TIN TỨC

‘Vườn xưa’ trên quê hương Tế Hanh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
2983 lượt xem

Có một hình ảnh mà người quê Bình Sơn, quê Quảng Ngãi giữ mãi trong lòng mình, đó là hình ảnh một dòng sông “Nước gương trong soi tóc những hàng tre”, đó là hình ảnh dòng sông Trà Bồng chảy qua làng quê Tế Hanh bốn mùa nước nước xanh biêng biếc.

Nhà thơ Tế Hanh

Còn một hình ảnh nữa chưa biết xuất xứ từ đâu, nhưng khi đã vào một bài thơ Tế Hanh thì được bạn đọc cả hai miền Nam, Bắc cùng đón nhận. Đó là bài thơ Vườn xưa. Bài thơ này Tế Hanh viết năm 1957 khi ông đang sống và làm việc tại miền Bắc. Có hai từ trong bài thơ định danh nơi xuất xứ của nó, đó là hai từ “công tác”: Hai ta ở hai đầu công tác/ Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa/. Cùng công tác, vào năm 1957, thì chắc chắn khu “vườn xưa” ấy ở miền Bắc rồi. Nhưng có một câu chuyện rất hay về bài thơ này mà tôi muốn kể lại:

Vào năm 1972, khi tôi đang “công tác” ở chiến trường Nam Bộ, tình cờ tôi đọc một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Túy Hồng – một nữ nhà văn Sài Gòn đang rất nổi tiếng. Trong tiểu thuyết ấy, cũng rất tình cờ, tôi gặp lại bài thơ Vườn xưa của Tế Hanh. Một nhân vật trong tiểu thuyết của Túy Hồng nói rằng mình rất thích bài thơ Vườn xưa của nhà thơ Tế Hanh đang sống ở miền Bắc Việt Nam. Và qua tác giả tiểu thuyết, bài thơ này đã được in nguyên vẹn. Với hoàn cảnh chiến tranh thời ấy, thì đây là một câu chuyện lạ. Nói “nhân vật” của mình mê bài thơ Vườn xưa của Tế Hanh, nhưng tôi nghĩ, chính tác giả Túy Hồng mê bài thơ này thì đúng hơn. Và bà đã mượn nhân vật để đưa nguyên bài thơ này vào tiểu thuyết của mình. Bài thơ của một nhà thơ đang sống ở miền Bắc đã được một nhà văn miền Nam đưa vào tiểu thuyết của mình, và đã được một anh lính “Việt cộng” là tôi, đồng hương với Tế Hanh phát hiện ra khi đọc tiểu thuyết. Tôi rất thú vị vì câu chuyện này, nó nói lên rằng thơ Tế Hanh đã được bạn đọc ở cả hai miền Nam Bắc, bất chấp hoàn cảnh chiến tranh, đọc và yêu thích.

Và bây giờ, qua rất nhiều tháng năm, sau khi đã viết khá nhiều bài về thơ Tế Hanh, tôi mới chợt nhận ra điều này: Dù sinh thời sống rất khiêm nhường, nhỏ nhẹ, không bao giờ biết “PR” cho thơ mình, nhưng Tế Hanh lại là một trong số rất ít nhà thơ đương đại Việt Nam được người đọc yêu thích nhất. Tôi biết điều đó, vì có một chuyện như thế này:

Vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tế Hanh (1921-2021), một tờ báo mạng “có nhiều người đọc nhất Việt Nam” đã nhờ tôi viết một bài về Tế Hanh và thơ của ông. Có lẽ vì họ nghĩ tôi là đồng hương với Tế Hanh, lại quen thân với ông ngày ông còn khỏe, nên mới đặt bài. Bài viết của tôi cũng rất giản dị, nhưng tôi vô cùng ngạc nhiên khi được biết, số lượng người vào trang mạng đọc bài này là quá đông. Riêng những comments (bình luận) đã tới gần con số 200. Điều ngạc nhiên nữa với tôi, là những người viết bình luận đều nói là mình đã thuộc thơ Tế Hanh, thuộc cả bài, hay ít nhất, cũng thuộc một số đoạn thơ, nhiều người còn viết rằng đã thuộc thơ Tế Hanh từ khi họ còn nhỏ, còn ở tuổi đi học. Những bình luận đều bày tỏ sự yêu thương rất thật lòng với thơ Tế Hanh, điều quả thật không dễ dàng trong thời buổi rất ít người đọc thơ như bây giờ. Đó là điều khiến tôi rất hạnh phúc.

Sự khiêm nhường của một nhà thơ hiền lành như Tế Hanh đã mang lại cho thơ ông tình yêu thương mà nhiều nhà thơ khác thèm muốn. Tôi nghĩ, đó cũng là niềm tự hào của người Quảng Ngãi, khi một nhà thơ đồng hương của mình, một người dù sống ở rất nhiều nơi, nhưng suốt cuộc đời mình không bao giờ mất chất giọng đặc biệt mộc mạc của người Quảng Ngãi.

Và khi tôi mang những câu chuyện giản dị này về thơ Tế Hanh bàn với những người có trách nhiệm của huyện Bình Sơn, của xã Bình Dương quê hương ông, tôi đã nhận được sự đồng tình rất cao từ họ. Ai cũng muốn quê hương mình, địa phương mình phải có “Khu vườn lưu niệm” về nhà thơ Tế Hanh và thơ của ông. Và ý tưởng này chắc chắn sẽ thành hiện thực bởi nó được rất nhiều sự ủng hộ từ nhiều phía. Tôi nghĩ, đó chính là sự đồng thuận về tình yêu thương với thơ Tế Hanh, với con người nhà thơ Tế Hanh.

Khu vườn lưu niệm ấy sẽ mang tên “Vườn xưa”, và nó sẽ hướng ra phía dòng sông Trà Bồng, dòng sông quê hương đã chảy vào bài thơ bất tử của Tế Hanh.

Khi tôi mang ý tưởng này trình bày với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, anh Thiều đã ủng hộ bằng tất cả xúc cảm của mình. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hứa, sẽ vận động để đúc một tượng đồng nhà thơ Tế Hanh (theo tỉ lệ 1-1, nghĩa là to bằng người thật) đang ngồi thanh thản trong “Vườn xưa”. Tượng đồng này sẽ là món quà của Hội nhà văn Việt Nam tặng cho khu vườn lưu niệm Tế Hanh ngay tại quê hương ông.

Và khi tôi đưa ý kiến ủng hộ này của Hội Nhà văn Việt Nam tới bạn bè anh em ở Quảng Ngãi, thì một sự đồng thuận với tất cả sự chân thành của mọi người đã khiến tôi rất cảm động. Từ bí thư Thành phố Quảng Ngãi tới Trưởng ban Khu kinh tế Dung Quất đều hứa hẹn sẽ vận động để ủng hộ cho ý tưởng này nhanh chóng thành hiện thực.

Một người bạn của tôi đang sống ở Sài Gòn, nhưng quê Bình Sơn, đã hứa ngay, sẽ ủng hộ hai phiến đá khắc hai bài thơ nổi tiếng của Tế Hanh, đó là bài Vườn xưa và bài Nhớ con sông quê hương. Mỗi người sẽ ủng hộ một phần để tạo nên khu “Vườn xưa” này, nơi sẽ lưu giữ hồn thơ Tế Hanh cho nhiều thế hệ người đọc.

Và khu lưu niệm “Vườn xưa” sẽ chính thức trở thành một điểm du lịch văn hóa cộng đồng khi hoàn thành.

Tỉnh Quảng Ngãi cũng vừa có quyết định để khu lưu niệm Tế Hanh chính thức thành di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Quảng Ngãi.

Và tôi muốn gửi bài viết này như một lời kêu gọi chân tình tới tất cả bạn đọc yêu thương thơ Tế Hanh: chúng ta hãy góp mỗi người một cây xanh nhỏ bé để khu vườn lưu niệm này không chỉ là “Vườn xưa”, mà là “Khu vườn Xanh” của hôm nay và mai sau. Thơ Tế Hanh sẽ vô cùng hạnh phúc được sống cùng cây xanh, cùng dòng sông “Nước xanh trong soi tóc những hàng tre” qua nhiều thế hệ không chỉ người Quảng Ngãi, mà còn là người Việt ở cả hai miền Nam Bắc. Và những người Việt đang sống ở nước ngoài.

Xin trân trọng giới thiệu bài thơ Vườn xưa của nhà thơ Tế Hanh, một trong những nhà thơ được người Việt yêu mến nhất:

Vườn xưa

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua

Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về anh hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thĩ gọi anh về

Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

1957

 Thanh Thảo/Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hồn xuân trong thơ Hồ Chí Minh
Nhà thơ Trung Quốc Viên Ưng đã nhận định sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một trí tuệ lớn, một dũng khí lớn, một tâm hồn lớn”.
Xem thêm
“Trung thực và quả cảm” trong sáng tác và phê bình văn học, nghệ thuật
Bài viết của nhà thơ Mai Nam Thắng trên Văn nghệ số 4/2024
Xem thêm
Nguyễn Quang Thiều với ‘Nhật ký người xem đồng hồ’
Bài viết của Nguyễn Văn Hòa về tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều
Xem thêm
Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời
Nguồn: Báo Văn nghệ số 4, ra ngày 27/1/2024.
Xem thêm
Dòng kinh yêu thương
Tháng 8 năm 1969, chương trình Thi văn Về Nguồn góp tiếng trên Đài phát thanh Cần Thơ vừa tròn một tuổi. Nhân dịp nầy, cơ sở xuất bản về Nguồn ấn hành đặc san kỷ niệm. Đặc san tập họp sáng tác của bằng hữu khắp nơi, với các thể loại như thơ, truyện, kịch… và phần ghi nhận sinh hoạt văn học nghệ thuật ở miền Tây trong một năm qua. Trong đặc san này, chúng tôi in một sáng tác của nhà thơ Ngũ Lang (Nguyễn Thanh) viết ngày 24/8/1969, gởi về từ Vị Thanh (Chương Thiện), có tựa đề “Đưa em xuôi thuyền trên kinh Xà No” Hơn nửa thế kỷ trôi qua với bao nhiêu biến động, ngay cả tác giả bài thơ chắc cũng không còn nhớ. Xin được chép lại trọn bài thơ của anh đã đăng trong Đặc san kỷ niệm Đệ nhất chu niên Chương trình Thi văn Về Nguồn, phát hành vào tháng 8 năm 1969.
Xem thêm
Minh Anh, người đánh thức thế giới
từng chữ từng chữ/ rơi vào từng dòng từng dòng/ chúng chụp lấy những khoảnh khắc/ đẹp não nùng/ không thể rời khỏi con tim/ cách duy nhất để tự nó đừng nở rộ quá mức/ vượt khỏi ký ức của ta/ là hãy viết xuống (Sự kỳ lạ của nghệ thuật viết).
Xem thêm
Ta sẽ không như cốc trà nguội cuối ngày
Bài viết của Nguyên Bình về tập thơ Vọng thiên hà của Hoa Mai.
Xem thêm
Con người Chí Phèo
Cái chết của Chí phèo như bản cáo trạng về xã hội thực dân nửa phong kiến thối rữa, nhàu nát, là tiếng kêu oan khốc thấu tận trời xanh của những kiếp người “siêu khổ”.
Xem thêm
Nguyễn Ngọc Hạnh - Hồn thơ reo mãi phía làng
Bài viết của Hoàng Thụy Anh và phóng sự ảnh của Nguyên Hùng
Xem thêm
‘Bút chiến’ thời Tự Lực Văn Đoàn
Trước khi được giải Lý luận phê bình của Hội Nhà văn năm nay thì “Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do” đã được chú ý trong cộng đồng đọc. “Câu chuyện cũ nhưng cách tiếp cận mới, khảo tả công phu, chưa kể những dẫn chứng “đấu đá” hậu trường văn chương, đọc rất vui”, độc giả bình luận.
Xem thêm
Khối đa diện “Mộng đế vương”
Nhà văn Nguyễn Trường chọn xứ đạo ở Cồn Phụng của ông Nguyễn Thành Nam, đạo vừa vừa, gọi là Đạo Dừa
Xem thêm
Hồn quê trong một sắc thơ miệt vườn
Nhà thơ Kiên Giang (1929-2014) - đúng ra năm sinh: 1927 - tên thật Trương Khương Trinh (bút danh khác: Hà Huy Hà, Ngân Hà, Trinh Ngọc, Cửu Long Giang…, gốc người làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là Kiên Giang).
Xem thêm
Góp... tìm tên cho “Khúc vĩ thanh 109” của Nguyễn Phúc Lộc Thành
Khúc vĩ thanh 109 Nguyễn Phúc Lộc Thành và nỗi băn khoăn của Lê Xuân Lâm
Xem thêm
An Bình Minh: Im lặng sống - Im lặng... viết
Nguồn: Thời báo Văn học & Nghệ thuật
Xem thêm
Tâm hồn tinh tế bẩm sinh của “Chàng thơ” Xuân Diệu qua thi phẩm Vội Vàng
Đôi đồng tử của “chàng” nhấp nhánh như ánh sao, đen và sâu không đáy, ẩn mờ sau bờ mi màu sẫm tuyệt vời, ánh lên những đốm lửa vui tràn đầy sinh lực. Viền tóc mềm mại chảy lửng lơ trước vầng trán toát lên vẻ hồn nhiên, tinh nghịch. Tính tinh tế của tâm hồn thể hiện qua nét môi đỏ mọng như hoa anh đào. Những nếp gấp nơi khóe miệng, nơi hàng lông mày biểu đạt sự phong phú của nhiệt tâm. Chàng là Xuân Diệu, người nồng và trẻ nhất trên chiếu thơ đương thời. “Chàng” đã đưa cái nồng, thắm, dào dạt vào thế giới thi ca vốn tẻ lặng, bình yên này. Sức xuân đang ca hát, nhảy múa trong tâm linh “chàng” một thoáng mê đắm như muốn níu kéo lòng người. Vội Vàng là phút giây bừng sáng nhất của tình yêu trong tâm hồn thi nhân, sự cao đẹp từng khoảng khắc đó, vĩnh cửu qua một đời người.
Xem thêm
Nàng xuân trong thơ Minh Đan
Nhiều thi ảnh độc đáo hiện lên trong thơ Minh Đan rất thật và đậm chất ái tình khi đối diện với tình yêu và cuộc sống.
Xem thêm
Im lặng sống và thông điệp nhân sinh
Im lặng giờ đây không còn là sự sợ hãi mà là để lắng nghe hơi thở cuộc sống, đón nhận những điều tốt đẹp của ngày mới, để những người đã mất được siêu thoát, an yên.
Xem thêm
Ảnh tượng ánh trăng trong thơ Hàn Mạc Tử
Khi “tiếng khóc” Tình già – Phan Khôi chào đời Thơ Mới, cho đến lúc trái bom cách mạng thực sự bùng vỡ dữ dội và làm sụp đổ thành trì nền chữ nghĩa bút tre mực tàu, thì chúng ta đã được chứng kiến một làn gió tân thời, thổi vào không khí thơ, một nhánh kênh xanh hòa vào dòng sông văn học.
Xem thêm
Một tinh thần Nghệ, một bản lĩnh Nghệ
Trường ca “Hốc Chọ” hấp dẫn tôi ngay từ những câu đầu tiên.
Xem thêm