TIN TỨC

Viết để xương máu đồng đội không bị lãng quên

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-04-13 20:45:33
mail facebook google pos stwis
273 lượt xem


Các tướng lĩnh dự Tọa đàm về tác phẩm của Đại tá nhà văn Nguyễn Văn Hồng
Ảnh: Nguyên Hùng.

 

Như tin đã đưa, vào sáng 12/4/2024, Hội Nhà văn TPHCM vừa tổ chức Tọa đàm về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Văn Hồng. Văn chương TP. Hồ Chí Minh sẽ chọn đăng một số tham luận được viết cho sự kiện này. Sau đây là bài viết của nhà văn Trầm Hương về tiểu thuyết "Pailin thời máu lửa".

TRẦM HƯƠNG

Trong một thời gian dài, vì những vi tế của thời cuộc, cuộc chiến biên giới Tây Nam và phía Bắc ít được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông. Tuy vậy, trong tâm thức những người lớn lên sau chiến tranh vẫn in sâu những mất mát, đau thương cuộc chiến này. Vết thương hai cuộc kháng chiến chưa lành, còn hằn dấu trên quê hương những hố bom sâu, nước mắt những người mẹ khóc con ngã xuống ở mọi miền đất nước chưa kịp khô, đất nước lại tứ bề thọ địch. Nhiều người anh, người chị, người bạn của tôi lại viết thư bằng máu ra đi. Nhiều người không về, thân xác gởi lại chiến trường K hay biên cương phía Bắc. Một số trở về trong hình hài xơ xác vì sốt rét, trong tang thương khi mất đi một phần thân thể... Tôi nhớ những năm 1980, học Đại học Cần Thơ, thi thoảng trên phố chứng kiến những chiếc xe chở thương binh trở về quân y viện 108, tim tôi thắt lại trước những thương binh chống nạng với những cánh tay, chân cụt gõ những âm thanh khô khốc, nhức nhối xuống mặt đường... Những hình ảnh, âm thanh ấy cho đến giờ vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Lúc ấy, cuộc sống dù còn nhiều khó khăn do cơ chế quan liêu bao cấp trói buộc và bị cấm vận nhưng tôi vẫn cảm nhận mình thật may mắn khi được ngồi trên giảng đường đại học, trong khi nhiều anh chị phải ra mặt trận, đương đầu với gian khổ, bom đạn, mất mát.

Dù muốn hay không, những tác phẩm viết về chiến tranh biên giới vẫn lần lượt ra đời. Người viết là thế hệ những nhà văn đã dày dặn trận mạc, hết trải nghiệm hai cuộc trường chinh giữ nước giờ lại có mặt ở chiến trường mới với sứ mạng cao cả của đoàn quân tình nguyện giúp người dân Campuchia thoát họa diệt chủng hay trấn thủ bảo vệ biên cương phía Bắc, thế hệ lính mới hay những người lớn lên sau chiến tranh chứng kiến và cảm nhận những hy sinh mất mát từ người thân, bè bạn của mình. Làm sao không viết khi có quá nhiều những người con gái, con trai trẻ măng bị bứt lìa khỏi quê hương, nằm lại vĩnh viễn trên đất bạn. Làm sao không viết khi mới có mấy năm, xương máu bạn bè tôi dường như không được nhắc đến... Trong âm thầm, dòng văn học về chiến tranh biên giới vẫn âm thầm chảy trong lòng người. Nỗi đau bị dồn ứ và khi bộc lộ trong tác phẩm, nỗi đau bộc phát, nhân lên gấp nhiều lần khi được đọc. "Pailin thời máu lửa" là một tác phẩm văn học ra đời trong dòng chảy thầm lặng mà dữ dội ấy. Phải hơn 20 năm, sau ngày bộ đội Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, quyển sách mới được viết xong và gởi đến đọc giả...

Đại tá nhà văn Nguyên Văn Hồng, người con trai Hương Sơn, Hà Tĩnh khoác áo lính, vào chiến trường miền Nam chiến đấu từ năm 1965. 10 năm vùng vẫy ở chiến trường Quân khu V ác liệt, bàn chân người lính di chuyển dần về phương Nam. Ông là một trong những chỉ huy trung đoàn bộ binh, sớm có mặt trong haiu cánh quân trực tiếp giải phóng thành phố Vũng Tàu. Ông là nhân chứng vừa là người viết nên lịch sử bi tráng ngày 30 tháng 4 năm 1975: "Có ai biết được rằng, trong giờ phút cả nước đang hòa chung niềm vui khi thành phố Sài Gòn - Gia Định đã được giải phóng, thì tại khách sạn Palace, thành phố biển Vũng tàu đang diễn ra trận đánh đẫm máu giữa một lực lượng của tiểu đoàn 6 Trung đoàn bộ binh 12 với mọt nhóm tàn binh sỹ quan quân đội Sài Gòn cố thủ trong khách sạn, chống tar3 đến cùng. Đây là trận đánh cuối cùng trên hướng Đông Nam của chiến dịch sau 12 giờ trưa nhga2y 30-4-1975 đã cướp đi sinh mạng của 17 chiến sỹ Quân giải phóng và 2 thanh niên địa phương".

10 năm khoác áo lính, mãi đến tháng 11 năm 1975, ông mới được hưởng kỳ nghỉ phép đầu tiên của đời lính. Lúc đó, con người nhà văn đã hình thành, nung nấu trong ông - một thiếu tá, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn bộ binh 2: "Trên đường về quê, tôi đã có dịp hồi tưởng lại những chặng đường chiến đấu đã qua trên dải đất nóng bỏng của chiến trường khu 5 trong những năm dài chống Mỹ, đã có biết bao đồng chí, đồng đội tôi đã ngã xuống, không được hưởng ngày vui trọn vẹn như tôi hôm nay. Qua chiếc Radio Cassete, tôi nghe đi nghe lại bài hát "Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh" mà rạo rực trong lòng..."

Hòa bình, về thăm quê, chưa kịp cưới, nghĩ là có thể đã cởi áo lính để sống đời thái bình, kể chuyện "Nguyên phong" nhưng đất nước chua yên, ông lại nhiệm vụ truy quét Fulro, lại ngược ra phía Bắc, rồi năm 1982, trở thành Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh 309 trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Giới thiệu 3 tập sách hàng ngàn trang của ông, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã nhận định thật xác thực:  "Tác phẩm của Đại tá – Nhà văn Nguyễn Văn Hồng trung thực và sống động bởi các sự kiện trong tác phẩm mà chính tác giả là người trong cuộc và cũng là nhân vật trong các câu chuyện. Vì vậy, sức hấp dẫn của tác phẩm Nguyễn Văn Hồng rừng rực không khí mặt trận, chân thực đến trần trụi và khát khao sống, cháy bỏng lòng yêu nước của người lính cầm súng chiến đấu"

Tôi tâm đắc với nhận định ấy. Nhưng khi đọc "Pailin thời máu lửa", trong tôi tràn ngập cảm giác biết ơn ông. Vậy là từ cảm xúc "rạo rực" viết nên cái gì đó trên đường về quê hương sau ngày hòa bình, ông đã sống, chiến đấu, nung nấu để viết ra những gì được rút ra từ máu và nước mắt của ông và đồng đội, chiến sĩ trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Mãi đến năm 2000 ông mới cho ra hồi ức "Những năm tháng không quên". Và tiếp theo là những tiểu thuyết, tập truyện ký, bút ký...; ông kiên trì, bền bỉ viết. Đó là cách người lính già Nguyễn Văn Hồng kể chuyện "Nguyên Phong". Chuyện "Nguyên Phong" kể mãi vẫn không hết nhưng chuyện gây ám ảnh dữ dội trong tôi là sức công phá của mìn. Số thương binh Việt Nam tăng bất thường cũng chính vì thứ vũ khí hủy diệt tàn độc và nham hiểm ấy: "Phía trước, tổ trinh sát vẫn kiên trì, lặng lẽ làm cái việc nguy hiểm, có thể tan xác sau một tiếng nổ, nhưng vẫn phải làm là mở một lối đi từ dưới chân núi lên đỉnh, chỉ rộng nửa mét thôi mà từ sáng đến giữa trưa mới lên  đến nơi. Đồng thời, lần này các anh lại một lần nữa đi tìm tiểu đội trưởng trinh sát Mai, hy sinh lần trước, có thể hài cốt đang ở đâu đó tại khu Mỏ Vẹt... Dọc đường, cơ man nào là mìn. Những trái mìn KP2, K58 màu xanh "ốc bươu" bị trinh sát vặn cổ, vứt rải rác hai bên lối đi. Vì sao gọi là K58 và KP2 (?). Nhiều người có đầu óc suy luận cho rằng: thời điểm người ta sản xuất loại mìn K58 (có thể từ con số 5.8), dân số Campuchia có 5 triệu tám trăm ngàn người, Pôn Pốt tuyên bố sẽ đánh Việt Nam đến người Campuchia cuối cùng. Còn KP2 có anh lại nói: sau khi "diệt chủng" thành công, Khơ me Đỏ chỉ cần 2 triệu người "trong sạch" để đi lên Chủ nghĩa xã hội... Có thể lắm. Ngoài những suy luận đó thì trời mới biết được cái nhãn mác của những "trái nổ giết người" kia chúng mang ý nghĩa gì..."

Nhưng ở chiến trường K nào đâu chỉ có KP2, K58 mà còn có mìn chống gỡ giấu trong "điều bí mật của cái công nghệ giết người xấu xa và thâm độc của kẻ thù"; mìn nhảy, mìn đạp nổ... Những loại  mìn chỉ làm mất một chân, có loại mất hai chân, có loại làm tan xác... Mìn địch gài khắp nơi, ở những nơi không ai ngờ đến. Và toàn bộ "Pailin thời máu lửa" mìn hiện hữu khắp các trang viết: "Ngô Xuân Mạnh, Trung đoàn trưởng còn nhớ, khi đặt chân lên mặt tra75n này, bốn bề đều là địch, đi đâu cũng gặp chúng. sáng dậy, xuống suối lấy nước, anh nuôi loáng thoáng thấy mấy tên du kích áo đen vút qua trước mặt như những bóng ma, biến vào vườn cà phê mất hút, khi xuống bờ suối thì đạp phải mìn. Dọc các trục đường trong khu đổ nát của thị trấn, đâu đâu cũng có mìn: dưới gốc cây, bên lu nước, cạnh nhà vệ sinh... Đúng như Trần Duy Chiến đã viết trong cuốn nhật ký: "Mỗi chiếc chân đi gập ghềnh chiếc bẫy/ Mìn nổ vang rền thịt nát xương bay..."

Chỉ có người trong cuộc mới đủ sức miêu tả một người lính dính mìn làm tan nát lòng người đọc: "Chiến sĩ Nguyễn Văn Thạnh đang loay hoay chọn một vị trì để làm công sự bên một mô đất, cạnh gốc cà phê thì đạp phải trái mìn KP2. Cả cái thân hình gần 70kg đổ ụp xuống như câyu chuối bị phạt ngang, máu tươi tuôn ra thành từng vũng nhuộm đỏ một khoảnh đất, một chân lìa khỏi gối, chân kia lủng lẵng nhờ một mảng da. Đôi chân vạn dặm đã đi từ mặt trận Đông bắc sang vùng đất tận cùng này hàng ngàn cây số, qua nhiều phum Sok, bản làng, vượt qua bao suối sâu, đèo cao dốc đứng truy kích địch tháo chạy "có cờ". Thế mà nay Thạnh phải để lại đôi chân ấy dưới lớp đất đỏ Pailin".

Không chỉ thân xác mà bao đôi chân đã gởi lại đất bạn, Những quả mìn đã cướo đi bao cuộc đời, bao khát vọng, ước mơ những người tuổi trẻ, như nỗi đau Tống Xuân Lai diễn ra trong tích tắc, sau khi anh cố ghi lại vẻ hùng dũng của khẩu DKZ75 trên cao điểm 321: "Bỗng một tiếng nổ kinh hoàng phát ra dưới chân, đất đá và lho1i bụi đùn lên như chiếc phễu lật ngược, khiến Lai đổ vật xuống trước khẩu ĐKZ75, máu phun ra ướt hết hai ống quần. Một chân bị tiện đứt đến đầu gối, ném ra xa mấy mét... Đột ngột quá, Lai không kịp la lên một tiếng, nằ ngất lịm. Mấy cậu pháo thủ chạy tới, tập trung tất cả bông băng để bịt dòng máu tươi đang phun ra xối xả trên đôi chân của Phó tham mưu trưởng, Anh được đưa ngay về trạm xá Trung đoàn 3 tại trung tâm thị trấn Pailin. Cái nghề "phó nháy" của Tống Xuân Lai phải "giải nghệ" từ hôm đó...". 

Là người chỉ huy, ông có cái nhìn thật thấu đáo gian khổ của người lính: "Tiểu đội Chiến trùm áo mưa, mỗi người dựa vào một gốc cây hay ụ mối giữa chốn rừng sâu. Chiếc áo mưa rách nát, nước len lỏi vào lưng, vào ngực, xuống rốn ướt hai ống quần, chân tay tê cóng, nhức buốt, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Cả tiểu đội cứ đứng thế, chống báng súng xuống đất, đưa tay vuốt mặt. Lũ vắt rừng từ dưới lớp lá mục, bắt được hơi người tranh nhau đi tìm mục tiêu để tấn công. Những con vắt màu vàng sẫm thấn công phía dưới, những chú vắt lá màu xanh từ những bụi cây hai bên đường nhanh chân bám lên ba lô, lên áo mưa đột nhập vào người tìm kiếm những chỗ kín, tấn công phía trên. Khi cái bụng đã căng đầy máu, chúng mổ miệng tự rơi xuống đất, để lại những dòng máu tươi trên người, chảy mãi không thôi. Máu của người lính hòa vào nước mưa, xuống sông suối, thấm vào đất, tưới cho cây..."

Là người chỉ huy, ông có cái nhìn thấu đáo về những chiến sĩ của mình. Ông yêu chiến sĩ và nhìn ra sự hồn nhiên, phẩm chất cao quý những chiến sĩ của mình, bao dung cả tin, yếu mềm nhưng kiên quyết trước yếu hèn, phản bội. Ông nhìn thấy mình trong hình ảnh những chiến sĩ trẻ hôm nay. Ông dành cho Trần Duy Chiến một tình cảm đặc biệt: "Mình thương mẹ mình lắm! Mang tiếng là anh Hai nhưng mình chưa lo được gì cho mẹ và mấy đứa em. Lúc nhỏ nghịch ngợm, làm khổ mẹ đủ điều, lớn lên vừa cảm nhận được chút trách nhiệm  của đứa con trai thì phải cầm súng ra đi!...".

Những trang viết về Pailin ác liệt, mục tiêu trên mặt trận phía Tây mà địch hướng tới chợt trở nên thật lắng đọng, mềm mại khi ông chạm đến tình mẫu tử thiêng liêng, mối giao cảm của người con trai và người mẹ trong những thời khắc sinh tử: "...Tiểu đội của Chiến mỗi người chiếm cứ một gốc cây và ngồi đó cho hết cái đêm dài lạnh lẽo của vùng biên giới Pailin để canh chừng chiếc xe và một liệt sĩ. Mưa đêm rắc trên tán lá cây rơi xuống ướt áo. Chiến ngồi đó nhìn vào bóng đêm, lòng bồi hồi nhớ mẹ, nhớ các em... Mẹ ơi! Đêm nay con đang ngồi dưới gốc cây lạnh giá trước những họng súng của kẻ thù. Mẹ có biết không, con trai của mẹ..."

Những chàng trai được gởi đến chiến trường K năm ấy thật đẹp đẽ, thật đáng yêu. Nhưng chiến tranh cướp đi những con người ưu nhất, thật giản dị để hiểu vì những con người ưu tú ấy luôn giành phần khó về mình, sẵn sàng lao vào nơi ác liệt nhất. Nhưng ở Pailin, sự khốc liệt còn mang một dáng nét rất riêng, như lý giải của Chiến: "Tại sao những ai được cho là dũng cảm, chịu thương, chịu khó phải "ra đi" sớm thế. Thường là vậy, nhưng có lúc cũng không phải vậyz. Những nơi Chiến từng đi qua, được chứng kiến cái chết đến với bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào, đủ mọi lý do: chết đuối trong mùa mưa, chết khát mùa nắng, chết vì sốt rét ác tính, vì bị rắn cắn, vì ăn phải nấm độc. Nhưng nhiều hơn cả là chết vì mìn vì cạm bẫy của giặc... Thần chết thập thò, ẩn hiện mọi lúc mọi nơi trên cái mặt trận đáng ghét này..."

Những người lính cũng là xương thịt nên mức chịu đựng cũng có giới hạn. Sau những trăn trở, Chiến xác định: "Đời thằng lính chiến không thể dựa vào những lý do mơ hồ để tiến hay lùi. Theo Chiến thì còn sống còn chiến đấu, chết thì về với đất, đố ai trốn được cái chết. Tự dưng sao hôm nay Chiến thấy mình vững vàng đến thế, xem thường cái chết đến thế, cậu mở ba lô, lấy cuốn nhật ký ra ghi nguồn cảm hứng này...  "

Và đúng như dự cảm, Trần Duy Chiến - chàng trai khao khát yêu thương, thích làm thơ trong mọi hoàn cảnh, nâng niu từng con chim non mất mẹ, chắt chiu từng giọt nước cho đồng đội, luôn có mặt ở nơi đầu ngọn sóng đã rơi vào ổ phục kích của địch, hy sinh cùng tiểu đội của mình, trong trận truy kích địch. Những người lính như Chiến quá đẹp. Vì quá đẹp mà khi anh ngã xuống người đọc càng xót xa. Trong vai trò Sư trưởng Sư đoàn 309 và vai trò một nhà văn, Đại tá Nguyễn Văn Hồng đã khẳng định một điều thiêng liêng qua hình ảnh liệt sĩ, người anh hùng Trần Duy Chiến:  Trong cuộc chiến biên giới Tây Nam, có một thế hệ thanh niên Việt Nam vì nghĩa vụ quốc tế, vì sự hồi sinh của dân tộc Campuchia đã ngã xuống ở tuổi đôi mươi căng tràn nhựa sống. Thật cảm động để cảm nhận điều thiêng liêng ấy qua lá thư Trần Duy Chiến gởi về cho mẹ:"Con đứng ở đây tuy xa quê mình hàng ngàn cây số, tuy ở nơi tận cùng của đất nước bạn, chúng con xác định rằng: chiến đấu với kẻ thù ở đây là để bảo vệ tổ quốc mình mẹ ạ".

 Với góc nhìn nhà quân sự, sư trưởng trả lời chắc nịch cho những câu hỏi hoài nghi, phủ nhận của những góc nhìn: "Nếu năm 1979 quân tình nguyện Việt Nam không cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, rồi đẩy bọn chúng lên vùng biên giới này thì rất có thể chúng đã cận kề vùng ven Sài Gòn. Không một ai có lương tâm có thể quên được cái thảm cảnh người dân Việt Nam bị thảm sát dọc biên giới năm 1977...".

Giá trị cốt lỏi của quyển tiểu thuyết chính là sự khẳng định này. Nhưng "Pailin thời máu lửa" còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn. Tác giả còn đưa ra một một trận chiến khác ngay trong lòng đoàn quân tình nguyện. Đó là sự bỉ ổi của kẻ muốn mình nổi lên bằng mưu đồ hạ thấp uy tín của người khác, như hành xử của Chính ủy Trương Thanh Bình với Trung đoàn trưởng Ngô Xuân Mạnh. Anh ta là người phản đối quyết liệt việc tung lực lượng ra bên ngoài truy kích địch, đánh vào hậu phương gây chia rẻ, mâu thuẩn nhằm triệt hạ vị trung đoàn trưởng có chính kiến khác mình. Hậu quả những việc làm của anh ta đã gây tổn thất xương máu cho chiến sĩ...  Tiểu thuyết còn có những trang lãng mạn về mối tình của Trung đoàn trưởng Ngô Xuân Mạnh và Nari - một phụ nữ Campuchia được ông cứu thoát khỏi bàn tay thần chết của quân Pôn Pốt - Iêng Xary. Mối tình ấy kết quả thành đứa con trai Phearat khôi ngô tuấn tú cứ thao thức đi tìm tung tích người cha của mình. Nari - mẹ anh ngã xuống trong một trận quân Pôn pốt từ Pailin tràn xuống giết hại đồng bào...

Mở đầu "Pailin thời máu lửa" là cảnh Phearat lái chiếc Toyota Camry từ Bát Tam Băng vượt hàng trăm cây số, tiến vào thành phố Ph' Nôm Pênl  đi tìm một người cựu binh Việt tên Nguyễn Mộng Hùng để nhờ ông tìm tung tích cha mình - người 30 năm về trước chỉ huy một trung đoàn chiến đấu bảo vệ Pailin, một thị trấn phía tây thị xã Bát Tam Băng... Từ khi chào đời, Phearat chưa từng biết mặt cha, còn mẹ anh đã qua đời...". Mở đầu tiểu thuyết như một truyện phim. Cách kết cấu tiều thuyết giống như một kịch bản phim, với nhiều cảnh tái hiện, lồng ghép quá khứ và hiện tại... Đôi lúc, nhà văn dùng cả ống kính điện ảnh để quan sát những vi tế ngóc ngách đời sống riêng tư của đối tượng quan sát...

Bằng cách ấy, về hình thức, phân đoạn quyển sách nếu được xử lý nhuần nhuyễn hơn, có lẽ tiểu thuyết sẽ tăng tính hấp dẫn điện ảnh và khúc chiếc hơn. Diễn biến tâm lý nhân vật quá nhanh, đúng như chất lính khiến người đọc có chút ngỡ ngàng, hối tiếc. Cách dùng từ vài chỗ chưa thích hợp. Không sao, vì ông là người lính mà. Tuy vậy, khép lại quyển sách, tôi nhận ra "Pailin thời máu lửa" quá sống động. Nếu được đầu tư một kịch bản phim truyện, tôi nghĩ đây là một tiểu thuyết đầy chất liệu phong phú, sinh động để chuyển thể làm phim...

Với hàng chục tập sách kết tinh hàng ngàn trang, người lính già Nguyễn Văn Hồng đã và đang kể chuyện "Nguyên phong" thời hiện đại. Ông đã sống một cuộc đời đáng sống, để lại dấu ấn rực rỡ cả binh nghiệp và văn nghiệp. Và hơn tất cả, người thế hệ sau thấu hiểu tấm lòng ông. Ông bước vào trận chiến chữ nghĩa vì nỗi thôi thúc mãnh liệt: Viết để xương máu người nằm xuống không bị lãng quên.

T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cây có cội, nước có nguồn
Nguồn: Báo Văn nghệ số 19/2024
Xem thêm
Khát vọng Dế Mèn
Sự ra đời của Giải thưởng Dế Mèn cùng với phát ngôn của đại diện Hội Nhà văn Việt Nam đã chạm đến khát vọng lâu nay vẫn nằm đâu đấy trong những người yêu và hiểu rõ hiện trạng văn học thiếu nhi nước nhà…
Xem thêm
Tác giả trẻ chinh phục cuộc thi Thơ Hay!
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm
Thấy gì qua một chùm thơ Tết?
Bài viết của nhà văn Lê Thanh Huệ trên Diễn đàn Văn nghệ của Liên hiệp các Hội VHNT Việt nam
Xem thêm
Cảm xúc hoài hương trong thơ Quang Chuyền
Bài viết của nhà thơ Trần Khoái
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh với Dấu thời gian
Dấu thời gian là tập thơ thứ hai của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh. Ông hiện là Trưởng ban biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, kiêm Trưởng Văn phòng đại diện Thời báo VHNT tại Hải Phòng.
Xem thêm
Khúc biến tấu “Mặt nạ hương”
 Đọc thơ, như là phép hóa thân, tan chảy cảm xúc của mình cùng cảm xúc bài thơ. Người đọc lắng lòng theo con chữ, hòa điệu với nhịp điệu của ngôn từ. Tôi may mắn tìm thấy sự đồng điệu đầy hứng thú khi đọc thơ Nguyễn Thánh Ngã.
Xem thêm
Chỉ còn lại tháng Tư thiếu nữ | Thơ và lời bình
Thơ Mai Nam Thắng - Bình thơ: Phạm Đình Ân
Xem thêm
Người trẻ thử sức với phê bình
Được biết “Những phức cảm phận người” (NXB Hội Nhà văn, 2023) là tập phê bình văn học (PBVH) đầu tay của cây bút Lê Hương, nên tôi đọc với một tâm thế trân trọng và chờ đợi.
Xem thêm
Người chiến sĩ Điện Biên Nguyễn Thiện Thuật - Mùa hoa ban đẹp mãi
Đối với mỗi người Việt Nam chúng ta hôm nay, cái tên Điện Biên Phủ đã như một dấu mốc luôn hiện lên sừng sững mỗi khi nhắc đến. Ai cũng rưng rưng xúc động bởi máu xương của cha anh, của nhân dân đã đổ xuống để làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là không thể đo đếm hết được.
Xem thêm
Những trang văn phảng phất mùi thuốc súng
Bài tham luận của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm
Xem thêm
Di cảo thơ Chế Lan Viên: Khi thơ là thuốc, là lời kinh kệ
Chế Lan Viên là người mà sự nghĩ ngợi vận vào thơ như thể thơ cũng là thuốc, thơ chẩn ra được cái bệnh đau của kiếp người, và “Có vào nỗi đau mới có ích cho người”.
Xem thêm
Cảm hứng sinh thái trong thơ Đặng Bá Tiến
 Là một nhà báo, nhà thơ mấy chục năm gắn bó với vùng đất Đắk Lắk, Đặng Bá Tiến đã sáng tác thành công về thiên nhiên, con người và văn hoá Tây Nguyên với nhiều tác phẩm: Lời chân thành với cỏ (Thơ, 2009), Rừng cổ tích (Trường ca, 2012), Hồn cẩm hương (Thơ, 2017), Linh hồn tiếng hú (Thơ, 2020). Anh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Tây Nguyên đương đại, một nhà thơ “thứ thiệt”[1] có bản sắc riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo. Nổi bật trong sáng tác của anh là những tác phẩm viết về rừng, về sinh thái văn hoá và nhân văn.      
Xem thêm
Sức bền của ngòi bút
Nguồn: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 116, ngày 21/3/2024
Xem thêm
Nguyễn Bính ở phương Nam
Nguyễn Bính (1918-1966), tên thật là Nguyễn Trọng Bính (có lúc tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở Nam Định nhưng sống khắp ba miền đất nước. Ông có phong cách một nhà thơ lãng tử, sáng tác về chủ đề tình cảm làng quê và tình yêu, tổ quốc. Thơ tình cảm mộc mạc của ông được rất nhiều người thuộc. Tác phẩm gồm 26 thi tập trong đó có : + 1 kịch thơ : Bóng giai nhân (1942): + 3 truyện thơ : Truyện Tỳ Bà (1942); Trong bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958): + 1 vở chèo : Người lái đò sông Vỹ (1964) và rất nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được nhạc sĩ phổ thành ca khúc : Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, Quốc Hương ca);  Cô hái mơ (Phạm Duy); Ghen (Trọng Khương), Cô lái đò (Nguyễn Đình Phúc); Chân quê (Minh Quang). Hiện nay, nhiều thành phố có những con đường mang tên ông. Nhà thơ Nguyễn Bính nhận được giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (2000) cùng với Hoài Thanh, Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng, …
Xem thêm
“Đánh thức mình bằng chân lý vô ngôn”
Tôi biết Nguyễn Minh Thuận (nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp Đắk Lắk) làm thơ đã lâu, dễ hơn ba chục năm trước, thỉnh thoảng anh vẫn đọc cho tôi nghe và rải rác anh cho đăng trên facebook Trương Thị Hiền - vợ anh (TS, giảng viên Trường Đại học Tây Nguyên).
Xem thêm