TIN TỨC

90 năm giở lại bài thơ ‘Tình già’ của Phan Khôi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-07 11:30:47
mail facebook google pos stwis
3141 lượt xem

Lâu nay, có 2 sự nhầm lẫn về bài thơ “Tình già” – được xem là tác phẩm mở đường cho Thơ mới, của học giả, nhà thơ, nhà báo Phan Khôi.

Đó là thời điểm bài thơ được công bố và hình thức của bài thơ. Bên cạnh đó, là nghi vấn về câu chuyện thực để bài thơ ra đời.

Qua những bài viết từ hai người con của ông – Phan Thị Mỹ Khanh (Phan Thị Miều) và Phan An Sa, những góc khuất của bài thơ này dần được “vén màn”.


Nhà văn Phan Khôi cùng người vợ thứ hai Nguyễn Thị Huệ và hai con: Phan Nam Sinh, Phan An Sa.

Về nguyên bản bài thơ “Tình già”

Hầu hết những bài viết về bài Tình già đều cho rằng bài thơ này được đăng lần đầu tiên trên tờ Phụ nữ tân văn ra ngày 10/3/1932. Như bài viết “Tình già” của Phan Khôi là thơ mới? của tác giả Lê Quang Thái đăng trên số đặc biệt của tạp chí Sông Hương tháng 9/2014 ghi: “Báo Phụ nữ tân văn số 122 ra ngày 10/3/1932 đăng bài thơ ‘Tình già’ của nhà nho tân tiến Phan Khôi (1887 – 1959). Khoảng hơn 8 tháng sau, tuần báo Phong hóa đăng lại bài thơ dậy sóng ấy vào số báo tết năm Quý Dậu, ngày 24/1/1933”.

Năm 1941, Hoài Thanh và Hoài Chân trong bài tổng quan giới thiệu cuốn Thi nhân Việt Nam, viết về sự kiện xuất hiện bài thơ này như sau: “Nhưng một ngày kia, cuộc cách mạng về thơ đã nhóm dậy. Ngày ấy là ngày 10 Mars 1932. Lần đầu tiên thành trì thơ cũ hiện ra một lỗ thủng. Ông Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận”.

Tuy nhiên, trong bài viết “Phần hồn & phần xác bài thơ Tình già” (sách Tôi với Thầy tôi, Phan Khôi – NXB Đà Nẵng, 2021), tác giả Phan An Sa cho biết: “Vào năm 2009, nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân phát hiện: bài báo Một lối ‘thơ mới’ trình chánh giữa làng thơ của Phan Khôi – trong bài có đăng kèm bài thơ Tình già – lần đầu tiên được đăng trên Tập văn mùa xuân của báo Đông Tây số Tết Nhâm Thân 1932, ở Hà Nội. Cũng bài báo này và bài thơ này, nhưng bản đăng ở báo Phụ nữ tân văn số 122 ngày 10/3/1932 trong Sài Gòn, muộn hơn khoảng một tháng, lại bị Sở kiểm duyệt yêu cầu đục bỏ mất trên một trăm từ, cụ thể là bỏ hết những đoạn nào, từ nào nhắc đến bài Dân quạ đình công của Phan Khôi gắn với phong trào xin xâu, kháng thuế ở Trung kỳ đầu năm Mậu Thân 1908 (…). Năm đó, ngày mồng 1 Tết Nhâm Thân, nhằm ngày 6/2/1932, vậy nên bài Tình già được công bố lần đầu tiên ít nhất là một tuần trước đó”.

Phải chăng, do tờ Phụ nữ tân văn lúc đó có ảnh hưởng lớn, bài thơ Tình già được đăng trên báo này đã dẫn đến những tranh luận về Thơ mới, nên gây ra sự nhầm lẫn như trên? Đây là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu.

Về tính nguyên văn của bài thơ Tình già, tác giả Phan An Sa cho rằng hầu hết các bản lưu truyền hiện nay đều khác rất xa với nguyên mẫu.


Tư liệu về thời điểm đăng báo và nguyên văn bài thơ “Tình già” được Phan An Sa nói rõ trong sách “Tôi với Thầy tôi” – Phan Khôi (NXB Đà Nẵng, 2021).

Mối tình ngang trái được chôn kín?

Trong bài Phan Khôi tự truyện đăng trên Đông Dương tạp chí số Xuân năm 1939, nhiều chi tiết hé lộ cho ta liên tưởng đến căn nguyên ra đời của bài thơ này. Trong cuốn Nhớ cha tôi – Phan Khôi (NXB Đà Nẵng, 2017), bà Phan Thị Mỹ Khanh dẫn theo truyện này: Năm 1908, vì bị tình nghi tham gia phong trào kháng sưu thuế Trung kỳ, Phan Khôi bị bắt đi tù tại nhà lao Hội An. Một ngày, ông được viên quan võ hàng tứ phẩm trông coi nhà tù điều ra nhà viết câu đối. Ở đó, ngoài quan cai tù ra, có “một thiếu phụ còn trẻ lắm, trạc tuổi tôi, người trắng trẻo, khuôn mặt trái xoan, cả đầu lẫn cổ quấn cái khăn nhiễu điều ngồi bên kia sập” mà sau “nghe mới biết người ấy là bà Ch. vợ ông”.

Sau khi người thiếu phụ ấy rót rượu cho ông uống để có cảm hứng viết, thì “Bấy giờ tôi thấy dễ chịu, hươi cây bút như rồng bay phượng múa, hết đôi này đến đôi khác, càng viết càng tốt. Người thiếu phụ cứ đưa con mắt theo ngòi viết tôi”. Sau bữa ấy, người thiếu phụ cảm mến người viết chữ, nên nhờ người tù mang gói nhỏ gồm trầu, cau… nói là của bà Ch. gửi ông. Người tù này tiết lộ: “Lâu nay tôi phục dịch hằng ngày trong nhà ông Ch. và tôi đã được tin cậy nên bà Ch. có đem tình riêng ngỏ với tôi nhiều lần. Bà nói bà thấy thầy thì thương lắm, hôm nay gởi vật nhỏ mọn làm tin, mong ngày khác thầy cho bà gặp để nói chuyện…” (trích Phan Khôi tự truyện).

Đem cái tự truyện trên mà gán ghép với căn nguyên ra đời của bài thơ Tình già, thì là sự gượng ép. Nhưng ở đây có mấy chi tiết thể hiện rõ mối tình ngang trái như trong tự truyện: “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng (…)/Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung”. Hay: “Người thiếu phụ cứ đưa con mắt theo ngòi viết tôi; chỉ nhìn nhau mà hai chúng tôi còn sợ tai tiếng, không dám nhìn no nê”… làm ta liên tưởng đến hình ảnh rất gợi: “Con mắt còn có đuôi”. Và đặc biệt, từ năm 1908 đến 1932, khi bài thơ đăng báo, đúng là “hai mươi bốn năm sau”!

Trong bài viết “Phần hồn & phần xác bài thơ Tình già”, Phan An Sa nhận định: “Cái mới của phần hồn bài Tình già là lần đầu tiên bài thơ công khai miêu tả tình yêu tự do nam nữ, không bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến, thậm chí vượt cả ra ngoài luật pháp, vượt cả ra ngoài đạo nghĩa vợ chồng…”.

Luận bàn về thơ, Phan Khôi cho rằng: “Đại phàm thơ là để tả cảnh tự tình, mà hoặc tình hoặc cảnh cũng phải qui cho chơn. Lối thơ cũ của ta, ngũ ngôn hay thất ngôn, tuyệt cú hay luật thể thì nó bị câu thúc quá. Mà dầu có phóng ra, theo lối thất cổ, như bài Dân quạ đình công đây, cũng vẫn còn bị câu thúc. Hễ bị câu thúc thì nó phải mất cái chơn đi, không mất hết, cũng mất già nửa phần.

Tôi nhìn thấy trong thơ ta có một điều đáng bỉ, là bài nào cũng như bài nấy. Cứ rủ nhau khen hay thì nó là hay, chứ nếu lột tận xương ra mà xem, thì chẳng biết cái hay ở đâu. Như bài Dân quạ đình công đó, chỉ nhờ có đem việc đình công là một việc mới ra mà tả, việc ấy lại là hiệp với… người đời nay, thành thử người ta ưa, chớ coi kỹ thì nó cũ quá, thiệt tình chẳng phải hay gì.

Bởi vậy tôi rắp toan bày ra một lối thơ mới. Vì nó chưa thành thực nên chưa có thể đặt tên kêu là lối gì được, song có thể cử cái đại ý của lối Thơ mới này ra, là: Đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vận, mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết”.

Đó là lý do Phan Khôi “trình làng” bài thơ Tình già.

Nhân dịp bước sang năm mới 2022 – tròn 90 năm bài thơ Tình già của Phan Khôi được trình làng, khởi xướng cho dòng Thơ mới trên bầu trời thi ca Việt Nam, dẫn lại một vài chi tiết để bạn đọc thêm một lần nữa tham khảo.

Bài thơ Tình già được Phan An Sa dẫn lại nguyên văn về nội dung và hình thức với 10 câu như sau:

Tình già

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh kề nhau than thở:

– “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng;

Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”

– “Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?

Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung”

Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau;

Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!

Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! Con mắt còn có đuôi!

Anh Quân/Thanh Niên

Bài viết liên quan

Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm