễ” của người xưa nói về phần mộ của người phụ nữ khi qua đời, thường được chôn ở quê chồng theo câu ca “Sống quê cha-Ma quê chồng”? Vậy hài cốt Hồ Xuân Hương có được đưa về quê chồng?


Ngôi mộ cổ vô thừa nhận tại phường An Sơn thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam được xây dựng năm 1850 được giải mã đó là mộ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Nhờ có kinh nghiệm gần 30 năm đi tìm mộ thiếu thông tin, nhà báo, nhà thơ Nghiêm Thị Hằng đã từng giúp các gia đình liệt sĩ tìm được thông tin, để đủ điều kiện khai quật phần mộ, lấy hài cốt liệt sĩ đi kiểm tra ADN, sau đó đón hài cốt liệt sĩ về quê. Kinh nghiệm ấy, giờ đây đi tìm mộ Hồ Xuân Hương, tác giả đã liên kết giữa dấu tích phần mộ của nữ sĩ khi qua đời chôn ở ven Hồ Tây là sự thật, nhưng hài cốt có còn ở nơi chôn cất ban đầu, hay đã cải cát đưa về quê chồng, giống như mộ liệt sĩ đã quy tập về nghĩa trang, nhưng sau đó gia đình lại đưa hài cốt về quê, thì ở nghĩa trang phần mộ vẫn còn nhưng không có hài cốt?

Trong hành trình đi tìm mộ nữ sĩ tại quê chồng ở Quảng Nam, Nghiêm Thị Hằng đã có được thông tin từ những người có khả năng đặc biệt cho biết, mộ nữ sĩ đã đưa về quê chồng nhưng không chôn gần mộ chồng. Trên mộ hoang có chữ cổ, minh bia ghi năm xây dựng 1850, thông tin này do cô Trương Thị Diệp ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, chỉ dẫn từ tháng 8/2020. Còn bà Nguyễn Thị Thùy ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, chỉ dẫn ngày 22/12/2020, mộ ông Trần Phúc Hiển và mộ nữ sĩ đều thay tên đổi họ và chôn ở nơi hoặc là gần núi (Vì có chữ SƠN), hoặc là địa phương có tên địa danh có chữ SƠN vào. Trước đó tác giả cũng đã mơ thấy việc chuyển hài cốt nữ sĩ Hồ Xuân Hương từ nghĩa địa phủ Tây Hồ về quê chồng phương tiện di chuyển bằng con ngựa màu vang.

Khi giúp gia đình ông Nguyễn Văn Thu tìm mộ liệt sĩ Nguyễn Văn Xuân ở thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam kết thúc vào ngày 30/12/2020, ngày 31/12/2020, tác giả đã được chỉ dẫn hành trình tìm mộ ông Trần Phúc Hiển và nữ sĩ Hồ Xuân Hương thuận lợi “Thiên thời địa lợi”.

Trước khi vào Tam Kỳ tìm mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương và mộ ông Trần Phúc Hiển, tác giả đã nghiên cứu kỹ  những ngôi mộ cổ gần 200 năm vô thừa nhận ở phường An Sơn và ngôi mộ Giày Thầy Lánh đầy màu sắc huyền thoại ở phường Hòa Hương. Sau khi được cán bộ UBND phường Hòa Hương đưa đến viếng thăm ngôi mộ Giày Thầy Lánh vào cuối chiều ngày 30/12/2020, tác giả nhận định đây không phải là mộ chôn chiếc giày của Thầy Lánh  theo huyền thoại  mà dưới mộ là con người thật mang tên Nguyễn Đức Thêm và có hậu duệ ở làng Diêm Điềm, huyện Núi Thành thờ cúng. Từ phát hiện này  tác giả được chỉ dẫn đến thắp hương tại nhà thờ cổ (gần 200 năm) ở thôn Bản Long xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, thờ cúng cụ Nguyễn Đức Thêm. Tại nhà thờ cổ họ Nguyễn, tác giả đã gặp ông Nguyễn Văn Phúc hậu duệ đời thứ 5 của cụ Nguyễn Đức Thêm. Ông Phúc có người con trai là Nguyễn Trần Vĩnh Hiển. Thêm một bí ẩn nữa được phát lộ, tác giả đang đi tìm phần mộ của cụ Trần Phúc Hiển, về chính ngôi nhà thờ cụ Nguyễn Đức Thêm, lại gặp hậu duệ của cụ (bố tên Phúc- con tên Hiển) như điềm báo đã tìm đúng hậu duệ của cụ Trần Phúc Hiển. Sau khi cụ Trần Phúc Hiển là tội phạm của triều đình bị xử tội chết, thì con cháu đã đổi họ từ Trần sang Nguyễn, nhưng đến đời hậu duệ thứ 6, con ông Nguyễn Văn Phúc thì lại lấy họ Trần ghép sau họ Nguyễn để lại dấu tích người họ Trần.

Từ đây những bí ẩn về dòng họ Trần, họ Nguyễn, từ Thanh Hóa theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam mở đất thế kỉ 16, được phong là Tiền hiền của làng Tam Kỳ cổ, có liên quan đến phần mộ tộc Trần và mộ Giày Thầy Lánh được làm sáng tỏ. Mộ Giày Thầy Lánh được giải mã là mộ cụ Trần Phúc Hiển chôn ở bãi SƠN, trước khu lăng mộ tiền hiền họ Trần làng Tam Kỳ, được kiểm chứng đúng như thông tin của bà Nguyễn Thị Thùy chỉ dẫn. Mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương chôn ở phường An SƠN mang tên Huỳnh Hoàn Nhân có minh bia chữ hán ghi năm xây mộ 1850, đúng như thông tin của cô Trương Thị Diệp và bà Nguyễn Thị Thùy đã đưa ra từ tháng 8 và tháng 12/2020.

Như vậy dấu tích về phần mộ của nữ sĩ tại quê chồng (miền đất cổ Tam Kỳ-Quảng Nam) đã được tác giả Nghiêm Thị Hằng giải mã, đây là bí ẩn thứ 9 trong tác phẩm “Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” được minh chứng sáng tỏ có cơ sở và có khoa học.

Thân thế của Hồ Xuân Hương đã được Nghiêm Thị Hằng giải mã 9 bí ẩn rõ ràng, đây là những kết quả nghiên cứu khoa học, đủ điều kiện để UBND tỉnh Nghệ An làm tờ trình Bộ Văn hóa –Du lịch và UNESCO Việt Nam trình UNESCO thế giới  hồ sơ ứng viên nữ sĩ Hồ Xuân Hương một con người tài danh bậc nhất trong các nhà thơ nữ Việt Nam thế kỉ XVIII-XIX.  Dưới chế độ phong kiến, nữ sĩ là người phụ nữ đầu tiên dám lên tiếng đấu tranh mạnh mẽ cho nữ quyền qua tác phẩm thi ca. Những kiệt tác của bà để lại không chỉ được tôn vinh trong nước mà có tầm ảnh hưởng thế giới, đến nay đã có hơn 10 quốc gia đã dịch và giới thiệu thơ của Hồ Xuân Hương. Bà xứng đáng được UNESCO vinh danh “Danh nhân văn hóa” nhân kỉ niệm 200 năm ngày mất (1822-2022) của bà – nữ sĩ Hồ Xuân Hương-Bà Chúa thơ Nôm. Đó chính là mục tiêu tác phẩm “ Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” của tác giả Nghiêm Thị Hằng hướng tới.

Theo Hồ Xuân/Văn nghệ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Lê Quang Vui – Sự giăng mắc giữa đời và đạo
hời thế giới phẳng, giữa thời đại tiêu dùng, con người đang chạy theo việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sở hữu những giá trị vật chất, thơ đang bị xem như thứ xa xỉ chỉ dành cho những người có tâm hồn mộng mơ và thi vị. Đối với công việc làm thơ, một số người làm thơ chỉ để tìm kiếm chút danh lợi hoặc để mua vui cho chính bản thân mình. Thế nhưng, trên thi đàn thơ Việt Nam đương đại vẫn còn những nhà thơ xem công việc sáng tạo thơ như một thiên chức mang vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng. Ở đây, tôi muốn nói đến nhà thơ Lê Quang Vui, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, một người đeo đuổi công việc sáng tác thơ đã hơn 40 năm. Nhà thơ Lê Quang Vui được một số văn nghệ sĩ đánh giá rằng ông đang giữ kỷ lục về số lượng tác phẩm với hơn 15.000 bài thơ đã sáng tác và 15 tập thơ đã xuất bản.
Xem thêm
Nhà thơ Vương Trọng – Cá tính thơ trong con người xứ Nghệ
Đối với cánh văn chương 7x chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Vương Trọng không chỉ rất gần gũi mà ông còn là tấm gương về sáng tác, công tác và các ứng xử trong cuộc sống đời thường. Ông là điển hình cho phẩm chất của người xứ Nghệ: mạnh mẽ, kiên cường, có chính kiến rõ ràng và rất quyết liệt trong bảo vệ chính kiến đó, nhất quán từ lời nói đến hành động, rất biết nặng nhẹ trong đời sống và càng biết thật giả trong văn chương. Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, nhiều khi còn quên mất tên tác giả Vương Trọng chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp của sự hi sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca sử sách.
Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm