TIN TỨC

Mùa Xuân trong thơ Dương Xuân Linh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-02-02 08:37:34
mail facebook google pos stwis
1839 lượt xem

PHÙNG HIỆU

Chùm thơ về mùa xuân của nhà thơ Dương Xuân Linh không chỉ là những bài thơ về mùa Xuân truyền thống, mà còn là những bức tranh đa chiều, phong phú, đan xen giữa không gian quê hương và thế giới, giữa những xúc cảm cá nhân và những giá trị văn hóa lớn lao. Mỗi bài thơ là một chuyến du hành về thời gian và không gian, từ Sài Gòn đến Paris, từ những khoảnh khắc giao mùa đến những suy tư về cuộc đời, tình yêu và quê hương.


Nhà thơ Dương Xuân Linh

Nhà thơ, đại tá Dương Xuân Linh nguyên Phó cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường. Cả đời anh gắn bó với ngành công an qua nhiều chức vụ và nhiệm vụ, đặc biệt là nhiệm vụ phòng chống tội phạm về môi trường. Nhìn bề ngoài có vẻ như anh cứng rắn và nghiêm khắc phù hợp với công việc phòng chống tội phạm. Nhưng không, khi trò chuyện và tâm sự với anh ta mới thấy bên trong anh là một tâm hồn thi ca dào dạt và chứa đầy cảm xúc. Đọc thơ anh ta mới thấy được cái hồn thơ luôn bay bổng, lãng mạn, du dương và đa cảm.

Trong những bài thơ viết về mùa xuân mà anh gửi cho tôi, bài thơ “Hồn văn hoá Việt” mang một không khí rất thiêng liêng của mùa xuân, nhưng không chỉ là mùa xuân của đất trời mà còn là mùa xuân của văn hóa, của lịch sử dân tộc. Đoạn thơ mở đầu với hình ảnh về “mùa xuân” như một vòng quay của đời người, với những lần được và thua, nhưng cuối cùng vẫn là sự trân trọng, vững vàng trước những thử thách:
“Đời người trọn mấy mùa xuân/ Mấy lần đánh mất mấy lần được thua.”

Tuy nhiên, thông điệp sâu xa mà Dương Xuân Linh gửi gắm trong bài là sự kết nối giữa văn hóa Việt và thế giới, đặc biệt là khi anh nhắc đến việc đón xuân tại Châu Âu với hình ảnh tuyết rơi, du lịch, và những nét văn hóa khác biệt. Bài thơ là sự khẳng định rằng dù văn hóa có biến chuyển, có tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nhưng cái hồn của văn hóa Việt vẫn trường tồn, bất diệt, như một món quà mừng xuân đầy ý nghĩa. Điều này được thể hiện qua câu thơ cuối cùng đầy tự hào:
“Hồn văn hoá Việt ngàn năm sao vàng…”

Anh có thể làm thơ khi để định hướng cho 1 dự án, anh cũng có thể làm thơ khi anh đang đi trên đường, khi đang dự một sự kiện và cả khi anh đi du lịch, thế nên bài thơ “Tình yêu bão ngược” là một bài thơ viết về một đêm giao thừa cô đơn ở Paris, nơi mà mùa xuân không chỉ là mùa của thiên nhiên mà còn là mùa của những tình cảm lạ lẫm, xáo trộn. Hình ảnh Paris trong đêm Noel được miêu tả thật thơ mộng nhưng cũng đầy cô đơn, khi nhà thơ một mình thả bước trên đại lộ Champs-Élysées, đắm chìm trong ánh đèn màu. Đây là nơi mà “trăng trốn nơi đâu ẩn hiện chị Hằng,” nơi mà tình yêu bão ngược đến và chiếm lấy trái tim người yêu một cách bất ngờ và mãnh liệt:
“Dẫu biết rằng đã cuối dốc cuộc đời/ Nhưng cận kề em tâm hồn rạo rực/ Tình yêu đến vô cùng bạo ngược/ Chiếm buồng tim không gõ cửa bao giờ.”

Mùa xuân trong bài không chỉ là mùa của hy vọng và khởi đầu, mà còn là mùa của những cảm xúc mãnh liệt, bão táp, thể hiện qua tình yêu không thể cưỡng lại, một tình yêu đến “vô cùng bạo ngược.”


Nhà thơ Dương Xuân Linh (trái) tặng nhà thơ Phùng Hiệu 3 tập thơ vừa in.

Nhà thơ Dương Xuân Linh có nhiều năm công tác ở Sài Gòn, từng giữ chức vụ Trưởng công an phường, rồi Phó công an quận, anh có nhiều kỷ niệm đáng nhớ và có nhiều bài thơ viết về Sài Gòn, nhưng tôi thích bài thơ “Sài Gòn vắng em”. Bài thơ mở ra một không gian xuân vừa quen thuộc, vừa xa lạ. Cảnh vật Sài Gòn trong những ngày Tết cổ truyền được vẽ lên với hình ảnh những vườn mai vàng, đêm giao thừa tưng bừng lễ hội, nhưng trong đó vẫn văng vẳng một nỗi nhớ thương da diết:
“Ai tìm ai trong đèn màu mắt phố/ Những lâu đài cổ kính ngói cong rêu/ Những công trình Sài Gòn thay áo mới/ Phố lung linh cao ốc chọc trời…”

Dù Sài Gòn với những công trình hiện đại, những lễ hội tưng bừng, vẫn khiến người ta cảm nhận được hơi thở xuân, nhưng nỗi nhớ quê hương và tình yêu thương vẫn chiếm lĩnh tâm hồn người viết. Bài thơ còn khắc họa sự đối lập giữa không gian Sài Gòn tấp nập và cảnh tuyết phủ trắng xứ người, nơi người xa quê trải nghiệm cảm giác lạ lẫm nhưng cũng đầy thương nhớ.

Mùa xuân không chỉ đến từ bên ngoài, mà quan trọng hơn, là xuân từ trong tâm hồn mỗi người, khi họ biết trân trọng và phát huy sức mạnh của bản thân:
“Dựa chính mình là đỉnh cao đích thực/ Nhân phẩm đức tài anh minh trí lực/ Không thể ai ban do tự dũa rèn.”

Tôi nghĩ, bài thơ này là một thông điệp rõ ràng về sự tự lập và sức mạnh nội tại của mỗi người. Trong bài thơ, mùa xuân không chỉ là sự khởi đầu của một năm mới mà còn là sự khẳng định về sức mạnh cá nhân, về khả năng tự mình vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống.

Và trong những bài thơ viết về Sài Gòn, đặc biệt là viết về mùa xuân và với bài thơ “Thành phố mùa xuân,” tác giả đã cho ta thấy được sắc thái của ngày xuân, không khí ngày tết ở Sài Gòn – thành phố năng động, trẻ trung và đầy sức sống. Những công trình kiến trúc hiện đại, những con đường hoa văn hóa, và những lễ hội Xuân làm bừng sáng không gian đô thị. Sài Gòn không chỉ là thành phố của phát triển, mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa, là nơi gặp gỡ giữa quá khứ và tương lai:
Kết tinh đường hoa văn hóa mọi miền/ Tết cổ truyền hiện diện trên thành phố/ Sen, mai, đào muôn màu rực rỡ…/ Thành phố mùa xuân căng tràn sức trẻ/ Ấm áp niềm vui bao la tình mẹ.…/ Thả gót thênh thang đại lộ nhân văn/ Ta hãnh diện với niềm tin đổi mới/ Thành phố tên người sử vàng chói lọi…

Bài thơ này khắc họa một bức tranh Sài Gòn hào hùng, tràn đầy sức sống của mùa xuân, với một thông điệp về niềm tin và hy vọng vào tương lai, vào những giá trị văn hóa và truyền thống.

Có thể nói, chùm thơ về mùa xuân của Dương Xuân Linh là một bản hòa ca giữa cảm xúc cá nhân và giá trị văn hóa dân tộc, giữa không gian hiện đại và truyền thống, giữa yêu thương và khát vọng. Mỗi bài thơ là một thông điệp về cuộc sống, tình yêu và quê hương, đồng thời cũng là sự khẳng định niềm tự hào về văn hóa và sức mạnh của con người Việt Nam. Mùa xuân không chỉ là thời gian của thiên nhiên mà còn là mùa của lòng người, một mùa của hy vọng, ấm áp và những khởi đầu mới.

Mùng 3 tết Ất Tỵ 2025.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm