TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Thi pháp trữ tình triết học lập ngôn trong trường ca Phồn sinh của Nguyễn Linh Khiếu

Thi pháp trữ tình triết học lập ngôn trong trường ca Phồn sinh của Nguyễn Linh Khiếu

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-28 16:54:45
mail facebook google pos stwis
2021 lượt xem

Bùi Văn Kha

Văn học phương Tây hiện đại có dạng thơ văn xuôi gọi là trường ca, hay là thơ văn xuôi đều được. Như F. Ra bơ le viết Gargantua và Pantaguel thế kỷ XVI bị nhà thờ quan phương coi là tác phẩm dị giáo, phản đối Giáo hội và Đức tin Cơ đốc giáo hiện hữu. Nên nhớ đây là thời kỳ của Ga li lê, của thần quyền thống trị nhà nước, đức tin và xã hội.

   Nguyễn Linh Khiếu và tập Phồn Sinh

      Hay Lời dâng của R. Ta gor gồm 103 khúc thơ văn xuôi đoạt giải Nobel văn học. Thơ ông là tiếng nói của tinh thần dân tộc và dân chủ sâu sắc, của tinh thần nhân văn cao cả và tính chất trữ tình triết lý nồng đượm. Tác phẩm của ông đậm chủ nghĩa tự nhiên và những chiêm nghiệm không tự nhiên, nhất là khi đọc tập Mây và mặt trời thì xếp vào loại truyện thơ văn xuôi cũng được.

         Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, thơ nhập cuộc không chỉ “Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ/ Hơn nghìn trang giấy luận văn chương” (Tố Hữu), mà còn “Không có sách chúng tôi làm ra sách/ Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh). Có thể dẫn rất nhiều ở trường ca của Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh những năm chiến tranh, của Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, và cả Thanh Thảo nữa thời hậu chiến tranh, những năm trước và sau Đổi mới 1986, và thời kỳ Đổi mới.

         Kể từ năm 2000 trở đi, tình thế và thực tại Việt Nam đã khác trước nhiều. Các nhà thơ có nhiều bối cảnh  để cảm hứng. Có thể cái bi hài của giai đoạn chuyển tiếp đã không còn trọng tâm nữa. Dẫn lời nhà thơ Thanh Thảo: “Những tráng ca thuở trước/ Còn hát trong sách thôi/ Những thanh gươm yên ngựa/ Giờ đã cũ mèm rồi/ Bài ca của chúng tôi/ Là bài ca ống cóng/ Hành trang Quân Giải phóng/ Đơn giản nhất trên đời”.” (bài này viết bắt đầu giai đoạn ba của thơ ca chống Mỹ, khoảng 1972 – 1976, mặc dù kết thúc chiến tranh năm 1975, nhưng do nhiều sáng tác trước 1975 mãi đến năm 1976 mới công bố được!).

         Sang giai đoạn đã khác hơn, chuyển đổi nhiều về nội dung, thơ cần phải hướng tới luận thuyết. Nguyến Linh Khiếu hướng chính của mình vào vấn đề này. Ông bắt tay vào viết Phồn Sinh từ năm 2002 đến năm 2014. Tác phẩm được xuất bản vào năm 2018.

         Nguyễn Linh Khiếu xuất hiện với tư cách nhà thơ và nhà triết học khoảng cuối thế kỷ 20. Sang đầu thế kỷ 21, ở ông, thơ và triết học đã vững vàng lắm rồi. Vậy nên, khi ông viết Phồn Sinh, ông đã có cho mình một định hướng thi pháp. Ta hãy bắt đầu trong Phồn Sinh để lật tìm thi pháp đó.

         Tổng quan của Nguyễn Linh Khiếu trong Phồn Sinh là thi pháp TRỮ TÌNH TRIẾT HỌC LẬP NGÔN! Là nhà thơ và là nhà triết học, ông không thể không sáng tác vừa bằng cảm xúc tình cảm, vừa bằng lý trí thức tuệ. Ông tuyên ngôn cho sự sống ở vùng châu thổ sông Hồng, cái nôi của văn hóa Việt. Nhưng ông không xét đến cái tận cùng hóa học của nó như các nhà triết học tự nhiên. Ông cảm nó vào bộ óc mình để dùng ngôn ngữ trái tim bật ra câu chữ. Câu thơ vì vậy sinh động như một tồn tại kinh nghiệm tự ý thức.

         “ta là nhà thơ của thời đại mình.

Thời đại rực rỡ huy hoàng thời đại chói sáng thời đại vinh quang thời đại sáng ngời đạo đức thời đại văn minh thời đại trí tuệ thời đại văn hóa thời đại tân tiến thời đại của những cuộc đảo lộn lật ngược khủng khiếp bãi biển nương dâu thời đại một ngày bằng hai mươi năm thời đại bất minh… thời đại của những cuộc cách mạng long trời lở đất thời đại của những cuộc cách mạng sắc màu thời đại của những cuộc cách mạng nhưng lụa… những từ điển đẫn máu những thi ca đẫm máu những âm nhạc đẫm máu những hội họa đẫm máu… những ngôn ngữ đẫm máu những… đẫm máu… đẫm máu… đẫm máu.”.

         Thế là hỗn loạn bắt đầu. Sự hỗn độn ấy là cách đặt vấn đề của tư tưởng. Nguyễn Linh Khiếu tiếp tục tư tưởng Đông phương vẽ lại trong tư duy dồn ra cảm xúc ngôn ngữ bức tranh của thời đại mình. (nhân đây tôi cũng phải nói rằng trường ca này vừa thâm sâu vừa đơn giản. vừa suy ngẫm vừa dễ đọc, tùy đối tượng, tùy lúc…).

         Cho nên “ta là triết gia của sự biến đổi

Biến đổi từ con vật thành con người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản từ nến văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp… từ quan hệ vợ chồng sang quan hệ không vợ không chồng… từ quan hệ con người với con người sang quan hệ không phải con người với con người…

Chỉ có ta là nhà thơ của thời kỳ biến đổi tình yêu biến đổi hận thù biến đổi tình thương biến đổi… phồn sinh biến đổi hiếu sát biến đổi… anh hùng biến đổi thi sĩ biến đổi mong manh biến đổi bất hủ biến đổi giây lát biến đổi vĩnh hằng”.

         Giờ ta thấy thơ và phồn sinh xuất hiện. Đây là lúc Nguyến Linh Khiếu quyết liệt tận cùng về phương pháp luận, nghĩa là triệt để cực hạn để bắt đầu bước vào thế giới của mình. Ông triết học để dựng một phủ định khái niệm khi ông tuyên bố ta là triết gia…Ông lập ngôn bằng vai trò nhà thơ của thời kỳ biến đổi. Đến đây, ông bắt đầu Hạ Thương Chu bằng Dịch, nhưng không phải từ Hà đồ Lạc thư, có lẽ là Thái cực của tam đoạn luận triết học Hegel. Là tôi đoán vậy thôi, chứ tôi vẫn nghĩ nghệ thuật vị nghệ thuật đạt đến đỉnh cao là nhân sinh. Nghệ thuật vị nhân sinh đạt đến đỉnh cao của nhân sinh là chính trị. Khúc hai và khúc ba của Phồn Sinh đã thể hiện điều đó. Giải quyết những đỉnh cao này thế nào. Ta chuyển sang khúc bốn.

         Ta xem ông bắt đầu thế giới của mình như thế nào?

 “ngụp lặn và đồng hành trong thời đại mình

Như muôn người ta là một đứa con đích thực

…như muôn người ta là một khuôn mặt một hình hài một chân dung một nhân cách…

chẳng có ai sống ngoài thời đại mình

chẳng thời đại nào tồn tại ngoài những con người đang sống…

những gì của con người đều thuộc về ta

những gì của ta đều thuộc về con người…

khi ta yêu nghĩa là ta đang sống

khi ta ghét nghĩa là ta đang yêu

khi ta ham muốn nghĩa là ta khởi một hành trình…”.

         Nguyễn Linh Khiếu mời ta theo ông để ta thấy con người của thực tại. Ông không nói rõ khoảng lịch sử nào, nhưng ông khẳng định đó là thời đại của ông. Ông bơi trong dòng sông thời đại ấy. Còn cái đã qua ông không nhắc lại. Trong tư duy ông vẽ ra thời đại theo ông là thời bây giờ, nhưng ông không chôn nó đi, mà bơi trong nó. Trước hết, như vậy là ông chấp nhận những bi hài, chứ không tiễn đưa cái bi bằng cái hài. Ông dùng tính phản tư lưỡng cực để phản phác quy chân. Ông đẩy hết độ biên của tư tưởng để trở về với:

“ta là vô vàn thế giới

Là hạt bụi lơ lửng trong vắt giữa trời trong

…là giọt nước xao xuyến đầm đìa mái tóc ai óng ả mượt mà

Là tia nắng mặt trời tươi ngời hồng rực nồng nàn sinh khí thấm nhuồn dòng máu đỏ của ai mỗi ban mai tinh khiết…”. Cũng là trở về với cái đẹp của trinh tuyết. Như vậy là Chân của nghệ thuật rồi.

         Cái Chân của Phồn Sinh là cái Chân trong tư duy. Tư duy này, nói theo triết học, là cái vật chất được đưa vào trong đầu và cải biến đi trong đó. Cho nên, Nguyễn Linh Khiếu đang nói về thời đại mình, một thời đại hỗn loạn. Từ cái hỗn loạn ấy ngoài hiện thực chuyển thành cái hỗn độn trong tư duy, để mà tư tưởng, Tây Tàu tôi không biết, ở Việt Nam hiện nay, duy nhất chỉ có Nguyễn Linh Khiếu!

         Xin được trình bày giọng điệu của Phồn Sinh.

         Phồn Sinh là thơ văn xuôi, phảng phất thể phú, cáo. Nhưng mà là phú cáo của Nguyễn Linh Khiếu dù tôi đồ rằng Nguyễn Linh Khiếu thuộc Bạch Đằng Giang Phú và Bình Ngô Đại Cáo từ rất lâu rồi, có khi còn được mẹ và bà ngâm ru ấy chứ. (Quê tôi ở Thái Bình. Bà tôi một chữ cắn làm đôi không biết, nhưng thuộc làu Truyện Kiều, Phạm Tải Ngọc Hoa, Rắn báo oán, hay Đức Thánh Trần,…Bà hay ngâm ru, kể chuyện đêm khuya trong chiếc ổ rơm khi đêm đông giá rét.).

         Cái thực của phú, cái hiện của cáo được Nguyễn Linh Khiếu đẩy lên một tư thế mới. Nội dung phú cáo ngày xưa thuộc dạng tụng ca. Giờ trong Phồn Sinh thể hiện ra là các mệnh đề. Nhìn Phồn Sinh tưởng không theo cú pháp hiện tại. Thực ra Phồn Sinh chấm phẩy theo hơi thở. Nó đầy dấu phẩy, dấu chấm, ngắt dòng. Chỉ là Nguyễn Linh Khiếu giản lược hình thức cho cái bên ngoài không hoa mắt. Bạn cứ tưởng tượng trong một khúc thơ dài như thế mà cứ ngắt, cứ viết hoa thì khúc thơ thành ma trận, cho nên tôi bảo đọc thơ Phồn Sinh ta cứ như xem tranh nuy, trực tiếp, đơn giản mà tâm hưởng.

         Tôi cho cái liên vần liên ý trong Phồn Sinh có sử dụng Tân hình thức. Nhưng Tân hình thức ở đây là sự phát triển độ rộng của ý và độ dài của tư duy. Tưởng như nhà thơ muốn cái gì cũng ôm vào mình nhưng không phải. Ông muốn tận dụng phép biện chứng của tâm hồn để đẩy cảm xúc lên đỉnh sin. Phồn Sinh không lơ lửng, nửa chừng, hoa trong gương, trăng trong nước. Phồn Sinh phải “Trăm năm tính cuộc vuông tròn/ Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông” (Nguyễn Du). Nguyễn Linh Khiếu, trong chừng mực nào đó, cũng dùng một chút Hậu hiện đại khi ông phủ định và khẳng định lưỡng cực nội dung. Là người đọc rộng biết nhiều Tây Tàu đi khắp, chuyện ảnh hưởng vào bút pháp là lẽ đương nhiên. Vấn đề là các mệnh đề triết học mà Nguyễn Linh Khiếu đưa vào từng câu thơ đều chuẩn và đẹp, “đến từng xăng ti mét”!

         Mỹ học trong Phồn Sinh quả thực là bức tranh bài ca sự sống, là thế giới sự sống phồn thực và ảo mộng vùng châu thổ sông Hồng.

“hơn tất cả ta là con trai của châu thổ sông Hồng cồn cào rạo rực giàn dụa phù sa

châu thổ sông Hồng xứ sở quanh năm suốt tháng tưng bừng những mùa động đực…

châu thổ cái nôi của văn minh sông hồ dầm dề ướt át lướt mướt

châu thổ cái nôi của văn minh lúa nước nôn nao sai cành trĩu mẩy

châu thổ cái nôi của sinh sôi nảy nở cương cứng lồ lộ

châu thổ cái nôi của dồi dào chộn rộn xôn xao tưng bừng thống thiết

châu thổ âm vang tinh thần phồn sinh tràn trề chan chứa đầm đìa tràn ngập thấm thía linh thiêng…”.

         Dừng một chút để nói về cách tu từ của Phồn Sinh. Thơ là phải tu từ, phải “thôi xao”. Nguyễn Linh Khiếu tung hoành như một vị tướng khi sử dụng đội quân tính từ. Có thể nói các loại tính từ  tràn ngập trong Phồn Sinh làm tràn ngập màu sắc, phẩm chất, tính tình, thuộc tính. Mà dùng rất đắt. Mà đâu vào đấy. Đây cũng là mặt mạnh về mỹ học trong Phồn Sinh.

         Nhân vật trong Phồn Sinh là cả một quốc gia Phồn Sinh. Ngoài nhân vật Ta đại diện chủ thể ra, thì cái gì cũng là nhân vật trữ tình. Từ đất đai, sông hồ, biển khơi, bờ bãi cánh đồng , đến cây cối, hoa màu,… đều có hồn, có linh, có tình , có cảm, như người, cá tôm, như vật nuôi, như chim trời, cá nước. trong không gian châu thổ, như:

 “thế gian này mỡ màu là giống cái

Thế gian này mỡ màu là mẹ

Thế giới này tuôn chảy dạt dào dòng mẫu hệ linh văn

Mỡ màu dung dưỡng muôn loài sinh sôi nảy nở

Mỡ màu là sự sống

Mỡ màu là tình yêu

Mỡ màu nghĩa là thiên mệnh…”.

         Bây giờ ta xem đến một phần rất quan trọng của Phồn Sinh. Đó là các mệnh đề được đưa ra.

         Đầu tiên là Tự do (hiếm thấy nhà thơ viết hoa, trừ Sông Hồng, Linh, Tự do và vài từ khác. Linh là kết tinh của tinh thần, của linh hồn và một miền ngoài nào đó, giống cái, là người yêu của nhà thơ, nhưng Linh phải ở sông Hồng, là chủ thể tôn giáo sinh ra từ đất mẹ, đất mẹ Sông Hồng. Chủ ý thật tuyệt!).

“trên xứ sở châu thổ Sông Hồng của ta tinh thần Tự do vô cùng kỳ vĩ

bản chất xứ sở châu tổ Sông Hồng là xứ sở tự do

xứ sở này tự do không gì sánh nổi….

xứ sở này tự do là máu là xương là da là thịt là lông là tóc…là tinh hoàn là buồng trứng là nụ cười là tiếng khóc là mồ hôi là nước mắt

xứ sở này đã ngàn năm tối tăm phương Bắc đô hộ

xứ sở này đã trăm năm nô lệ thực dân phương Tây mắt xanh mũi lõ…

nếu không có một sức sống phi thường

nếu không có một tình yêu vĩ đại

đất nước này đã ngàn lần thay tên đổi chủ

dân tộc này đã ngàn lần bị đồng hóa lai tạo bị diệt chủng…”.

         Ở khúc hai và khúc ba là trình bày lý do ra đời của Phồn Sinh. Các đấng sáng tạo ra đời đều từ Hỗn Độn để cứu thế. Trong thế giới Phồn Sinh, Ta (chủ thể đại diện – nhà thơ chính là người sáng tạo!). Từ khúc mười, Phồn Sinh lại là tự sự sử thi. Nhà thơ bám theo chủ đề nhưng lại nêu những lịch sử đã diễn ra ở đất nước Việt Nam. Có thể nói từ đây, Phồn Sinh tựa vào lịch sử để mà trừu tượng, để mà cảm xúc, để mà triết luận.

         Mệnh đề thứ hai là Dân chủ. Khúc mười ba.

“trên xứ sở châu thổ Sông Hồng thiêng liêng của ta dạt dào không khí Dân chủ

dân chủ là hồn vía của muôn loài

dân chủ là sức sống của vạn vật

dân chủ là tinh thần của xứ sở…”

         Mệnh đề thứ ba là Sự Thật. Khúc thứ mười lăm.

“trên xứ sở châu thổ Sông Hồng của ta không gì cao hơn Sự Thật

Trên xứ sở châu thổ Sông Hồng của ta không có gì sâu hơn sự thật

Trên xứ sở Sông Hồng của ta không có gì rộng lớn hơn sự thật…”

Mệnh đề thứ tư là Giải Phóng. Khúc thứ mười bảy.

“trên xứ sở châu thổ Sông Hồng của ta sục sôi tinh thần Giải Phóng

Giải phóng là bản năng

Giải phóng là lẽ sống…

khi nhà thơ chưa hát được bài ca của mình

nhà thơ đanh bị gông cùm giam cầm trong tù ngục

khi nhà thơ chưa hát được bài ca của mình

cả dân tộc đang rên xiết trong xà lim giam hãm

khi nhà thơ chưa hát được bài ca của mình

cả dân tộc nhẫn nhục quằn quại chờ phút giây vùng lên đồng khởi”.

         Đọc đoạn này sao tôi liên tưởng đến Bài ca chim báo bão của Mác xim Gooc ki quá, nhất là nhớ đến câu “Vinh quang thay sự điên cuồng của những người dũng cảm”.

Bắt đầu từ khúc hai hai, nhà thơ trở về khúc một để lý giải ngữ và nghĩa, bắt đầu cuộc dạo chơi trong các khái niệm. Sau đó, nhà thơ phân thân ra mười hai con giáp TÝ SỬU DẦN MÃO THÌN TỴ NGỌ MÙI THÂN DẬU TUẤT HỢI,

Lại hóa thân vào các con vật , con bay trên trời, con trên mặt đất, con ở trong đất, con ở dưới nước, giống đực, giống cái, vv…

Chính trị lớn nhất là cái Thiện. Sự phân thân, hóa thân của nhà thơ trong Phồn Sinh chính là sự khẳng định sự sống, là cái Thiện được Linh hóa, nói cách khác, cái Thiện đối với Nguyễn Linh Khiếu là linh hồn vật hóa cùng tồn tại. Tồn tại, vì vậy là chính trị cao nhất. Sự lý giải ấy chỉ thơ mới có.

Khúc bảy mốt:

“ta là giáo chủ của phồn sinh giáo

tôn giáo cổ xưa nhất trong các tôn giáo

tôn giáo hiện đại nhất trong các tôn giáo…

đó là tôn giáo được đức linh cao cả sáng tạo đầu tiên trước khi sáng tạo vũ trụ

ta truyền giảng những lời kinh khởi thủy

ta truyền giảng những lời kinh sáng thế…

bất cứ cái gì sinh sôi nảy nở đâm chồi nảy lộc nở hoa kết trái thụ phấn thụ thai giao hợp chửa đẻ sinh sản tốt tươi héo khô tàn lụi đều thuộc tôn giáo phồn sinh

tất cả những gì sinh diệt đều là tín đồ phồn sinh giáo…”.

Tôi đọc đến khúc một trăm năm mươi của Phồn Sinh, cũng thấy bình thản đón nhận một quan niệm nhân sinh. Tôi khẳng định Nguyễn Linh Khiếu không khó đọc. Chỉ là những chấp niệm trong lòng có đồng cảm với Phồn Sinh.

Thi pháp trữ tình triết học lập ngôn là chủ đạo trong Phồn Sinh. Nhưng trong Phồn Sinh có cả phép hiện thực, cả lãng mạn, cả tự sự, cả trữ tình…  Với tôi, đây là cách tiếp cận Phồn Sinh, cũng là cách tôi hiểu Nguyễn Linh Khiếu trên bình diện tư tưởng. Theo tôi, đây cũng là sự đóng góp lớn nhất của Nguyễn Linh Khiếu với thi ca Việt Nam 20 năm đầu thế kỷ XXI.

Tôn giáo phồn sinh của Nguyễn Linh Khiếu, xét đến cùng là cảm xúc nhân linh. Thơ ông tôn vinh tinh thần, nhưng tinh thần ấy được vật thể hóa. Muôn loài vật sống ấy có thể là bất cứ cái gì trong không gian của ông. Trong không gian ấy, đến đất, nước, lửa, gió, lôi, mây, cây, khoáng chất đều sống, đều có linh như con người, như sinh vật. Hiểu được điều ấy rồi, ta càng tôn trọng cách lập thuyết của ông. Nguyễn Linh Khiếu đã luyện ngục trăm lần để giúp chúng ta đến xứ sở của châu thổ Sông Hồng của ông, để cùng Phồn Sinh tôn trọng sự sống, tự do, dân chủ, sự thật, giải phóng, để mà hòa vào muôn loài đực cái vào mùa động đực mà sung sướng giao hoan những gì bản thể nhất.

Hà Nội, mùa Thu năm 2023.

B.V.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm