TIN TỨC

Tình đất, tình người trong thơ Đoàn Thị Ký

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-05-30 11:48:10
mail facebook google pos stwis
2846 lượt xem

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     Nguyễn Văn Hòa

 

 Đoàn Thị Ký làm thơ từ khá sớm và tiếng thơ của chị cũng được nhiều người biết đến. Bởi chị có một số bài thơ như: Nửa vòng bông gạo, Thẫm chiều tạo được dấu ấn với bạn đọc bởi lời thơ giản dị, chân chất nhưng đầy da diết, yêu thương.

Thơ Đoàn Thị Ký luôn hướng về những giá trị truyền thống, về nguồn cội, quê hương với lời cảm tạ chân thành nhất. Thơ chị luôn là tiếng nói trung thực của bản ngã với những suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc về những chặng đường mà chị đã trải qua.

Là người có điều kiện đi và sống ở nhiều nơi, từng kinh qua nhiều công việc khác nhau nên Đoàn Thị Ký có vốn tư liệu thực tiễn khá dồi dào. Đây chính điều kiện thuận lợi để chị giúp chị có nguồn cảm hứng, tạo chất xúc tác cho hành trình sáng tạo thi ca.

Dọc theo hành trình thơ Đoàn Thị Ký, từ tập Dòng sữa nuôi tôi ( In chung năm 1975) đến Cô gái và cầu vồng (1995), rồi Nửa vòng bông gạo (2001) và Hà Nội thời có nhau (2010), người đọc sẽ nhận ra điểm nổi bật và cũng là nét riêng của thơ chị đó là “nhật ký hành trình”: Đời - Người - những vùng đất mà nhà thơ đã đi qua. Vì thế, trong thơ Đoàn Thị Ký, xuất hiện hầu khắp các địa danh của mọi miền đất nước. Nhưng nhà thơ dành tình cảm nhiều nhất vẫn là Hà Nội. Tất cả được chị ghi lại bằng thơ với những dấu ấn riêng theo cảm quan và sự rung động của trái tim người đàn bà đa cảm.

Ở đó, nhà thơ thỏa sức tung tẩy chuyện của người, của mình, của đời với bao nỗi thương nhớ, khắc khoải, da diết khôn nguôi. Người làm thơ đi nhiều là lợi thế, nhưng ghi lại bằng thơ trên từng chặng đường, từng địa danh mà mình đã đi qua thì ít người làm được như Đoàn Thị Ký. Một Hà Giang với nỗi nhớ ngút ngàn: “Sông Lô chiều man mác/ Rơi từng ngày cuối năm/ Ai có về dưới đấy/ Cho ta lời nhắn thăm”; Một ngã tư Bảy Hiền ở đất phương Nam hiện về trong chị là hình ảnh những con người sống hào phóng, nghĩa tình, giàu nghĩa khí: “Ríu ran lắm người dưng ran ríu/ Nhường nhau đi trước, trước không đành/ Thương mến ngã tư người hiền thế/ Hay là người biết khế còn chanh…”; Một Tháp Mười với nhiều kênh rạch, xuồng gắn máy, xuồng chèo tay và sự hào sảng trước cuộc sống lao động với gió nước đặc trưng vùng sông nước: “Tôi kịp giấu bông sen trước ngực/ Gió đổi chiều hay dòng kinh xoay hướng khác, thảng thốt nhìn gió bứt tình tôi”; một Lào Cai mây trắng ngang trời, chút lạ lẫm của Sa Pa làm nên điều thú vị, để rồi người thơ ấy không dấu vẻ kiêu ngầm:  “Ngẩng mặt Hoàng Liên trào thi hứng/ Ngoái Hồng Hà má lựng bồ quân”; một Tây Nguyên đặc trưng: “Đác tiếng dân tộc Ê Đê, Ba Na là nước/ Miền đất điệp điệp cái tên: Đácglay, Đáchà, Đácmin, Đácrlấp... gợi nước đầy buôn, đầy làng/ Nước sinh ra từ cánh rừng/ Cánh rừng ngậm trầm tinh hoa của nước/ Đàn tơ-rưng làm bằng ống lồ ô, thanh âm không trong như tiếng hạc, mà như thác đổ, như suối reo...”; và với mảnh đất thiêng Hà Nội thì có nhiều điều để Đoàn Thị Ký gửi gắm những nỗi suy tư, khát vọng, niềm tin của mình vào đó (chị có hẳn 1 tập Hà Nội thời có nhau gồm 47 bài thể hiện rõ nét thái độ, quan điểm, tình cảm của nhà thơ về đất và người ở nơi đây).

Đoàn Thị Ký viết về những điều xung quanh mà chị nhìn thấy, chị cảm nhận, suy tưởng. Nhưng cũng từ những điều giản đơn, gần gũi, quen thuộc ấy lại mở ra những chân trời, những chiêm cảm sâu sắc về cuộc đời. Từ tên những con phố của Hà Nội, hay hình ảnh những người đàn bà, hạt vừng, cọng rau dớn, dòng sông tháng ba, lũy tre làng: “Hoa bưởi thơm như ướm/ Mùa xuân lên tre làng”... cũng đều để lại cho chị những suy ngẫm và liên tưởng đến cuộc sống cõi người.

Thơ ca chính là hình thức đặc biệt để con người tư duy và cảm nhận cuộc sống. Đoàn Thị Ký đã gửi vào thơ nỗi lòng thổn thức với cái chung và cả những điều riêng. Quyển sổ hộ khẩu ngỡ rằng chẳng có gì là thơ, vì một thời nó mang dấu ấn xã hội, gắn với lương thực, thực phẩm… vậy mà nó thành thơ, nhờ trải nghiệm từ thực tiễn đời mình trước cuộc sống thời hiện đại, mọi thứ xảy ra chóng vánh, người ta thường hay quên quá khứ, đặt nặng vấn đề tiền bạc, quyền lực. Và điều ấy dẫn đến bao bất cập, không hay, vô cảm lại mặc nhiên có đất sống. Điều hay, lẽ phải đôi lúc bị nhập nhòa. “Thời cơ chế cho nhau,/ Con người đậm dấu son quyền lực// Lòng sung/ Lòng vả/ Nhạt màu!” (Ngày nhận giấy báo không được nhập khẩu Hà Nội).

Trái tim nhạy cảm, dễ xúc động nên điều gì xảy ra quanh chị cũng khiến tâm hồn xao động, thậm chí chị đau như chính chị là người trong cuộc. Bài thơ Má đi kiện biết thu Hà Nội viết về một bà má từ tận Bến Tre ra Hà Nội kêu oan về đất đai, đau đáu mà chua chát. Đau đáu bởi con phố Mai Xuân Thưởng có Phòng tiếp dân một thời, nằm đối diện Phủ Chủ tịch và Lăng Bác qua một con đường, chua chát bởi :

Mùa thu lạ quá con ơi/ Đêm qua má ngủ ngoài trời thấy sương/ Sáng ra người nhẹ ttơ vương/ Dù đang đi kiện trăm đường cam go/ Con đừng lo má tay vo/ Má có lý lẽ/ Bác Hồ thương dân/ Ở đây Lăng Bác rất gần/ Đêm đêm yên tĩnh khắp sân sáng lòa.../ Đất nhà má đất ông cha/ Trồng lúa lúa tốt, trồng dừa dừa sai!/ Mấy người lấy cớ đất đai/ Liên doanh này nọ, dài dài chia nhau/ Họ chừa lại cái chũm cau/ Tưởng má ít chữ nông sâu biết gì/ Tỉnh không đòi được má đi/ Trung ương chưa giải quyết, má ở lỳ tháng nay!/ Đi kiện má lại gặp may/ Biết thu Hà Nội không bay trên trời,/ Sáng ra người tỉnh cả người/ Má tin công lý vàng mười sáng soi.// Lặng theo lời má là tôi/ Với thu Hà Nội rơi rơi giọt buồn”.

Những lời chất phác, gan ruột của má được liệt kê ra lại gợi lên cho người đọc về thực trạng nhói lòng đã và đang xảy ra ở một số nơi. Vẫn còn đó những nỗi oan khiên, buộc họ phải kêu cứu đến tận trung ương và không nguôi hy vọng…

Thơ Đoàn Thị Ký nhẹ nhàng, sâu lắng, đậm chất trữ tình khi thể hiện tình cảm của mình với quê hương, đất nước, bạn bè và những người thân yêu ruột thịt. Nhà thơ cũng dành những trang viết về mẹ, về cha bằng tình cảm của một đứa con đã hiểu lẽ nông sâu của cuộc đời. Lời thơ vì thế lại càng trầm tư, da diết và xốn xang hơn. Lời tâm sự của đứa con với người cha trong bài Gửi cha nghe có gì đó mang nhiều nỗi ưu tư, trắc ẩn: “Đồng bạc lẻ quanh vườn nhặt nhạnh/ Cha tặng con gái yêu đôi cánh,/ Lên cao vòm trời/ Hương cau dạo nhờ cỗ xe thần gió/ Lửng thửng mây/ dưới cánh bay/ dây tơ hồng/ Cha gỡ dây tơ hồng/ Chiếc lá bay ngập ngừng/ Bồ đài lá mít/ Cạn kiệt ông xanh/ Chệnh choạng đôi chân cây khù khì,/ Cái nhện âm i/ Sông Ngân xa bờ lênh lênh nắng/ Có dải mây như tóc cha bạc trắng/ Chưa yên lòng vì con”.

Đi qua những thăng trầm của thời cuộc, trải qua nhiều công việc, sống và trải nghiệm ở nhiều môi trường khác nhau đã cho chị nhiều vốn sống để ứng phó, thích nghi với đời: “Những sợi tóc dài đen/ Gáo nước lạ gội đầu lại rụng/ Chưa kịp rẽ ngôi dịu vầng trán bướng/ Dóng dả còi xe// Giá anh hỏi sau mỗi chuyến được gì? Em rành rẽ trả lời. Và khép cửa.../ Nhưng sao anh cứ ân cần bền bỉ/ Cất dùm em những sợi tóc mềm” (Tóc chiêm bao).

Giờ đây, khi chị đã ở vào tuổi xế chiều của đời mình, bao cảnh đời dâu bể, những biến cố thời đại được Đoàn Thị Ký nhìn nhận sâu sắc hơn. Nhà thơ khai thác ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng chủ đạo vẫn hướng về sự nhân văn nhân ái. Chứng kiến cảnh lao động nhọc nhằn, lòng chị lại trỗi dậy ký ức của những năm tháng đã qua, sự khổ ải để có miếng ăn trở thành nỗi đau thường trực, vì thế nhà thơ không khỏi ngậm ngùi: “Tay cấy lúa nước bốc hơi hầm hập/ Thương lúa giữa trời chả nón che thân/ Bóng lúa nương nhau hàng hàng ngay thẳng/ Một cánh cò bay vội dáng phân vân...” (Hạt nắng hạt vàng).

Trong cái nhìn về thời gian, nhà thơ bộc lộ nhiều nỗi trăn trở day dứt, đôi lúc chị tự vấn với chính bản thân mình trước thực tại: “Trên dòng sông ai bắc cầu mây?/ Lúa chiêm chín hạt chảy làm sắc nắng/ Tôi ngỡ mặt trời đi vắng/ Dưới là sông trên ấy cánh đồng/ Hạt phù sa phải năm nắng mười sương/ Mới nên quả, nên bông, nên nụ cười tươi thắm/ Câu hát nghĩa tình níu cong đòn gánh/ Ai cuối dòng sông tôi gửi gió thơm đồng!/ ... Năm tháng rồi qua vô tình mải miết/ Không biết trong mình có hạt phù sa/ Không biết trong mình ăm ắp lời ca/ Từ thuở trong nôi.../ Dòng sông thì thầm với tôi như thế!” (Thầm thì dòng sông).

Nhìn trên tổng thể, thơ Đoàn Thị Ký vẫn thủy chung với thi pháp thơ truyền thống nhưng vẫn gây được ấn tượng cho người đọc bởi chị có khả năng vận dụng từ ngữ, hình ảnh, tứ thơ của mình một cách ấn tượng. Người đi soi bóng mặt hồ, một bài thơ ngắn nhưng dung chứa và chuyển tải được nhiều điều về mảnh đất và con người Hà thành với những nét đặc trưng, phẩm chất đáng trân quý. “Thầm lại nét/ Hào hoa/ Thanh lịch/ Trong từng lời nói, dáng đi// Không cho riêng mình/ Cho muôn năm Hà Nội/ Còn thơm cốm ủ lá sen/ Thu về.../ Nụ hôn gió tê tê/ Sau đêm dài lắng lại/ Tất bật/ Ưu tư/ Bon chen/ Khôn dại.../ Tơ liễu thêu tranh gấm mặt hồ/ Cõi người tự diễn chẳng bầu sô”.

Mỗi câu chữ đều dạt dào cảm xúc, chứa đựng tình cảm chân thành, hồn hậu, giản dị nhưng đầy chất trí tuệ, biểu đạt đến tận cùng nỗi lòng cũng như những mơ ước, khát vọng của chính nhà thơ. Vẫn mượn lời thì thầm của dòng sông, nhà thơ lại mở ra một sự liên tưởng khác, mang nhiều ý nghĩa về dòng sông đời: “Trách cứ gì nếu bờ này có lở/ Thì bờ kia như ngực trẻ căng tròn/ Bắt đầu từ đâu tôi chưa đến tận nguồn/ Chỉ biết đến làng tôi, sông như người mắc nợ/ Tháng ba hoa gạo đỏ/ Tháng sáu về bông trắng lòng tay”.

Những câu thơ nhẹ nhàng mang tính triết lý khi nhà thơ có sự xâu chuỗi, nhìn nhận sự việc, con người trong thời đại mới với bao biến đổi khó lường. Vì thế Đoàn Thị Ký tỏ ra hoài nghi.

Nhà đổ tận đâu đâu/ Xòe bàn tay - Bàn tay mình vẫn sạch!/ Khó day mặt kẻ gây tội ác/ Những liên minh/ Vặt trí tuệ loài người như vặt lông gà, lông vịt.// Trí tuệ hướng con người vươn xa/ Trí khôn níu con người về lại/ Cái bóng của mình/ Cái bóng hằn lên da hổ/ trong câu chuyện cổ nước nhà/ Cái thiện phải lấy dây thừng ghì cái ác/ Ghì thật chặt/ Mới hy vọng sự mô phỏng thiên nhiên trên luống cày thời đại/ Làm bác trâu già mọc lại hàm răng…”(Thời đại và trí khôn).

Cái tôi trữ tình trong thơ Đoàn Thị Ký là cái tôi hướng nội, suy tư, nghiền ngẫm về tình yêu và bản chất của sự sống. Có một số bài thơ của chị được người đọc yêu thích vì nó chạm đến cõi sâu thẳm trong trái tim với đầy ắp những tâm tư, khát vọng rất đỗi đời thường.

Có lần sợi bông gạo bay/ Như chiếc chong chóng xoay xoay nửa vòng// Tôi đưa tay đón và mong/ Đâu ngờ gió tự vân mòng đẩy ra// Thế là bông gạo bay xa/ Nửa vòng chong chóng đã hòa thinh không...// Một mai ngọn gió thổi nồng/ Có còn bông gạo nửa vòng bay bay? (Nửa vòng bông gạo). Cái nhìn độc đáo về cảnh vật của thế giới tự nhiên làm cho người đọc bất ngờ và cảm thấy thú vị. Nhà thơ lắng nhìn và quan sát tỉ mỉ bông gạo bay và rồi suy ngẫm về chiều tương lai bằng một sự nghi vấn mà ở đó có những nuối tiếc, bâng khuâng.

Ở bài Thẫm chiều, từng lời thơ đọc lên nghe có điều gì đó hẫng hụt, man mác, rưng rưng. Chiều tim tím núi Tràng Đà/ Tôi tim tím nụ hoa cà bến sông// Có người khách cõi hư không/ Chờ con đò vãn bóng hồng nẻo sang.//Dòng sông vẫn chẳng tày gang/ Bè xuôi gối sóng đêm vàng đứt neo//Trông người... nào có người theo/ Trông trời... đôi hạt trong veo cách vời// Vẳng lên một tiếng - Đò ơi/ Sang sông lỡ chuyến, khách tôi thẫm chiều.

Đoàn Thị Ký là nhà thơ lặng lẽ nhưng say mê và sống hết mình với thi ca và bè bạn. Hành trình thơ và hành trình cuộc đời của chị dường như có sự đối sánh và song hành nhau. Ở đó, nhà thơ đã trải lòng mình trước cuộc sống để nhận thức, chiêm nghiệm, tự vấn, soi tỏ để củng cố niềm tin và sưởi ấm lòng người. Bởi hơn ai hết, Đoàn Thị Ký đã đem tất cả tấm chân tình của mình để trang trải với đời với người. Những gì chị có được hôm nay là cả một quá trình sống, làm việc nghiêm túc hết mình, sự dấn thân không mệt mỏi vì niềm đam mê thi ca./.

N.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm