TIN TỨC

Ý kiến bạn đọc: Rành mạch

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-03-13 07:47:19
mail facebook google pos stwis
3981 lượt xem

Ý KIẾN BẠN ĐỌC
(Về truyện ngắn Di cảo của cha - Nguyễn Trường)

LÊ THANH HUỆ

Mũi tên thời gian

Cho đến nay, chưa có công cụ nào hỗ trợ để loài người thoát ra được cách nhìn thời gian vận hành từ quá khứ đến hiện tại và sẽ xuôi về tương lai (gọi là mũi tên thời gian) với tốc độ hiện có của hệ quy chiếu trái đất. Chỉ có các nhà văn sử dụng thủ pháp xoay chiều mũi tên thời gian và vận tốc của nó trong các tác phẩm văn học.

Truyện ngắn “Di cảo của cha” (Báo Văn nghệ số 4+5+6 - Tết Nhâm Dần) nhà văn Nguyễn Trường tuân thủ nguyên tắc mũi tên thời gian, nhưng dùng thủ pháp lồng ghép tác phẩm trong tác phẩm với không gian: cuộc hành trình của người cha cách đây hơn 30 năm từ làng quê đến bản Giàng, mang con chữ về cho người Thái, người Mường ở các bản: Giàng, Mê, Trận.

Cuộc hành trình thứ hai, của người con (cũng là nhà văn) sau khi người cha mất và cũng cùng không gian đó với đích đến là bản Giàng để thẩm tra lại bút ký Lên vùng cao” của người cha (nhà văn có phong cách viết mang đậm chất dân dã) với di nguyện xóa bỏ “…đốt đi”.

Bút ký Lên vùng cao” được người cha viết vào cuối đời và mang đậm mầu sắc hồi ký, gần với tự truyện. Bút ký ghi lại hành trình của người cha, cùng đoàn đi bộ giữa núi đồi hùng vĩ và hoang sơ, mất 2 ngày, từ phòng giáo dục huyện biên thùy Lang Chánh mới lên đến xã Yên Khương.

Được đi xe khách, hành trình của người con chưa đầy ngày, nhờ bút ký nên cảm nhận được “con người chặt rừng, mở phố, đuổi rừng già vào tận những dãy núi cao xa xa kia”. Không còn thấy núi rừng hùng vĩ, hoang sơ, mưa nguồn, gió núi lung linh như trong bút ký của người cha …

Từ Yên Khương lên bản Giàng, thầy giáo chạy bộ một mình theo lối mòn quanh co, vượt núi đồi mông muội, để tránh ngủ đêm giữa rừng nguyên thủy, không bị hổ báo xé xác. Trong cơn sốt rét rừng, giữa đêm đen, thầy giáo phải bỏ lối mòn, chạy tuông qua các bụi gai để đến ánh lửa hồng tỏa ra trong một căn nhà đơn độc cheo leo trên sườn núi, tá túc qua đêm.

Đến bản Giàng, không biết tiếng Thái, thầy chật vật mở lớp dạy cái chữ đồng thời với việc tự học tiếng Thái, cùng làm rẩy, lên nương với dân bản và được dân bản cáp đôi với cô Tỵ “người đẹp rực rỡ nhất bản mới xứng với thầy giáo người Kinh”.

Đây chính là nút thắt buộc người con phải bám theo hành trình người cha để xác minh lại mối tình và nếu có, tìm lại anh em ruột thịt cùng cha khác mẹ, cũng là khẳng định lý do cha mình có di nguyện xóa bỏ bút ký lung linh được ông cụ viết bằng tất cả tâm huyết, trí tuệ vào lúc chạng vạng cuộc đời.

Người con và bạn mình đi mất một ngày bằng xe máy phân khối lớn cài số nhỏ từ từ bò lên theo đường trôn ốc. Nhiều đoạn đường cao thăm thẳm, quanh co, gấp khúc, xe cứ gầm rú, tung bụi mù mịt bò từng thước một”.

Hai hành trình cách nhau hơn 30 năm đã đến cùng bản Giàng, không chỉ là địa điểm mà khung cảnh được kéo gần lại với nhau: cảnh vật, hạ tầng (đường sá, nhà cửa, sản xuất) lạc hậu, khó khăn, gần giống như đoạn đầu của bút ký, khi thầy giáo lên mở chữ, cứ như do tốc độ khác nhau, thời gian đã chập lại ở nơi đây…

Người con trút được gánh nặng do nhận ra cô Tỵ trở thành bà Tỵ, vẫn còn vương nét đẹp tuổi xuân thì nhưng không có chuyện yêu thầy giáo vùng xuôi như bản làng cáp đôi, so đũa.

Nhưng gặp phải một vấn đề lớn hơn sức tưởng tượng: Bản Giàng trong bút ký của người cha hiện tại đã phát triển huy hoàng có mức sống cao với rừng quế do anh May trồng để khai thác, “trang trại nuôi bò thịt của cô Tỵ” bản làng có điện lưới, đời sống, rất cao.

Là nhà văn, người con có thể đổi bút ký Lên vùng cao” thành thể loại Truyện ngắn, sẽ thành tác phẩm ngợi ca thành quả do con chữ mang lại cho bản Giàng. Nhưng như vậy, lại rơi vào ngộ nhận “cái chữ” sẽ làm nên chuyện phi thường, không cần thời gian, mồ hôi, thất bại, gian khổ để đổi đời…

Thời gian thực

Con tàu du hành trong không thời gian (không gian và cả thời gian) sẽ đi qua những vùng có vận tốc thời gian nhanh hoặc chậm hơn thời gian của trái đất do đó cần tính toán, hiệu chỉnh thờ gian trên con tàu về thời gian của trái đất gọi là thời gian thực, để điều hành.

Nếu chọn thời gian hiện tại là điểm khởi hành, thời gian nơi đến là tương lai gọi là du hành không gian. Nếu điểm đi và đến trùng nhau trong quảng thời gian rất dài, ta sẽ du hành về quá khứ  hoặc đến tương lai của cùng vị trí, gọi là du hành thời gian. Tác giả Nguyễn Trường kết hợp cả hai loại hành trình gọi là không thời gian (di chuyển trong cùng không gian và cả trong chiều thời gian).

Có vẻ do quỹ thời gian có hạn nên người cha chọn thời gian cho điểm đến là bản Giàng thời tương lai xa, lúc đã đuổi kịp mức độ phát triển của miền xuôi.

Người con không thể tính toán, hiệu chỉnh về thời gian thực nên mọi chuyện trở nên rắc rối.

“…Trên kệ có nhiều sách Anh văn ...và ngoài nước gáy dày cộp”. Giá sách là biểu trưng cho một phần nhỏ kiến thức, nhưng chưa đủ để tạo ra công thức hiệu chỉnh thời gian người cha về thời gian thực của người con. Và do thiếu kiến thức để hiệu chỉnh thời gian nên cả cha và con đều có những hành động khác nhau để cùng làm nên chủ đề của truyện ngắn:

Đoạn tuyệt với trang viết lãng mạn, lạc quan phi thực tế:

Việc nhà văn già di nguyện đốt bản thảo bút ký Lên vùng cao là thái độ dứt khoát đoạn tuyệt với cách viết này lúc lâm chung.

“Tác phẩm viết với chủ nghĩa lạc quan thời cha đã sống và cống hiến, rất hợp với thể chế, sẽ dễ được các báo in ấn chăng?”. Đó là câu hỏi, cũng là lý giải của người con để độc giả phần nào thấy được khó khăn của thế hệ cha ông cầm bút. Thực tế cách mạng lúc đó đòi hỏi những tác phẩm lạc quan, cách mạng để động viên quần chúng ra trận và nó thực sự có ích, nhưng kéo dài qua thời bình, xây dựng đất nước, sẽ phản tác dụng.

Rành mạch

“Tóm lại, Trở lên vùng cao của cha chỉ có nửa sự thật ở phần hồi ức, còn phần hiện tại trở lại cảnh cũ người xưa là sản phẩm tưởng tượng. Có lẽ thành ý của cha tôi mơ ước vùng cao đổi mới, người người tiến bộ, nhà nhà giàu có mà viết như trên”.

“Ngay cả phần không thực cũng đã hé lộ nhiều điều có thực, vì con đã thấy giá sách trên nhà bà Tỵ. Một thế hệ người dân tộc có học vấn đang lớn lên, phải chăng là nhân quả từ lớp thầy giáo đầu tiên đem cái chữ lên với người dân bản”.

Đánh giá của người con cho thấy sự thẩm định mang tính kế thừa. Khẳng định lại: thế hệ những nhà văn theo chủ nghĩa lạc quan là những người tâm huyết với non sông, đời sau vẫn tìm được phần giá trị để tận dụng và phát huy. 

Thực hiện di huấn

Truyền thống người Việt: thực hiện di huấn hoặc không thực hiện nếu di huấn sai.

“Con sẽ biên tập lại và tìm cách in để mọi người hiểu tại sao, bằng cách gì con chữ lên được vùng cao, tạo ra sự thay đổi đến tận gốc rễ tư duy của bà con dân bản”.

Với nguyên tắc đúng: “phải tìm ra sự thật mới được vinh danh”.

Đó chính là chủ đề của truyện ngắn (mang sắc màu lung linh của miền biên thùy đang tàn tạ, phôi phai vì sự tăng trưởng đơn thuần mà không gắn liền với phát triển bền vững) mà tác giả gửi gắm đến độc giả:

Hãy tạm gác lại tình cảm với tiền nhân mà mình yêu thương kính trọng để dùng suy nghĩ rành mạch, xét lại, tìm ra sự thật, thấy rõ đúng sai; từ đó mới có cơ sở gạn đục, khơi trong trước lúc vinh danh; khiến cho sự tôn thờ trở nên đúng đắn và được đời sau chấp nhận.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm