TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Từ chữ ‘Man’ trong bài ‘Tây Tiến’ của Quang Dũng, nghĩ về chữ ‘Chợ’ trong ‘Qua đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan

Từ chữ ‘Man’ trong bài ‘Tây Tiến’ của Quang Dũng, nghĩ về chữ ‘Chợ’ trong ‘Qua đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-12-23 22:45:24
mail facebook google pos stwis
4398 lượt xem

Nguyễn Công Thanh

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – 1. Quang Dũng là nghệ sĩ tài hoa, có nhiều năng khiếu nghệ thuật. Ông sáng tác bài thơ “Tây tiến” vào năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, trong nỗi nhớ nồng nàn đối với Tây Tiến – đơn vị chiến đấu cũ – cũng là nỗi nhớ về dải núi rừng miền tây Tổ quốc có vẻ đẹp hùng tráng mà Quang Dũng đã một thời gắn bó. Không khí lãng mạn rất riêng biệt của những ngày đầu kháng chiến, tư thế dấn thân đầy kiêu hùng, quả cảm của những người con Hà Nội hào hoa, đa tình đã được thể hiện đậm nét ở từng câu thơ chứa đầy chất nhạc, chất họa, vừa trang trọng, cổ kính lại vừa tươi tắn, trẻ trung.

Tuy nhiên, trong bài viết nhỏ này, chúng tôi không bàn về giá trị nội dung và nghệ thuật rất đặc sắc của bài thơ mà chỉ tìm hiểu nghĩa chữ “man” trong bốn câu thơ:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

“Man điệu” là vũ điệu của người dân tộc thiểu số (một số người nói tránh “man điệu” là “một vũ điệu mang đậm màu sắc xứ lạ”). Trong suy nghĩ và cách gọi của Quang Dũng cũng như những người lính Tây tiến có gốc gác trí thức Hà thành, những người dân tộc ít người Tây Bắc là người man (man di).


Nhà thơ Quang Dũng (1921 – 1988).

Tây tiến sáng tác năm 1948, khi Nhà nước công nông đề cao sự bình đẳng giữa các dân tộc ra đời đã ba năm, mà trong tư tưởng của người trí thức Hà thành những điệu nhạc lạ của người miền núi vẫn gọi là “man điệu” (nhạc điệu của người man). Tài liệu Ngữ văn 12 (SGV), khi bình về đoạn thơ này, chẳng những không hề chê trách, phê phán nhà thơ dùng chữ “man” mà hết lời khen ngợi:

“Đây là đoạn thơ bộc lộ rất rõ nét tài hoa của ngòi bút Quang Dũng. Hồn thơ lãng mạn của ông bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ. Vì thế, cảnh là cảnh trong hoài niệm vậy mà lời thơ lại cho ta cảm giác đó là cảnh đang diễn ra ngay trước mắt. Và nhà thơ như đang nói với người vũ nữ “Kìa em xiêm áo tự bao giờ!” – một giọng thơ thật trìu mến, thích thú, vui sướng! Vui sướng đến ngạc nhiên ngỡ ngàng trước vẻ đẹp vừa e thẹn, vừa tình tứ (nàng e ấp) với bộ xiêm y lộng lẫy trong một vũ điệu mang đậm màu sắc xứ lạ (man điệu). Chỉ bằng 4 câu thơ mà Quang Dũng đã dựng được một bức tranh vừa phong phú về màu sắc đường nét, vừa đa dạng về âm thanh”.

2. Trước Quang Dũng khoảng 150 năm, Bà Huyện Thanh Quan cũng đã dùng chữ “rợ” để gọi tên nhà cửa của người “xứ lạ” trong bài thơ Qua đèo Ngang: “Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông rợ mấy nhà”. Có điều chữ “rợ” đang được các nhà nghiên cứu tranh cãi, bàn luận.

Phần lớn các Tuyển tập thơ trung đại Việt Nam, các Giáo trình Cao đẳng-Đại học và SGK Ngữ văn phổ thông xuất bản sau 1945 đều ghi là “chợ: “Lác đác bên sông chợ mấy nhà” (mấy túp lều chợ lác đác bên sông). Ngược lại, một số nhà thơ, nhà nghiên cứu cho rằng đó là chữ “rợ”. Theo họ, ở thời điểm sáng tác bài Qua đèo Ngang, từ “chợ” có thể dùng âm xuất phát “trợ” trong Hán Việt vì lúc này sự đối lập TR > < CH đã bị xoá nhòa, cùng với sự đối lập GI > < D > < R…, vì vậy chữ RỢ cũng có thể ghi bằng TRỢ.

Theo Tự điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính (Nxb Văn nghệ TP HCM và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2018), cách ghi âm đầu /R/ chữ Nôm phân bố như sau:

Có:

539 trường hợp ghi bằng L
84 trường hợp ghi bằng TR, CH
110 trường hợp ghi bằng GI, D
27 trường hợp ghi bằng TH…

Trường hợp dùng TR, CH ghi R chiếm tần suất khá lớn.

Ông Nguyễn Hùng Vĩ (Văn hoá Hà Tĩnh số 71, 6/2004) cho biết có 5 bản chữ Nôm ghi bài thơ Qua đèo Ngang. Trong 5 bản chữ Nôm có bản AB.620 chữ RỢ được ghi (theo ông là rất lưu loát) bằng bộ nhân đứng (亻) bên cạnh chữ TRỢ (助). Đây là điểm rất có giá trị với sự thống kê trên, nó cho ta thấy 톭 chắc chắn phải đọc là RỢ. Nếu là chữ CHỢ thì ở thời Bà huyện Thanh Quan đã có chữ 닭 (âm TRỢ đã được bỏ tính chất quặt lưỡi, đọc là CHỢ, và chữ thị (市) nghĩa là “cái chợ” biểu nghĩa). Nếu không có cứ liệu Nôm nào bác lại thì chắc chắn đọc là RỢ đúng hơn.

Những người quan niệm chữ “rợ” trong bài thơ Qua đèo Ngang giải thích thêm: “Ý khinh miệt là ngày nay chúng ta thêm vào, chứ thực tình RỢ chỉ là cách gọi xưa đối với các dân tộc ngoài Hoa Hạ của người Hán. Tiếng Hán có 東 戎, 西 夷, 南 蠻, 北狄 “đông Nhung, tây Di, nam Man, bắc Địch” (phía đông có người Nhung, phía tây có người Di, phía nam có người Man, phía bắc có người Địch). Chữ DI có âm Hán cổ là RỢ” (Thivien.net).

3. Ngoài những chứng cứ và cách lập luận rất chặt chẽ, đầy sức thuyết phục trên, thi pháp thơ Đường còn giúp chúng ta khẳng định đó là chữ “rợ”. Thơ Bà huyện Thanh Quan tuân thủ đến mức chuẩn mực tính chất quy phạm về kết cấu, về vần, luật, đối, niêm của thơ Đường luật. Vì thế câu trên “tiều vài chú” (tiều phu là người đi đốn củi) thì câu dưới phải là “rợ mấy nhà” (rợ là người dân tộc) – danh từ chỉ người đối với danh từ chỉ người (vài chú tiều đối với mấy nhà của rợ). Còn chữ “chợ” (nơi diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ bằng tiền tệ hoặc hiện vật) không đối với chữ “tiều” ở câu trên.

Thêm nữa, đèo Ngang thế kỷ XVII – XVIII là vùng biên ải, đèo cao hiểm trở, núi rừng hoang vu. Đây là nơi sơn cùng thủy tận của Đàng Ngoài, thời Vua Lê chúa Trịnh, làm gì có chợ? Chợ chỉ họp nơi đông đúc dân cư, có nhiều người mua bán, trao đổi. Vì vậy, từ “rợ” là hợp lý và đúng với văn bản thơ của bà Huyện.


Chân dung Bà Huyện Thanh Quan. Ảnh: Nhà xuất bản Kim Đồng

4. Khi tiếp cận hai bài thơ trên, độc giả sẽ thắc mắc: tại sao Quang Dũng dùng từ “man” (man điệu), chúng ta thấy hay, không có bất cứ sự kỳ thị nào mà khi Bà Huyện Thanh Quan dùng chữ “rợ” lại lo cho bà có thái độ miệt thị phải đổi thành chữ “chợ”? Quang Dũng thuộc tầng lớp trí thức Tây học Hà thành, lại được tắm gội bầu không khí công nông binh trong ba năm làm chiến sỹ vệ quốc quân, vậy mà khi gặp điệu múa lạ ở miền sơn cước bỗng reo lên: “Khèn lên man điệu nàng e ấp”, thì bà Huyện (vợ Tri huyện), quan lại phong kiến tập quyền thời nhà Nguyễn khi nhìn thấy mấy ngôi nhà nhỏ cheo leo bên khe đá của người dân tộc sao không gọi đó là “rợ mấy nhà” được? Thiết nghĩ, dùng chữ “chợ” thay cho chữ “rợ” trong bài thơ Qua đèo Ngang giúp bà Huyện khỏi mang tiếng kỳ thị chẳng khác gì “Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau”!

Do đó, chúng tôi đề nghị hãy phiên âm cho đúng nguyên bản bài thơ từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ; đặc biệt là chữ “rợ” trong câu “Lác đác bên sông rợ mấy nhà”!

N.C.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm