TIN TỨC

‘Mật mã’ Lê Nhi: Mang chợ vào thơ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-15 10:42:34
mail facebook google pos stwis
2220 lượt xem

Khét

 Tôi bắt gặp Lê Nhi từ những bài thơ đăng trên trang web của Hội Nhà văn Việt Nam, sẽ không có gì đáng nhớ hay đáng nhắc đến nếu những bài thơ đó không có gì đặc sắc thì hẳn sẽ “quên ngay sau khi đọc”, thơ Lê Nhi đã cho tôi một khía cạnh mới là: Chợ.

Có người từng nói rằng: Thơ Việt ta nhìn đâu cũng thấy ruộng đồng, quê hương. Điều này đã làm tôi băn khoăn, vì quả thật như thế. Đôi lúc tôi cũng chán chê những vần thơ quanh quẩn ruộng lúa sau nhà, chái bếp, vì thật ra cuộc sống ta đâu chỉ có một màu như thế, nhưng để mang chợ vào thơ là điều không dễ dàng, đơn giản vì nó thô, ít thơ. Với Lê Nhi thì khác, có lẽ cô là một mảnh ghép của thơ mà ta đang thiếu, như cô từng định nghĩa mình theo cách rất thật thà nhưng cũng rất chợ:

tôi biết lừa lọc

tôi biết hờn dỗi

tôi biết nói điêu

buộc vào tôi

kẻ chợ!

(linh hồn)

Và hiển nhiên, tập thơ Mật mã này cũng đầy màu sắc, màu sắc phơi bày theo con chữ, những quần, những áo bày la liệt trên các gian hàng đợi người ghé qua cân, đo, đong, đếm. Ai bảo đồ vật vô tri vô giác khi những mưa nắng ngột ngạt trên mái tôn, rì rầm nơi góc phố? “nóc chợ đang nói chuyện với tôi/ về khuôn đời mang hình hài diêm dúa// một đôi giày lỗi mốt// tôi thấy tôi mọc dưới vệt đường// cõng những phom hiện đại đính cườm xanh đỏ” (chạm chân người)


Bìa tập thơ “Mật mã” của Lê Nhi.

Thơ Lê Nhi gá mình cho phố. Những tưởng nơi ồn ào đấy sẽ che lấp được sự lẻ loi, nhưng không, cảm thức cô đơn lại càng xâm chiếm, nó ăn mòn dần tâm hồn cô, càng nhộp nhịp đông vui lại càng hoang lạnh. Lật từng trang Mật mã, tôi lại càng nghĩ đến một con người cô độc lọt thỏm giữa chợ. Ở đấy, tất cả đều có thể ngã giá, đổi chát, nhưng ta lấy gì để đổi một linh hồn? – Hẳn nhiên không ai bán, cũng chẳng ai cần mua, và hơn nữa, ít ai muốn khơi gợi đến nó. Tất cả đều thúc giục sự le lói trong tâm thức cô bật thành tiếng kêu, tiếng kêu ấy thảng thốt giữa chợ mà không một ai nghe:

khi không nổi loạn đươc

đêm giãy giụa dưới đáy ly không thốt lên lời

sao chiếc son môi còn hân hoan dưới  kệ

sao chiếc váy hai dây mỏng manh cấu cào

 

tôi với tay xé nát mình trong chiếc gương trần tục

cái bóng cười khanh khách vào mặt tôi

(đi vào chiếc gương)

Tự thấu mình là thế, như làm sao để thoát ra, khi chúng ta, ai cũng ít nhất một lần bị “cầm tù” mà không hay biết! – Giải thoát là điều cần kíp, cũng như những người làm thơ, đôi lần chối bỏ mình, phân tách mình ra, ngồi đối diện với nó, chất vấn nó, phân trần nó, van nài nó,… để được sống! Cô ấy cũng không ngoại lệ: “thành phố không em nữa/ mùa vỡ oà/ ngác ngơ/ ôm bao nhiêu tan vỡ gom lên chữ/ tôi thừa” – (thừa).

Cô thấy mình về với quê cha đất tổ, với mạ non sông bãi, bỏ lại xác xơ lều chợ và bỏ cả những lương duyên lỡ lầm con gái như lúa chưa nõn xuân thì lại nhọc nhằn chát mặn đời nhau: “như đôi bồ câu cuộn nhau trên gối/ như màu váy tôi liệm cuộc tình hấp hối// làm vợ/ làm dâu/ lãi tiếng thở dài”.

Mật mã là tập thơ tận tụy hướng nội. Những bài thơ cứ tuôn trào theo cảm xúc, mà chính tác giả cũng không kìm nén được, những câu dài ngắn không theo quy luật, như nước mắt bung vỡ, đan xen vào nhau không cách nào rứt ra, các bài, câu thơ là một dòng chảy, tự nhiên găm vào lòng tôi khi đọc… Tôi cũng tự hỏi mình ta sẽ bấu víu vào đâu khi xung quanh là mênh mông, bề bộn? – Về, may thay ta còn một nơi để trú ngụ trong cơn khủng hoảng lòng mình, như Lê Nhi bộc bạch: “mấy mươi năm làm thằng hùng hổ// cõng tôi tạ tội trước làng”. Có lẽ, điều đó cũng làm cô vươn dậy sau những u buồn dằng dặc, vô chừng. Và tên tập thơ là Mật mã, điều này nói lên một khát khao mãnh liệt cần được sẻ chia, thấu hiểu.

Tuy nhiên, khi ta đã đặt mạch nguồn 35 bài thơ của tập này vào bước đi trong lòng tác giả, chúng ta đều hiểu rằng: Ở một khoảng nào đó quá lâu, người ta sẽ quên bẵng đi ngoài kia những tia nắng sớm còn đang ấm. Và hướng đi của thơ cũng ít có ngoại lệ. Khi Lê Nhi ươm hồn mình, đắp lên những ý niệm trong tâm thức và mải mê khai hoang nó, tôi sợ, cô có thể bỏ lỡ thứ gì đó tươi đẹp ngoài sân. Như nỗi sợ của người viết là giẫm lại bước chân mình, và sáng tạo luôn là những cuộc đào thoát xưa nay!

Đến đây thì thật lòng tôi muốn cô bay, như chúng ta thơ bé, ai cũng từng có một cánh diều đứt dây. Nên hãy cứ như loài bồ công anh trước gió, cảm xúc thì không cần phải xếp hàng, hãy bay, hãy viết bất cứ gì cô muốn, để cho những hạt bồ công anh hồn nhiên nảy mầm!

Sài Gòn, tháng 6/2022

K.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm