TIN TỨC

Thân thế của nữ sĩ Hồ Xuân Hương được giải mã…

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
3136 lượt xem

 

Tìm mộ Hồ Xuân Hương như mò kim đáy biển. Năm 1822 khi nữ sĩ qua đời mộ chôn ở nghĩa địa Phủ Tây Hồ, làng Nghi Tàm. Năm 1842 họ hàng của ông Trần Phúc Hiển đã di hài cốt nữ sĩ về quê chồng ở Tam Kỳ, Quảng Nam. Năm 1850 lăng mộ nữ sĩ được xây khang trang dấu tên đổi họ thành Huỳnh Hoàn Nhân, mộ vô chủ, nay thuộc phường An Sơn TP Tam Kỳ. Đó là bí ẩn cuối cùng bí ẩn thứ 9 được giải mã trong tác phẩm “Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” của tác giả Nghiêm Thị Hằng.

Phần 4 của tác phẩm: Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương, tác giả Nghiêm Thị Hằng kể về hành trình tìm mộ Hồ Xuân Hương và ông Trần Phúc Hiển.

Thông tin về phần mộ ban đầu của Hồ Xuân Hương được xác định theo bài thơ Long Biên trúc tri từ của Tùng Thiện Vương viết đầu thu năm 1842, sau 20 năm nữ sĩ qua đời. Bài thơ chỉ dấu, mộ nàng thơ được chôn ở ven Hồ Tây.


Tác giả Nghiêm Thị Hằng (đứng giữa), tặng sách “Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” cho bạn đọc.

Năm 2003 con cháu họ Hồ có cuộc đi tìm mộ nữ sĩ lần thứ nhất, với sơ đồ vẽ phần mộ thuộc nghĩa địa Đồng Táo đã chìm trong sóng nước Hồ Tây. Việc tìm mộ thất lạc thiếu thông tin trên cạn đã khó, tìm mộ chìm dưới sóng nước Hồ Tây, chẳng khác gì “mò kim đáy biển”. Cả 3 lần con tàu của họ Hồ ra giữa Hồ Tây tìm mộ nữ sĩ đều trục trặc, khi thì tàu hỏng máy, khi thì mưa giông gió lớn, cản ngăn. Là người đã có kinh nghiệm đi tìm mộ, thường mưa thuận gió hòa, thuận âm thuận dương, có người đưa đường chỉ lối, sự trục trặc trên, dường như nữ sĩ đã ngăn cản, chỉ dẫn mộ nàng thơ không ở nghĩa địa Đồng Táo.

Theo thông tin của những người có khả năng đặc biệt chỉ dẫn, thì mộ nữ sĩ được chôn tại nghĩa địa phủ Tây Hồ, trước mé nước phủ Tây Hồ hiện nay ra hồ khoảng 100m, đây là nơi chôn những người danh tiếng của triều đình và trong xã hội. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương dạy học ở làng Nghi Tàm, là nhà thơ nổi, bà được dân làng chôn ở nghĩa địa Phủ Tây Hồ cùng những người danh tiếng.


Mộ Giày Thầy Lánh (tức cụ Nguyễn Đức Thêm) hơn 200 năm, chôn phía trước lăng mộ Tiền hiền mở đất tộc Trần làng Tam Kỳ cổ.

Dường như có sự kết nối vô hình giữa tâm linh và người đi tìm mộ (nhà báo Nghiêm Thị Hằng) đã có những thông tin hữu ích. Theo tử vi thì phần mộ nữ sĩ không nằm ở dưới hồngập nước vì cuối năm 1842 khi bài thơ Long Biên trúc tri từ xuất hiện, người họ hàng của ông Trần Phúc Hiển đã đưa mộ nàng thơ về quê chồng yên nghỉ.

Vậy quê chồng nàng thơ ở đâu? Tác giả đã giải mã được bí ẩn, ông Trần Phúc Hiển có biệt hiệu là Mai Sơn Phủ, từ đây cánh cửa về quê chồng nữ sĩ được mở ra. Nếu như bài thơ Vịnh Thanh Minh của Hồ Xuân Hương năm 1815, chỉ dấu cho tác giả tìm được phần mộ song thân nữ sĩ cụ Hồ Phi Diễn, cụ Hà Thị, an nghỉ ở nghĩa địa Đồng Táo, thì bài thơ Long Biên trúc chi từ của Tùng Thiện Vương, chỉ dấu mộ nàng thơ chôn ở ven Hồ Tây, còn bài thơ Thu Nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký ( tức bài Đêm Thu nhớ Mai Sơn Phủ, Hồ Xuân Hương viết vào mùa Thu năm 1815, trước khi lấy ông Trần Phúc Hiển (năm 1816), lại chỉ rõ dấu tích quê hương của ông Mai Sơn Phủ. Nữ sĩ viết: “Bên am Nhất Trụ trông còn đấy/Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu?”, hai câu thơ này là nỗi lòng của nữ sĩ ở kinh thành Thăng Long (chùa Một Cột – am Nhất Trụ) nhớ về quê của ông Mai Sơn Phủ – Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu?

Tác giả cũng đã tìm ra quê hương ông Trần Phúc Hiển trong Đại Nam thực lục chính biên ở đằng trong. Vậy ở đằng trong thì tỉnh nào có “ngọn nước Tam Kỳ”  tức là sông Tam Kỳ? Theo dư địa chỉ thời nhà Nguyễn, thì tỉnh Quảng Nam có sông Tam Kỳ. Câu thơ “Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu?”, tình ấy, cảnh ấy, chỉ rõ đây là quê hương của Mai Sơn Phủ, bên bến nước Tam Kỳ. Tác giả đã giải mã bí ẩn quê hương của ông Trần Phúc Hiển- Mai Sơn Phủ ở làng cổ Tam Kỳ, ngã ba sông Tam Kỳ, thuộc huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa, xứ Quảng, thời nhà Nguyễn.

Lại theo sách “Thọ Mai-Gia Lễ” của người xưa nói về phần mộ của người phụ nữ khi qua đời, thường được chôn ở quê chồng theo câu ca “Sống quê cha-Ma quê chồng”? Vậy hài cốt Hồ Xuân Hương có được đưa về quê chồng?


Ngôi mộ cổ vô thừa nhận tại phường An Sơn thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam được xây dựng năm 1850 được giải mã đó là mộ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Nhờ có kinh nghiệm gần 30 năm đi tìm mộ thiếu thông tin, nhà báo, nhà thơ Nghiêm Thị Hằng đã từng giúp các gia đình liệt sĩ tìm được thông tin, để đủ điều kiện khai quật phần mộ, lấy hài cốt liệt sĩ đi kiểm tra ADN, sau đó đón hài cốt liệt sĩ về quê. Kinh nghiệm ấy, giờ đây đi tìm mộ Hồ Xuân Hương, tác giả đã liên kết giữa dấu tích phần mộ của nữ sĩ khi qua đời chôn ở ven Hồ Tây là sự thật, nhưng hài cốt có còn ở nơi chôn cất ban đầu, hay đã cải cát đưa về quê chồng, giống như mộ liệt sĩ đã quy tập về nghĩa trang, nhưng sau đó gia đình lại đưa hài cốt về quê, thì ở nghĩa trang phần mộ vẫn còn nhưng không có hài cốt?

Trong hành trình đi tìm mộ nữ sĩ tại quê chồng ở Quảng Nam, Nghiêm Thị Hằng đã có được thông tin từ những người có khả năng đặc biệt cho biết, mộ nữ sĩ đã đưa về quê chồng nhưng không chôn gần mộ chồng. Trên mộ hoang có chữ cổ, minh bia ghi năm xây dựng 1850, thông tin này do cô Trương Thị Diệp ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, chỉ dẫn từ tháng 8/2020. Còn bà Nguyễn Thị Thùy ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, chỉ dẫn ngày 22/12/2020, mộ ông Trần Phúc Hiển và mộ nữ sĩ đều thay tên đổi họ và chôn ở nơi hoặc là gần núi (Vì có chữ SƠN), hoặc là địa phương có tên địa danh có chữ SƠN vào. Trước đó tác giả cũng đã mơ thấy việc chuyển hài cốt nữ sĩ Hồ Xuân Hương từ nghĩa địa phủ Tây Hồ về quê chồng phương tiện di chuyển bằng con ngựa màu vang.

Khi giúp gia đình ông Nguyễn Văn Thu tìm mộ liệt sĩ Nguyễn Văn Xuân ở thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam kết thúc vào ngày 30/12/2020, ngày 31/12/2020, tác giả đã được chỉ dẫn hành trình tìm mộ ông Trần Phúc Hiển và nữ sĩ Hồ Xuân Hương thuận lợi “Thiên thời địa lợi”.

Trước khi vào Tam Kỳ tìm mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương và mộ ông Trần Phúc Hiển, tác giả đã nghiên cứu kỹ  những ngôi mộ cổ gần 200 năm vô thừa nhận ở phường An Sơn và ngôi mộ Giày Thầy Lánh đầy màu sắc huyền thoại ở phường Hòa Hương. Sau khi được cán bộ UBND phường Hòa Hương đưa đến viếng thăm ngôi mộ Giày Thầy Lánh vào cuối chiều ngày 30/12/2020, tác giả nhận định đây không phải là mộ chôn chiếc giày của Thầy Lánh  theo huyền thoại  mà dưới mộ là con người thật mang tên Nguyễn Đức Thêm và có hậu duệ ở làng Diêm Điềm, huyện Núi Thành thờ cúng. Từ phát hiện này  tác giả được chỉ dẫn đến thắp hương tại nhà thờ cổ (gần 200 năm) ở thôn Bản Long xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, thờ cúng cụ Nguyễn Đức Thêm. Tại nhà thờ cổ họ Nguyễn, tác giả đã gặp ông Nguyễn Văn Phúc hậu duệ đời thứ 5 của cụ Nguyễn Đức Thêm. Ông Phúc có người con trai là Nguyễn Trần Vĩnh Hiển. Thêm một bí ẩn nữa được phát lộ, tác giả đang đi tìm phần mộ của cụ Trần Phúc Hiển, về chính ngôi nhà thờ cụ Nguyễn Đức Thêm, lại gặp hậu duệ của cụ (bố tên Phúc- con tên Hiển) như điềm báo đã tìm đúng hậu duệ của cụ Trần Phúc Hiển. Sau khi cụ Trần Phúc Hiển là tội phạm của triều đình bị xử tội chết, thì con cháu đã đổi họ từ Trần sang Nguyễn, nhưng đến đời hậu duệ thứ 6, con ông Nguyễn Văn Phúc thì lại lấy họ Trần ghép sau họ Nguyễn để lại dấu tích người họ Trần.

Từ đây những bí ẩn về dòng họ Trần, họ Nguyễn, từ Thanh Hóa theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam mở đất thế kỉ 16, được phong là Tiền hiền của làng Tam Kỳ cổ, có liên quan đến phần mộ tộc Trần và mộ Giày Thầy Lánh được làm sáng tỏ. Mộ Giày Thầy Lánh được giải mã là mộ cụ Trần Phúc Hiển chôn ở bãi SƠN, trước khu lăng mộ tiền hiền họ Trần làng Tam Kỳ, được kiểm chứng đúng như thông tin của bà Nguyễn Thị Thùy chỉ dẫn. Mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương chôn ở phường An SƠN mang tên Huỳnh Hoàn Nhân có minh bia chữ hán ghi năm xây mộ 1850, đúng như thông tin của cô Trương Thị Diệp và bà Nguyễn Thị Thùy đã đưa ra từ tháng 8 và tháng 12/2020.

Như vậy dấu tích về phần mộ của nữ sĩ tại quê chồng (miền đất cổ Tam Kỳ-Quảng Nam) đã được tác giả Nghiêm Thị Hằng giải mã, đây là bí ẩn thứ 9 trong tác phẩm “Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” được minh chứng sáng tỏ có cơ sở và có khoa học.

Thân thế của Hồ Xuân Hương đã được Nghiêm Thị Hằng giải mã 9 bí ẩn rõ ràng, đây là những kết quả nghiên cứu khoa học, đủ điều kiện để UBND tỉnh Nghệ An làm tờ trình Bộ Văn hóa –Du lịch và UNESCO Việt Nam trình UNESCO thế giới  hồ sơ ứng viên nữ sĩ Hồ Xuân Hương một con người tài danh bậc nhất trong các nhà thơ nữ Việt Nam thế kỉ XVIII-XIX.  Dưới chế độ phong kiến, nữ sĩ là người phụ nữ đầu tiên dám lên tiếng đấu tranh mạnh mẽ cho nữ quyền qua tác phẩm thi ca. Những kiệt tác của bà để lại không chỉ được tôn vinh trong nước mà có tầm ảnh hưởng thế giới, đến nay đã có hơn 10 quốc gia đã dịch và giới thiệu thơ của Hồ Xuân Hương. Bà xứng đáng được UNESCO vinh danh “Danh nhân văn hóa” nhân kỉ niệm 200 năm ngày mất (1822-2022) của bà – nữ sĩ Hồ Xuân Hương-Bà Chúa thơ Nôm. Đó chính là mục tiêu tác phẩm “ Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” của tác giả Nghiêm Thị Hằng hướng tới.

Theo Hồ Xuân/Văn nghệ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Di cảo thơ Chế Lan Viên: Khi thơ là thuốc, là lời kinh kệ
Chế Lan Viên là người mà sự nghĩ ngợi vận vào thơ như thể thơ cũng là thuốc, thơ chẩn ra được cái bệnh đau của kiếp người, và “Có vào nỗi đau mới có ích cho người”.
Xem thêm
Cảm hứng sinh thái trong thơ Đặng Bá Tiến
 Là một nhà báo, nhà thơ mấy chục năm gắn bó với vùng đất Đắk Lắk, Đặng Bá Tiến đã sáng tác thành công về thiên nhiên, con người và văn hoá Tây Nguyên với nhiều tác phẩm: Lời chân thành với cỏ (Thơ, 2009), Rừng cổ tích (Trường ca, 2012), Hồn cẩm hương (Thơ, 2017), Linh hồn tiếng hú (Thơ, 2020). Anh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Tây Nguyên đương đại, một nhà thơ “thứ thiệt”[1] có bản sắc riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo. Nổi bật trong sáng tác của anh là những tác phẩm viết về rừng, về sinh thái văn hoá và nhân văn.      
Xem thêm
Sức bền của ngòi bút
Nguồn: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 116, ngày 21/3/2024
Xem thêm
Nguyễn Bính ở phương Nam
Nguyễn Bính (1918-1966), tên thật là Nguyễn Trọng Bính (có lúc tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở Nam Định nhưng sống khắp ba miền đất nước. Ông có phong cách một nhà thơ lãng tử, sáng tác về chủ đề tình cảm làng quê và tình yêu, tổ quốc. Thơ tình cảm mộc mạc của ông được rất nhiều người thuộc. Tác phẩm gồm 26 thi tập trong đó có : + 1 kịch thơ : Bóng giai nhân (1942): + 3 truyện thơ : Truyện Tỳ Bà (1942); Trong bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958): + 1 vở chèo : Người lái đò sông Vỹ (1964) và rất nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được nhạc sĩ phổ thành ca khúc : Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, Quốc Hương ca);  Cô hái mơ (Phạm Duy); Ghen (Trọng Khương), Cô lái đò (Nguyễn Đình Phúc); Chân quê (Minh Quang). Hiện nay, nhiều thành phố có những con đường mang tên ông. Nhà thơ Nguyễn Bính nhận được giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (2000) cùng với Hoài Thanh, Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng, …
Xem thêm
“Đánh thức mình bằng chân lý vô ngôn”
Tôi biết Nguyễn Minh Thuận (nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp Đắk Lắk) làm thơ đã lâu, dễ hơn ba chục năm trước, thỉnh thoảng anh vẫn đọc cho tôi nghe và rải rác anh cho đăng trên facebook Trương Thị Hiền - vợ anh (TS, giảng viên Trường Đại học Tây Nguyên).
Xem thêm
Đọc “Thơ mười năm” của Hoàng Đình Quang
Bài viết của nhà thơ Trần Quang Khánh
Xem thêm
Hoàng hôn chín – chín mọng yêu thương
Về tập thơ in chung của Võ Miên Trường và Triệu Kim Loan
Xem thêm
Thơ Phan Hoàng trong hành trình ngược lối – Tiểu luận của Mai Thị Liên Giang
Tập thơ “Chất vấn thói quen” của Phan Hoàng từng nhận được nhận Giải thưởng Hội Nhà văn TPHCM và Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012, sau đó tập thơ này được trao Giải thưởng Nghệ thuật Danube năm 2023 của Hungary. Ngoài ra tập trường ca “Bước gió truyền kỳ” của ông cũng được Ủy ban nhân dân TPHCM trao Giải thưởng Văn học Nghệ thuật TPHCM 5 năm lần thứ II. Để hiểu thêm về hành trình sáng tạo thi ca của nhà thơ Phan Hoàng, xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà lý luận phê bình văn học Mai Thị Liên Giang.
Xem thêm
Những giải mã thú vị, khoa học của một người đọc tri âm
Với kiến văn sâu rộng, sự nghiên cứu cẩn trọng mang tính học thuật cao, khai thác nhiều vấn đề tri thức lý luận mới mẻ; Trần Hoài Anh đã đem đến những trang viết tinh tế, khai mở nhiều điều lý thú và bổ ích.
Xem thêm
Hồn xuân trong thơ Hồ Chí Minh
Nhà thơ Trung Quốc Viên Ưng đã nhận định sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một trí tuệ lớn, một dũng khí lớn, một tâm hồn lớn”.
Xem thêm
“Trung thực và quả cảm” trong sáng tác và phê bình văn học, nghệ thuật
Bài viết của nhà thơ Mai Nam Thắng trên Văn nghệ số 4/2024
Xem thêm
Nguyễn Quang Thiều với ‘Nhật ký người xem đồng hồ’
Bài viết của Nguyễn Văn Hòa về tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều
Xem thêm
Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời
Nguồn: Báo Văn nghệ số 4, ra ngày 27/1/2024.
Xem thêm
Dòng kinh yêu thương
Tháng 8 năm 1969, chương trình Thi văn Về Nguồn góp tiếng trên Đài phát thanh Cần Thơ vừa tròn một tuổi. Nhân dịp nầy, cơ sở xuất bản về Nguồn ấn hành đặc san kỷ niệm. Đặc san tập họp sáng tác của bằng hữu khắp nơi, với các thể loại như thơ, truyện, kịch… và phần ghi nhận sinh hoạt văn học nghệ thuật ở miền Tây trong một năm qua. Trong đặc san này, chúng tôi in một sáng tác của nhà thơ Ngũ Lang (Nguyễn Thanh) viết ngày 24/8/1969, gởi về từ Vị Thanh (Chương Thiện), có tựa đề “Đưa em xuôi thuyền trên kinh Xà No” Hơn nửa thế kỷ trôi qua với bao nhiêu biến động, ngay cả tác giả bài thơ chắc cũng không còn nhớ. Xin được chép lại trọn bài thơ của anh đã đăng trong Đặc san kỷ niệm Đệ nhất chu niên Chương trình Thi văn Về Nguồn, phát hành vào tháng 8 năm 1969.
Xem thêm
Minh Anh, người đánh thức thế giới
từng chữ từng chữ/ rơi vào từng dòng từng dòng/ chúng chụp lấy những khoảnh khắc/ đẹp não nùng/ không thể rời khỏi con tim/ cách duy nhất để tự nó đừng nở rộ quá mức/ vượt khỏi ký ức của ta/ là hãy viết xuống (Sự kỳ lạ của nghệ thuật viết).
Xem thêm
Ta sẽ không như cốc trà nguội cuối ngày
Bài viết của Nguyên Bình về tập thơ Vọng thiên hà của Hoa Mai.
Xem thêm
Con người Chí Phèo
Cái chết của Chí phèo như bản cáo trạng về xã hội thực dân nửa phong kiến thối rữa, nhàu nát, là tiếng kêu oan khốc thấu tận trời xanh của những kiếp người “siêu khổ”.
Xem thêm
Nguyễn Ngọc Hạnh - Hồn thơ reo mãi phía làng
Bài viết của Hoàng Thụy Anh và phóng sự ảnh của Nguyên Hùng
Xem thêm
‘Bút chiến’ thời Tự Lực Văn Đoàn
Trước khi được giải Lý luận phê bình của Hội Nhà văn năm nay thì “Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do” đã được chú ý trong cộng đồng đọc. “Câu chuyện cũ nhưng cách tiếp cận mới, khảo tả công phu, chưa kể những dẫn chứng “đấu đá” hậu trường văn chương, đọc rất vui”, độc giả bình luận.
Xem thêm