TIN TỨC

Giỗ bạn - Bút ký Trần Ngọc Phượng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-11-28 17:12:06
mail facebook google pos stwis
1908 lượt xem

Mọi năm vào ngày 27/7 hoặc 30/4 anh em bạn lính hay tập trung về nhà anh Khảm Long Khánh để họp mặt và làm mâm côm giỗ bạn. Những năm gần đây trên bàn thờ đặt thêm con heo quay. Giỗ chung cho tất cả bạn bè đã hy sinh trong chiến tranh Bao nhiêu người đã bỏ mình trong rừng sâu, chết vì đánh nhau với giặc, chết vì pháo bầy B52, vì bị địch càn quét , phục kích, chết vì sốt rét ác tính, vì cây đè lũ cuốn… 

Ảnh minh họa

 

 Hương khói bay

Con heo quay cúng bạn

Chỉ thương nó một thời bom đạn

Ngày ra đi chưa được bữa ăn no.

 

Mọi năm vào ngày 27/7 hoặc 30/4 anh em bạn lính hay tập trung về nhà anh Khảm Long Khánh để họp mặt và làm mâm côm giỗ bạn. Những năm gần đây trên bàn thờ đặt thêm con heo quay. Giỗ chung cho tất cả bạn bè đã hy sinh trong chiến tranh Bao nhiêu người đã bỏ mình trong rừng sâu, chết vì đánh nhau với giặc, chết vì pháo bầy B52, vì bị địch càn quét , phục kích, chết vì sốt rét ác tính, vì cây đè lũ cuốn… Mọi người lần lượt đến thắp nhang thầm gọi tên bạn mình. Mỗi nén nhang đốt lên lại hiện lên bao khuôn mặt thân quen, mà thời gian không thể nào xóa nhòa.. Bạn nhìn mình, mờ ảo trong khói đạn vẫn trẻ trung như ngày nào, nửa như khoan dung nửa như trách móc. Quên sao được những người bạn đã chết thay mình, chết cạnh mình, chính tay mình chôn cất, đã để lại bao nhiêu kỷ niệm còn ghi trong trong những trang nhật ký vàng ùa.

Năm 65 mình về C thông tin của E5 (Q5) F5 (Công trường 5). Tiểu đoàn 605 đi B của mình được bổ sung cho Trung đoàn thành Tiểu đoàn 3 và được giao đánh trận đầu tiên ổ ngã ba Ông Đồn. Mình đáng lẽ được cử mang đài đi phối thuộc, nhưng vì mới vào sốt rét nên anh Thành được cử đi thay. Trận này bên ta phục kích tiêu diệt được chi đội 13 xe bọc thép, nhưng toàn bộ Ban chỉ huy trận đánh gồm ông Thiệu Tiểu đoàn trưởng và anh Thành cùng tổ đài bị hy sinh vì bom địch oanh kích, không lấy được xác. Mình mới chỉ gặp anh Thành một lần, còn chưa nhớ mặt người đã chết thay mình.

Giữa mùa mưa năm 66, trung đoàn mình hành quân đánh nhau với lính Úc ở Long Tân Bà Rịa. Trong các đồng mình của Mỹ, lính Úc là thiện chiến nhất. Trận đánh rất ác liệt , trong mưa trời và mưa pháo bom tầm tã. Đài báo mình nói ta thắng lớn tiêu diệt gần tiểu đoàn lính Úc. Còn mình trong cuộc thấy anh em mình hy sinh nhiều lắm, Tiểu đoàn 3 của mình bị thương vong gần hết. Mình tìm hiểu mấy chục năm sau mới thây trên báo Cựu chiến binh Trung ương có bài viết về trận này với tiêu đề "Trận đánh chưa thành công,  do không hiểu địch". Ngày họp mặt sư đoàn 5, mình hỏi một thượng tá già về tiểu đoàn 3. Ông ta nói tiểu đoàn 3 thời anh, người sống chỉ còn đếm trên đầu ngón tay thôi và bây giờ già yếu cả rồi không có ai đến dự. Năm 2004 mình có đến thăm bảo tàng chiến tranh của Úc (Australian War Memorial). Trong bảo tàng có trưng bày hình ảnh kỷ vật các cuộc chiến tranh của Úc, trong đó có nói đến trận Long Tân Bà Rịa. Năm 2016 kỷ niệm 50 năm, Chính phủ Úc có đề nghị Chính phủ  mình cho các cựu chiến binh của Úc thăm lại chiến trường xưa.

Năm 67 đài mình được bổ sung cho A20 làm nhiệm vụ liên lạc nhận vũ khí từ các tầu không số ở bờ biển Bình Châu Hồ Tràm Bà Rịa. Đơn vị biên chế gọn nhe, ngoài Ban Chỉ huy do anh Hai Bình cán bộ tập kết phụ trách, còn lại là các anh em trinh sát quê tại địa phương. Lúc này địch bố ráp rất dữ. Tổ trinh sát do anh Hai Bình phụ trách bị phục kính giữa bãi cát trắng Hồ Tràm. Máy bay địch bao vây tứ phía Anh em chiến đấu đến người cuối cùng. Anh Hai Bình bị địch bắn chết, bêu xác phơi nắng mấy ngày. Dân thương đến lấy xác về chôn. Sau hòa bình mai táng tại nghĩa trang Xuyên Mộc. Gia đình mấy chục năm sau mới tìm thấy mộ vì khi vào nam anh lấy tên con là Bình làm biệt danh của mình. Bãi cát Hồ Tràm nơi các anh hy sinh, bây gờ mọc lên tổ hợp casino cao cấp phục vụ cho người có tiền. Đoàn CCB mình đến thăm chỉ đứng nhìn bên ngoài.

Dũng quê Thanh Hóa cơ yếu hy sinh cạnh mình trong trận càn của địch xuân Mậu Thân 68. Sau đợt pháo bày, mình quay lại thấy Dũng còn đứng trơ trơ nhe răng cười ở miệng hầm Mình vừa la vừa chạy đến. Thì ra mảnh phào đã xuyên đúng tim của Dũng. Mình chỉ kịp vuốt mắt cho Dũng rồi tay lại nhăm nhăm khẩu súng để chuẩn bị đón địch. Mấy phút trước anh em còn dặn nhau không để tài liệu máy móc rơi vào tay địch, mỗi người chuẩn bị cho mình quả lựu đạn để tử thủ.

Trong quyển sổ tay nhật ký ngày ấy còn ghi lại bài thơ thương nhớ bạn với câu thơ mộc mạc;

Dũng chết rồi Dũng không còn nữa

Tim không đập và ngực không còn thở

Dũng chết rồi có phải thật không?

"Nét mặt đây máu vẫn tươi hồng

Mắt nhắm lại, hiền lành như giấc ngủ

Mình bàng hoàng  không thể nào tin được

Dũng bỏ mình đi không nói đến một lời.

....Từ nay mỗi dòng sông ta qua

Mỗi con  đường ta bước

Sao xót xa lòng ta muốn khóc

Dũng thân yêu ,Dũng chẳng còn đâu".

Chiến tranh sống nay chết mai, nhiều khi xem cái chết cũng là chuyện bình thường. Mỗi ngày rơi rụng một ít. Rồi lần lượt cũng đến lượt mình. Nghĩ vậy càng thấm đạo lý tình nghĩa sống ở trên đời. Đón vị mình có anh Chước. Trước khi đi bộ đội anh làm thầy cúng. Anh rất tin phong thủy, tướng số.. Trước hôm ra trận , anh dứt khoát không ăn cơm khê dù đang bị đói. Anh cho rằng ăn cơm khê sẽ bị sui xẻo Chi đoàn đem ra họp phê bình anh mê tín dị đoan. Anh không nói gì Ít lâu sau trong trận chống càn anh hy sinh khi xung phong đi đầu dẫn đường.

Và đây Nguyễn Thanh Tề, đồng đội kiên cường, người bạn, ngưới em đồng hương thân yêu. “Nhớ chiều em ra đi , trước lúc lên đường, em chay đi chạy lại rộn rã. Vẫn khuôn mặt vui nhôn, thỉnh thoảng lại nheo mắt cười tinh nghịch. Em đi giầy, tay áo xắn cao. Sức sống thanh xuân tràn đầy trong đôi mắt tự tin. Người chiến sĩ trinh sát như em đã quen đi đầu, xông xáo trong mũi tên hòn đạn. Cái chết đã đùa dỡn với em mấy lần đó sao. Bom Mỹ đã vùi em, trực thăng đã dí em, rải đạn chi chí quanh người em . Có kỳ em đi đưa thư 5, 6 ngày không về, ở nhà ai cũng lo lắng sốt ruột.

Nhưng nào em có chết. Em trở về và đáp lại lòng mong mỏi sốt ruột của mọi người vẫn là nụ cười. Nụ cười anh không bao giờ quên được, nụ cười trên khuôn mặt sạm đen bám đầy đất cát. Nụ cười từ cõi chết .Thế là hôm đó đơn vị có gì đem ra liên hoan hết".

Đọc lại những dòng nhật ký mà rưng rưng nước mắt. Anh gặp em vào mùa mưa năm 73, khi em được bổ sung làm lính trinh sát của Tiền phương cánh 1. Một cậu tân binh trẻ măng, hồn nhiên vui nhôn, hát chèo rất hay, mang dáng dấp của đồng quê chiêm trũng. Những lúc rỗi rãi em thường sang bên anh, nằm chung võng kể chuyện quê hương, nghêu ngao  mấy câu cò lả, xẩm soan.

Nhiều lần thoát chết trở về, anh em lại quây quần bên ấm trà, có gì đem liên hoan hết. Mọi người lại sôi nổi hò hét vui đùa. Không ai nghĩ và nói đến cái chết làm gì. Thỉnh thoảng anh cũng nhắc em phải chú ý cẩn thận vì bom đạn chẳng chừa một ai. Em nheo mắt cườii, lý sự lại : Con người có số bom đạn tránh mình, mình tránh chúng sao được. Này nhé chúng mình dễ gì chết.

 -Rừng mênh mong như vậy bom ném chưa chắc rơi vào cứ

- Vào cứ thì sao?

-Nếu vào cứ chưa chắc đã trúng hầm

-Nếu trúng hầm chưa chắc đã bị thương

-Nếu bị thương chưa chắc đã chết

-Nếu chết chưa chắc đã mất xác

Anh em hỏi dồn Nếu mất xác thì sao?

Bí quá cậu ta trả lời;  Thì còn các tương đài và nấm mộ vô danh.

Rồi Tề đã hy sinh vào một chiều mưa tháng 6 năm 73. Anh bị địch phục kích khi dẫn đoàn cán bộ vượt lộ 14. Không lấy được xác.

Mình cảm xúc viết bài thơ bên nấm mộ vô danh

 

BÊN NẤM MỘ VÔ DANH

Tặng hương hồn em Thanh Tề

Thắp nhang lên

Thấy em hiện về

Nheo mắt cười tinh nghịch

"Chúng mình dễ gì chết

Bom đạn tránh mìn, Mình tránh chúng làm chi"

 

Buổi chiều em ra đi

Mưa giăng giăng ngoài lộ

Áo sắn tay

Tiểu liên quàng trước cổ

Em hiên ngang đi trước hàng quân..

 

Em ngã xuống

Tư thế tiến công

Trong trận đánh kẻ thù động gấp bội

Xác để lại bên cánh rừng lầy lội

Buổi chiều hoang tê tái mưa sa

 

Mấy chục năm qua

Đồng đội gắng công

Mẹ cha ta khó nhọc

Vái bốn phương trời

Chưa tìm thấy mộ em

 

Đất nước mình mênh mông

Cong cong hình chữ S

Làm sao anh đi hết

Vạn nấm mộ vô danh

Ngàn tượng đài liệt sĩ

Sao lúc hiện về, em không chỉ

Nấm mộ nào là nấm mộ của em

 

Chỉ thấy em về

Nheo mắt cười tinh nghịch

"Chúng mình dễ gì chết

Nếu chết rồi dễ gì mất xác

Mất xác rồi, còn nấm mộ vô danh".

Trần Ngọc Phượng

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm