TIN TỨC

Có một “Ngỡ” trong thơ Trần Mai Hường

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-10-28 18:10:09
mail facebook google pos stwis
1359 lượt xem

Tôi bắt đầu nhận ra những trái ngược trong tính cách của con người, đặc biệt là những người đã đem tâm tư và cảm xúc của mình đặt trọn vẹn vào văn chương chữ nghĩa. Thơ muôn đời vẫn là tiếng nói của tình cảm và khi cảm xúc dạt dào thì thơ tự động cũng bật lên. Điều này, có rất nhiều người đã nói nhưng tôi vẫn muốn lặp đi lặp lại. Và cái “ngỡ” của Trần Mai Hường phần nào đã nói lên được điều ấy.

 

Nhà thơ Trần Mai Hường

Tôi tiếp xúc và đến với thơ chị như một sự đồng điệu văn chương rất tình cờ. Chị gửi cho tôi quyển “Ngược đêm” được NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2014 với biết bao xúc cảm được nén được dồn vào trong từng câu chữ từng trang thơ. Thật vậy, như có sức hút lạ kỳ cuốn lấy tôi qua những câu thơ cháy bỏng. Tôi rất thích thơ chị nhưng cái làm cho tôi như một người say loạng choạng trong thế giới ấy là những bài thơ lục bát ngắn. Những bài thơ mà có lần chị tự bảo rằng là “lục bát dở hơi”. Lục bát ư? Thể thơ này đã quá quen thuộc với tất cả mọi người ngay từ thời nằm nôi nghe mẹ hát ru. Nhưng oái oăm, nàng là một thiếu nữ khó tính. Nàng có thể khoác lên người bất kỳ kiểu xiêm y nào từ chất phác hiền lành đến lộng lẫy kiêu sa nhưng để nàng thực sự tuyệt vời là điều vô cùng khó. Cái khó ấy được Trần Mai Hường chế ngự một cách tài tình và khéo léo. Đơn giản là cảm xúc.

“Ngỡ” chiễm chệ ở vị trí thứ sáu trong tuyển tập “Ngược đêm” của chị một cách quyến rũ và đầy hấp dẫn. Trong thời đại ra ngõ gặp nhà thơ như bây giờ thì khó lòng tìm thấy được một người tâm huyết với sân chơi văn chương. Tôi ngán ngẫm với kiểu viết dài, tràn lan với hỗn tạp cảm xúc ở phần đông tác giả thơ hiện nay. “Ngỡ” đã khắc phục được điều đó. Không dài mà đủ dài để người đọc nâng niu lưu giữ. Hãy bắt đầu đi tìm cái “ngỡ” của chị trong bài thơ nhỏ nhắn này.

Mở đầu bài thơ như một sự nhẹ nhàng, một sự êm đềm chấp nhận, nghe mong manh như một lời thủ thỉ với chính mình.

“Ừ xa mình đã xa rồi

ừ quên em cũng giống người đã quên”

Lời thơ như một sự chấp nhận gượng ép làm ta nghe có chút gì tiếc nuối luyến lưu. Nhịp thơ như lôi kéo người đọc đến gần hơn với lối ngắt 2/4 “ừ xa/mình đã xa rồi” bước đầu đã tạo ra sự hấp dẫn hơn so với kiểu ngắt nhịp truyền thống. Đôi lúc tôi bâng khuâng tự hỏi không biết chị có dụng ý này không “ừ/xa/mình đã xa rồi” nghe mạnh mẽ, táo bạo nhưng ngắt theo kiểu này thì âm điệu câu thơ bị gãy, độ thiết tha mềm mại bị lung lay. “Ừ quên em cũng như người đã quên” đây là câu thơ mang đầy đặn tính ỡm ờ làm cho người đọc hoài nghi. Quên ư? Chưa hẳn là quên đâu. Nhưng còn nếu nói nhớ thì có cái gì đó xót xa, tê tê bủa vây trên bờ môi. Chữ “cũng như” thật đắt trong tình huống này. Nhịp ngắt của câu thơ “ừ quên/em cũng như người/ đã quên” thì rõ ràng có sự trách hờn thoáng hiện lên. Trần Mai Hường là thế, không muốn chính mình chỉ rõ ra, chị nói mình “thua” thì thật ra chị “chưa thua” thậm chí còn “thắng” nữa là đằng khác. Thì ở đây cũng vậy, chẳng ai thấy chị “quên” dù ít nhiều chị có bảo rằng “đã quên”. Ẩn chứa trong câu thơ một nỗi niềm lạnh lẽo, hời hợt đến nao lòng “em cũng như người đã quên”, người ta đã quên rồi thì mình cũng dặn lòng cố mà quên đi chứ thật ra mình có muốn quên bao giờ.

Hai câu kết thúc bài thơ lại đem đến một hình ảnh khác về cái nhớ cái quên

“chiều nay nỗi nhớ dậy men

uống ngày xưa đến say mèm người ơi.”

Đến lúc này thì mọi việc đã dỡ lẽ ra, quên ư? không bao giờ. Giống như cái cách của chị mà thường biểu lộ. Rượu hay bất kỳ thứ gì đi chăng nữa thì ủ lâu ngày mới lên men, khi lên men thì đã đậm đà, đủ độ mặn mòi để chinh phục giác quan con người.

Hóa ra nỗi nhớ đã âm thầm dai dẳng theo người, nó âm ỉ trong tâm hồn để bây giờ nó trỗi lên như một điều tất yếu. Chữ “dậy men” đã lấn át đi những con chữ còn lại trong câu thơ này. Quả thật, một phép so sánh độc đáo “nỗi nhớ” khi đến tột cùng thì y như rượu “dậy men”. Ý niệm nhớ - quên được Trần Mai Hường khai thác một cách sâu sắc. Và khép lại bài thơ là hành động “uống ngày xưa đến say mèm người ơi”, một lần nữa cho thấy chẳng những khả năng diễn đạt cảm xúc rất tinh tế mà kỹ thuật chọn lọc ngôn từ của chị cũng cực kỳ sắc sảo.

Nhịp lục bát đã thay đổi “uống ngày xưa/đến say mèm/người ơi” tạo nên một dấu ấn đậm nét trong lục bát Trần Mai Hường. Uống lấy ngày xưa, hình ảnh thật đầy ấn tượng, gom cả không gian, thời gian mà trói lại rồi trút cạn. Quá khứ đâu, dĩ vãng đâu, kỷ niệm một thời bên nhau đâu, tất cả hãy tan vào nhau để cạn một lần rồi quên. Nhưng khổ nỗi có quên được đâu! Người đời là cho rằng kẻ say sẽ chẳng nhớ được điều gì? Sai lầm. Họ nhớ kỹ hơn rất nhiều những gì họ cố giấu che đi ở ngày thường. Thì đây, nhà thơ Trần Mai Hường đã đem lại cho ta cái hình ảnh ấy. Uống “đến say mèm”, khi say mèm là khi đó nỗi nhớ đã thống trị trên ngai vàng cảm xúc. Ai trách người say nói năng, hành động bao giờ. Khi say mèm thì con người có thể thốt lên rằng tôi nhớ lắm, tôi nhớ quá mà chẳng sợ mình còn bị ràng buộc điều chi. Chi tiết “say mèm” là chi tiết trở về với cảm xúc thật, cảm xúc tầm thường vốn có của con người. Cái hay nằm ở chỗ ấy.

Chỉ có bốn câu nhưng “Ngỡ” đã đem đến chúng ta đậm đặc nỗi niềm nhớ - quên. Bây giờ xét đến “ngỡ”. Lạ quá, sao là ngỡ? Ý nghĩa gì nếu không phải là “ngỡ” quên mà lại nhớ. Thế đấy, văn chương có cái hấp dẫn, thú vị mà ta càng đi tìm thì ta càng lại thấy mình càng nhỏ bé, hạn hẹp. Biết đâu, có một độc giả nào khác có cách hiểu khác so với tôi thậm chí là sai lệch hẳn với những góc nhìn của tôi nhưng không sao, văn chương mà. Mỗi người có một cách cảm nhận riêng về thơ, đâu có thể buộc họ phải khư khư hiểu theo cách của mình. Trước khi kết thúc, tôi muốn nói rằng, văn chương đã có một Trần Mai Hường, Trần Mai Hường đã có một Ngược đêm và Ngược đêm đã có một Ngỡ, thế thôi.

Phan Duy

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm